1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản là bệnh lý mạn tính đường hô hấp phổ biến nhất với
các biểu hiện đặc trưng là thở khò khè, khó thở, nặng ngực và ho xuất hiện
thành từng đợt, tái phát nhiều lần trong năm và có thể gây tử vong. Bệnh phổ
biến ở mọi lứa tuổi, cả trẻ em và người lớn. Theo ước tính, hiện nay thế giới
đang có khoảng 300 triệu người bệnh hen, tỉ lệ mắc bệnh vẫn đang phát triển
theo hướng tăng dần, dự kiến với tình trạng đô thị hóa tăng từ 45% lên 59%
vào năm 2025 thì thế giới sẽ có thêm 100 triệu người bệnh nữa [60].
Tỉ lệ tử vong do hen cũng có chiều hướng gia tăng, theo Chương
trình khởi động toàn cầu về phòng chống hen (GINA) hiện nay cứ 250 người
tử vong thì có 1 tử vong do hen, số năm sống khuyết tật bị mất đi do hen cũng
có xu hướng cao hơn trước, ước tính chiếm 1% trên tổng số, điều này phản
ánh tình trạng tăng tỉ lệ mắc hen và hen nặng trong cộng đồng dân cư [60].
Trong nhiều thập kỉ qua, những thành tựu khoa học đã giúp chúng ta
hiểu biết hơn về cơ chế bệnh sinh của bệnh hen và tìm ra các biện pháp chống
lại căn bệnh này một cách hiệu quả. Gần đây, chúng ta hiểu rằng hen là một
bệnh lí đa dạng, đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính đường thở [61], là hậu
quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố chủ quan của người bệnh với các
yếu tố môi trường bên ngoài. Mặc dù vẫn chưa có một loại thuốc hay phương
pháp nào có thể điều trị dứt điểm bệnh hen nhưng chúng ta hoàn toàn có thể
kiểm soát bệnh hen và duy trì kiểm soát trong một thời gian dài. Muốn như
vậy cần phải xây dựng chiến lược phòng chống hen dựa trên các số liệu điều
tra từ các nghiên cứu dịch tễ học [60] nhưng các nghiên cứu trong lĩnh vực
này lại gặp rất nhiều khó khăn do còn thiếu tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán
bệnh [95].
Năm 1993 Nghiên cứu quốc tế về hen và các bệnh dị ứng ở trẻ em
viết tắt là ISAAC được thành lập và thống nhất phương pháp điều tra bệnh
3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Dịch tễ học bệnh hen phế quản
Do vẫn không có tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác định ca bệnh
hen nên các nghiên cứu dịch tễ học về bệnh hen gặp rất nhiều khó khăn. Đây
cũng chính là nguyên nhân gây ra việc đã từng có rất nhiều các nghiên cứu
dịch tễ học xác định tỉ lệ mắc bệnh hen được tiến hành với các định nghĩa ca
bệnh khác nhau [94]. Theo Pakkenan hiện có 3 phương pháp xác định ca bệnh
hen được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu trên thế giới đó là [95]:
+ Hỏi trực tiếp để người bệnh tự thông báo đã bị mắc bệnh hen.
+ Hỏi về triệu chứng thường gặp nhất của bệnh hen là thở khò khè.
+ Đánh giá tăng đáp ứng đường thở bằng test gắng sức.
Những ưu nhược điểm của từng phương pháp xác định ca bệnh hen
trong các nghiên cứu dịch tễ học được Pakkenan tổng kết lại như sau [95]:
- Đối với các nghiên cứu dịch tễ học xác định ca bệnh bằng cách phỏng vấn
bằng bộ câu hỏi để người bệnh tự thông báo đã được bác sĩ chẩn đoán mắc
hen hoặc có mắc triệu chứng khò khè là cách phổ biến nhất bởi ưu điểm của
phương pháp này là đơn giản, dễ thực hiện, có thể triển khai với cỡ mẫu lớn
(nên giảm được sai số ngẫu nhiên) và chi phí thấp. Tuy nhiên phương pháp
nghiên cứu bằng cách phỏng vấn sẽ gặp phải một số vấn đề đó là:
+ Ở những cộng đồng dân cư có trình độ học vấn thấp thì bệnh hen
còn ít được biết đến, từ “wheezing” có thể không được dịch sát nghĩa.
