QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ CÁC NƯỚC LỚN SAU CHIẾN TRANH LẠNH (Tiểu luận Môn Quan hệ các nước lớn sau chiến tranh lạnh) - Pdf 24

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ CÁC NƯỚC LỚN
SAU CHIẾN TRANH LẠNH
Môn: Quan hệ các nước lớn sau chiến tranh lạnh
Nhóm lớp CT38
1. Nguyễn Hiền Mi (nhóm trưởng)_ CT38A
2. Nguyễn Thu Hà (0010)
3. Lê Kim Chi
4. Nguyễn Thu Hiền
5. Phạm Minh Tuấn
6. Nguyễn Đăng Duy
7. Nguyễn Đức Tâm
8. Hồ Sử Quỳnh Thy
9. Phan Phượng Anh_CT38B
10.Phí Ngọc Dung
A, SỨC MẠNH CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
Để đánh giá sức mạnh của một quốc gia là một nước lớn có tầm ảnh hưởng lớn
không chỉ trong khu vực mà còn cả phạm vi toàn thế giới, có 3 đặc điểm : Sức
mạnh, ảnh hưởng, tư duy.
I. SỨC MẠNH CỦA MỸ
1. Sức mạnh cứng
1.1 Về quân sự
Sức mạnh quân sự luôn là yếu tố cơ bản được tính đến trong chính sách quan hệ
quốc tế và chính trị quốc tế. Sức mạnh quân sự là yếu tố then chốt trong chiến tranh và là
yếu tố có tính chất răn đe khi không có chiến tranh. Sức mạnh quân sự thể hiện ở các
mặt: số lượng và chất lượng quân đội; năng lực chi huy; trình độ lý luận quân sự và
trang thiết bị, khí tài quân sự đặc biệt là những vũ khí có sức hủy diệt lớn. Trước
thời kỳ chiến tranh lạnh, sức mạnh về quân sự là sức mạnh quốc gia chủ yếu của Mỹ.
Về sức mạnh quân sự Mỹ hiện là siêu cường số 1 trên Thế giới. Tổng thống giữ
chức vụ tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang quốc gia và bổ nhiệm các lãnh đạo của quân
đội, bộ