+ Triệu chứng khò khè đặc hiệu cho bệnh hen nhưng nếu biểu hiện
này nhẹ và trùng với thời điểm người bệnh có nhiễm khuẩn thì các thày thuốc
cũng sẽ không chẩn đoán hen nhất là ở trẻ em hay ở những cộng đồng mà
mức cảnh báo về bệnh hen chưa cao.
4
1.1.1 Dịch tễ học bệnh hen phế quản trên thế giới
1.1.1.1 Tỉ lệ mắc bệnh
Trong các nghiên cứu dịch tễ học tỉ lệ hiện mắc của bệnh hen phế
quản được xác định là người bệnh đã từng mắc hen ở bất cứ thời điểm nào
trong cuộc đời [94;95].
- Tỉ lệ mắc hen ở trẻ em
ISAAC là tổ chức đầu tiên trên thế giới thống nhất được cách nghiên
cứu dịch tễ học bệnh hen ở trẻ em trong cộng đồng. Trong các nghiên cứu
dịch tễ học theo ISAAC, các khái niệm được định nghĩa như sau [30]:
+ Trẻ đang khò khè nếu có biểu hiện khò khè trong 12 tháng qua.
+ Trẻ bị khò khè nặng nếu có một trong các biểu hiện: trong 12 tháng qua có
khò khè từ 4 lần trở lên hoặc khò khè phải thức giấc vào ban đêm từ 1
lần/tuần trở lên hoặc khò khè khiến trẻ phải nói ngắt quãng từng từ một.
+ Trẻ mắc hen nếu đã từng được chẩn đoán mắc hen vào bất cứ thời điểm
nào trong cuộc đời.
+ Trẻ đang bị hen nếu trẻ đã từng được chẩn đoán hen ở bất cứ thời điểm nào
trong cuộc đời và đang có khò khè.
Theo ISAAC các nghiên cứu có thể sử dụng 2 công cụ để tiến hành
điều tra đó là bảng câu hỏi in giấy và bảng câu hỏi video. Với nhóm trẻ 13-14
tuổi, sử dụng bảng câu hỏi in giấy phỏng vấn trực tiếp trẻ trước sau đó nên
phỏng vấn tiếp bằng bảng câu hỏi video, còn đối với trẻ 6-7 tuổi sử dụng bảng
câu hỏi in giấy để phỏng vấn cha mẹ [30].
Các nghiên cứu về tỉ lệ mắc hen và khè khò ở trẻ em theo ISAAC
được tiến hành qua 3 giai đoạn: giai đoạn I phỏng vấn xác định tỉ lệ mắc hen
trong một quần thể; giai đoạn II phỏng vấn các yếu tố nguyên nhân; giai đoạn
III phỏng vấn để xác định xu hướng mắc hen, lặp lại nghiên cứu giống giai
6
Hình 1.1 Bản đồ tỉ lệ đang khò khè ở trẻ 13-14 tuổi
Các nghiên cứu ở nhóm trẻ 6-7 tuổi ít hơn so với nhóm trẻ 13-14
tuổi. Có 91 địa điểm của 38 quốc gia với tổng số 257.800 cha mẹ tham gia
điều tra. Kết quả, tỉ lệ trẻ đang bị khò khè dao động từ 2,1-32,2%, tỉ lệ trẻ
được chẩn đoán hen dao động từ 1,4%-27,2%. Sự khác biệt về tỉ lệ trẻ đang
khò khè và hen giữa các quốc gia lớn hơn giữa các vùng trong một quốc gia.
Nhóm tuổi này tỉ lệ trẻ được chẩn đoán hen cũng thấp hơn tỉ lệ đang bị khò
khè [29].
8
Hình 1.2 Bản đồ tỉ lệ đang khò khè ở trẻ 6-7 tuổi
- Tỉ lệ mắc hen ở ngƣời lớn
Năm 2002-2003, theo Sembajwe trong nhóm người có độ tuổi từ 18-
99 tuổi ở 64 quốc gia thì tỉ lệ được bác sĩ chẩn đoán mắc hen thấp nhất là ở
Việt Nam (1,8%) và cao nhất là ở Úc (32,8%) [102].
TCYTTG cũng đã tổ chức điều tra về bệnh hen tại 70 quốc gia gồm
178.215 người tuổi từ 18-45 bằng cách phỏng vấn. Các khái niệm sử dụng
trong cuộc điều tra này được định nghĩa như sau [109]:
+ Mắc hen: nếu người bệnh đã từng được bác sĩ chẩn đoán hen.
+ Mắc bệnh hen lâm sàng: đã được bác sĩ chẩn đoán hen và/hoặc đang phải
dùng thuốc chữa hen trong 2 tuần qua.
+ Có triệu chứng bệnh hen: được bác sĩ chẩn đoán hen và/ hoặc đang bị khò
khè.
9
nghiên cứu đã chỉ ra rằng nguy cơ mắc bệnh hen ở trẻ tăng gấp 1,76 – 2,09
lần nếu trẻ có tiếp xúc với nấm mốc [66], tăng 2,43 lần ở những người sử
dụng chất liệu nhựa để dán lên tường nhà [69], tăng cao gấp nhiều lần ở
những trẻ có tiếp xúc với gián so với những trẻ khác [81]. Nguy cơ mắc hen
cũng cao gấp 3,5 lần nếu trẻ sinh ra từ những bà mẹ có hút thuốc lá khi mang
thai vào 3 tháng cuối [40].
+ Nghề nghiệp: những nghề như nghề nhựa, cao su, gỗ, giấy, dệt, phòng thí
nghiệm, kho hay lau dọn cũng làm tăng nguy cơ mắc hen cho các công nhân
và những người làm tại đây [70].
- Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc bệnh hen
+ Giới tính: nhiều nghiên cứu về hen ở trẻ em đều ghi nhận tỉ lệ mắc khò khè
và hen ở nam cao hơn nữ [78;97] [98].
+ Cân nặng: có khoảng 2/3 người Mĩ trưởng thành bị thừa cân béo phì, trong
số này khoảng 12% người bị mắc hen trong khi với những người có cân nặng
bình thường tỉ lệ mắc hen chỉ là 6%. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy sau
khoảng thời gian 1 năm theo dõi những người có chỉ số BMI ≥25 có nguy cơ
mắc bệnh hen cao gấp 1,51 lần so với những người có cân nặng bình thường
[35;38].
+ Cơ địa dị ứng: trẻ mà cha mẹ có cơ địa dị ứng có nguy cơ mắc hen cao gấp
3,29 lần so với những trẻ khác [66].
1.1.1.3 Xu hƣớng mắc hen
Có sự khác nhau về xu hướng mắc hen ở trẻ em giữa các khu vực
trên trên thế giới. Tại Mĩ theo các số liệu về tỉ lệ mắc bệnh hen của Trung tâm
kiểm soát và phòng chống bệnh thì năm 2001 tỉ lệ mắc hen là 7,3% đã tăng
lên 8,4% vào năm 2010, tương đương 25,7 triệu người Mĩ mắc bệnh hen
trong đó có khoảng 7 triệu trẻ em [26]. Xu hướng tăng tỉ lệ mắc hen tiếp tục
được ghi nhận ở Mĩ vào những năm sau đó, năm 2010 khoảng 1/14 người dân
11
12 + Châu Mĩ: một nghiên cứu ở Canada cho thấy tỉ lệ mới mắc hen ở 2 khu vực
Ontario và Simcoe Muskoka là 6,96 và 5,6/1000/năm [59;103]. Theo số liệu
thống kê trên toàn nước Mĩ thì tỉ lệ mới mắc hen là 3,8/1000 người/năm còn
tỉ lệ hen tái phát là 4,6/1000 người/năm, mùa thu và đông là thời điểm có tỉ lệ
mới mắc hen cao nhất trong năm [101].
- Tỉ lệ mới mắc hen qua các nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn:
+ Sử dụng mẫu phiếu phỏng vấn của ISAAC để xác định ca bệnh hen, nghiên
cứu được tiến hành ở Thụy Điển cho thấy tỉ mới mắc hen của thiếu niên khu
vực bắc Thụy Điển là 0,6-1,3/1000 người/năm [63]. Theo Broms các yếu tố
nguy cơ phát triển bệnh hen ở trẻ em lứa tuổi tiền học đường ở nước này là dị
ứng thức ăn, viêm mũi dị ứng, biểu hiện khò khè, đã từng bị hen, cha mẹ bị
viêm mũi dị ứng, cha mẹ bị hen và eczema [37].
+ Nghiên cứu tại Ý và Phần Lan thấy nguy cơ mắc hen giảm khi tuổi cao hơn
[75].
1.1.1.5 Tỉ lệ tử vong do hen
Trong khoảng thời gian từ 1980 – 1993, tỉ lệ tử vong ở Mĩ là 1,7-
3,7/100.000 dân, nhóm trẻ người da đen có tỉ lệ tử vong cao hơn da trắng. Tử
vong ngoại viện do hen ở Mĩ đã tăng 23,3% năm 1990 lên 29,4% năm 2001
[84]. Năm 2000 ở Mĩ tử vong trong số bệnh nhân nhập viện vì hen là 0,5% và
có tới 1/3 các ca tử vong ở bệnh nhân hen là các trường hợp nhập viện vì hen
nặng [30]. Năm 2005 tử vong do hen ở trẻ em Mĩ là 2,3/1 triệu dân [87]. Tại
Thái Lan tỉ lệ tử vong do hen cũng tăng so với trước [48]. Tuy nhiên gần đây
cũng đã xuất hiện xu hướng giảm tỉ lệ tử vong do hen ở một số khu vực trên
thế giới, điều này được cho là nhờ tăng sử dụng corticoides như Thụy sĩ [34],
Bồ Đào Nha [86], Tây ban Nha [62], Nhật Bản [68].
lệ mắc hen cao nhất là Nghệ An 7,65% và thấp nhất là Bình dương 1,51%,
14 như vậy có sự khác biệt về tỉ lệ mắc hen giữa các vùng khác nhau của Việt
Nam [9].
Hiện chưa có các nghiên cứu về giai đoạn III của ISAAC và xác định
tỉ lệ mới mắc hen được công bố do vậy chúng ta chưa có thông tin về xu
hướng mắc bệnh hen ở Việt Nam.
Về tỉ lệ tử vong do hen, theo kết quả điều tra năm 2010 thì tỉ lệ tử
vong do hen giai đoạn 2005-2009 ở Việt Nam là 3,78 trường hợp/100.000 dân
và tại tất cả các tỉnh thành phố ở nước ta tỉ lệ tử vong do hen đang có xu
hướng tăng dần [12].
Với những đặc điểm dịch tễ học của bệnh hen như chúng ta biết có
thể thấy bệnh hen thực sự là gánh nặng kinh tế của mỗi quốc gia. Tại Mĩ hàng
năm chi phí trực tiếp để điều trị bệnh hen là khoảng 50 tỉ đô la và chi phí gián
tiếp do phải nghỉ học và nghỉ làm vì hen là khoảng 56 tỉ đô la [43]. Ở Việt
Nam, những số liệu này trên phạm vi cả nước cũng chưa được công bố, tuy
nhiên với kết quả thu được về tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do hen phế quản mà
chúng ta mới có vào năm 2010 có thể phỏng đoán chi phí cho điều trị bệnh
hen ở nước ta không nhỏ.
1.2. Bệnh hen phế quản và triệu chứng khò khè
1.2.1 Bệnh hen phế quản
1.2.1.1 Định nghĩa hen theo GINA: Hen là một bệnh viêm mạn tính đưởng
thở, với sự tham gia của nhiều loại tế bào và thành phần tế bào, làm tăng phản
ứng đường thở, xuất hiện các cơn ho, khò khè, nặng ngực và khó thở tái phát,
nặng hơn vào ban đêm, biến đổi theo đợt, có thể hồi phục tự nhiên hoặc do
dùng thuốc [60].
1.2.1.2 Cơ chế bệnh sinh của hen: có 3 quá trình bệnh lý đáng chú ý nhất
bào nội mô, các bạch cầu đơn nhân, tương bào. Các tế bào viêm giải phóng ra
nhiều thành phần tế bào, trong đó đáng chú ý là các cytokines của đại thực
bào và tế bào lympho B [60].
VIÊM
TĂNG ĐÁP ỨNG
PHẾ QUẢN
CO THẮT
PHẾ QUẢN
TRIỆU CHỨNG
BỆNH HEN
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ TỪ MÔI TRƢỜNG
16 1.2.1.3 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây hen
Trong số các yếu tố nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây hen thì một
số là yếu tố liên quan đến nguyên nhân gây bệnh và một số là yếu tố làm bùng
phát cơn hen, tuy nhiên cũng có những yếu tố lại đóng cả 2 vai trò trên. Do
vậy, có thể chia các yếu tố nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây hen thành
hai loại là các yếu tố chủ quan và các yếu tố môi trường… [60].
- Các yếu tố chủ quan
+ Yếu tố gen: Cho đến hiện nay nhiều nghiên cứu chỉ ra có nhiều gen cùng
tham gia vào cơ chế bệnh sinh của hen, mặc dù hiện nay vẫn chưa xác định
được các gen đặc hiệu gây hen tuy nhiên khi nghiên cứu về gia đình của
những người mắc bệnh hen một số tác giả nhận thấy có đến 50-60% các
trường hợp bị hen có liên quan đến yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ bị hen
thì nguy cơ mắc hen ở con là 25%, nếu cả bố và mẹ bị hen thì nguy cơ này
tăng gấp 2 lần.
quản [3].
Phấn hoa: Nhiều loại phấn hoa có khả năng gây hen, đặc biệt hay
gặp ở châu Âu, phấn hoa là loại dị nguyên có kích thước nhỏ nên có khả năng
lọt sâu vào tận phế nang, các loại phấn hoa là nguyên nhân gây các bệnh dị
ứng theo mùa, đôi khi dẫn đến nhầm bệnh hen là bệnh lý cảm cúm… loại này
hay gặp ở các nước Châu Âu .
Nấm mốc: Nấm mốc tồn tại lâu trong không khí theo mùa, nhiệt độ
và các vùng khác nhau có khả năng gây viêm nhiễm đường hô hấp.
+ Nhiễm khuẩn đường hô hấp: Các loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng… gây
viêm nhiễm đường hô hấp, những ổ viêm nhiễm này là nguyên nhân dẫn đến
hen phế quản, đây cũng là nguyên nhân phổ biến gây hen tại Việt Nam. Sự
tương tác giữa yếu tố cơ địa dị ứng của người bệnh với tình trạng nhiễm
trùng hô hấp là hết sức phức tạp. Tình trạng cơ địa dị ứng có ảnh hưởng đến
sự tăng đáp ứng đường thở với nhiễm trùng và ngược lại tình trạng nhiễm
18 trùng có thể ảnh hưởng đến sự gia tăng tình trạng dị ứng của cơ thể, nhất là
khi cơ thể bị phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ.
+ Ô nhiễm môi trường: Các chất gây ô nhiễm không khí như dioxit, nitrogen,
oxide, SO
2
, NO
2
… khi xâm nhập vào đường hô hấp gây kích ứng niêm mạc
phế quản làm tăng phản ứng phế quản gây nên phản ứng dị ứng. Ô nhiễm môi
trường còn có thể do bụi, khói trong nhà gây ra như khói than, mùi bếp ga,
khói thuốc lá, khói hương, các loại hóa chất được sử dụng trang trí nội thất.
+ Khói thuốc lá: Là tác nhân gây bệnh phổi tác nghẽn mạn tính và hen phế
+ Trẻ có tiếp xúc với các yếu tố làm khởi phát cơn hen không?
+ Có tiền sử dị ứng hoặc bố mẹ bị dị ứng không?
- Bước 2: Khám lâm sàng toàn diện.
+ Phát hiện các dấu hiệu: ho, khò khè, khó thở.
+ Các dấu hiệu thực thể: nhịp thở nhanh, rút lõm lồng ngực, ran rít, ran ngáy,
lồng ngực hình thùng.
- Bước 3: đánh giá khách quan. Đo chức năng hô hấp.
+ FEV1, FVC, tỉ số FEV1/FVC: FEV1 giảm ≥ 20% , tỉ số FEV1/FVC giảm
còn <80% so với giá trị lí thuyết hoặc FEV1 tăng ≥ 12% sau khi hít thuốc
giãn phế quản là có hội chứng tắc nghẽn.
+ PEF tăng 60l/phút hoặc tăng ≥ 20% sau khi hít thuốc giãn phế quản hoặc
thay đổi hàng ngày ≥ 20% hoặc thay đổi ≥ 10% nếu đo sáng chiều chẩn đoán
là bị hen.
Nếu không thực hiện đo được PEF và chức năng hô hấp cho trẻ có
thể dựa vào dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm sau:
. Trẻ có biểu hiện khò khè >3 lần mặc dù không bị cảm cúm hoặc
viêm mũi xoang.
. Có bố hoặc mẹ hoặc bản thân mắc các bệnh dị ứng khác.
. Tăng bạch cầu ái toan trong máu, tăng IgE trong máu, test lẩy da
dương tính với các dị nguyên.
20 . Điều trị thử thuốc giãn phế quản kích thích bê ta 2 và ICS có hiệu
quả.
- Bước 4: Chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt
+ Chẩn đoán xác định hen khi có các yếu tố sau:
Lâm sàng có biểu hiện: ho, khò khè, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại
nhiều lần, xuất hiện nhiều hơn vào ban đêm hoặc khi tiếp xúc với các
phần
Chưa được kiểm
soát
1. Triệu chứng ban
ngày
Không
(hoặc ≤2lần/tuần)
> 2lần/tuần ≥ 3 đặc điểm
của hen kiểm
soát một phần
trong bất kỳ
tuần nào
2. Triệu chứng
thức giấc ban đêm
Không
Có
3. Hạn chế hoạt
động
Không
Có
4. Nhu cầu dùng
thuốc cắt cơn điều
trị
Không
(hoặc ≤2 lần/tuần)
>2lần/tuần
Bƣớc 2
Bƣớc 3
Bƣớc 4
Bƣớc 5
Giáo dục bệnh nhân
Kiểm soát môi trường
Kích thích bêta 2 tác dụng nhanh (SABA)
Các thuốc dự
phòng ngừa
cơn được
chọn
Chọn một
Chọn một
Thêm một
hoặc hơn
Thêm một
hoặc cả hai
ICS liều thấp
ICS liều thấp +
LABA
ICS liều trung
bình hoặc cao
+ LABA
corticoid uống
liều thấp nhất
antileucotrièn
ICS liều trung
bình hoặc cao
antileucotrièn
Liệu pháp
- Giảm bậc khi hen được kiểm soát
+ Nếu người bệnh đang dùng một loại corticoides liều cao hoặc trung bình
giảm liều còn 50% sau mỗi 3 tháng.
+ Nếu đang dùng một loại corticoides liều thấp có thể chuyển sang dùng 1
liều duy nhất hàng ngày.
+ Nếu đang dùng phối hợp corticoides và LABA thì giảm 50% liều
corticoides và vẫn duy trì dùng LABA sau mỗi 3 tháng.
+ Nếu đang dùng corticoides, LABA và thuốc kiểm soát hen khác thì giảm
50% liều corticoides mỗi 3 tháng nhưng vẫn dùng LABA và thuốc kiểm soát
hen khác.
+ Có thể xem xét ngừng thuốc điều trị nếu bệnh nhân duy trì kiểm soát hen
với liều thuốc kiểm soát thấp nhất và không có triệu chứng tái phát lại trong
vòng 1 năm.
- Tăng bậc điều trị
+ Khi hen mất kiểm soát dùng ngay thuốc cắt cơn tác dụng nhanh, có thể lặp
lại liều cho đến khi triệu chứng hen nặng chấm dứt. Nếu phải dùng thuốc cắt
cơn quá 2 ngày cần xem xét tăng liều thuốc kiểm soát hen.
+ Tăng liều thuốc ICS lên gấp đôi không có hiệu quả. Liều ICS tăng gấp 4
lần có tác dụng như việc sử dụng corticoides đường uống và nên được sử
dụng khoảng 7-14 ngày cho cả người lớn và trẻ em.
+ Phối hợp 2 loại thuốc budesonide và formoterol trong điều trị ngừa cơn và
cắt cơn có tác dụng duy trì kiểm soát và ngừa các đợt hen kịch phát ở trẻ hen
vừa và nặng từ 4 tuổi trở lên. Nhiều nghiên cứu chứng tỏ hiệu quả điều trị dự
24 phòng hen bằng corticoides đã làm giảm hen nặng và giảm tỉ lệ tử vong của
hen [32;34].
Mới đây, liệu pháp điều trị bằng anti-IgE áp dụng cho người bệnh hen
Câu hỏi 1: Trong 4 tuần qua, bao nhiêu ngày bệnh hen làm cho bạn phải nghỉ học hay nghỉ tại
nhà ?
Tất cả các
ngày
1
Hầu hết các
ngày 2
Một số
ngày
3
Chỉ 1
ngày
4
Không có
ngày nào
5
Câu hỏi 2: Trong 4 tuần qua bạn có thường gặp cơn khó thở không?
> 1 lần/
ngày
1
=1 lần/
ngày
lần/ 4tuần
4
Không lần
nào
5
Câu hỏi 4: Trong 4 tuần qua bạn sử dụng thuốc cắt cơn dạng xịt hay khí dung không?
≥3 lần/ngày
1
1 - 2
lần/ngày
2
2 - 3
lần/tuần
3
≤1
lần/tuần
4
Không có
lần nào
5
Câu hỏi 5: Bạn đánh giá bệnh hen của bạn được kiểm soát như thế nào trong 4 tuần qua.
Không
kiểm soát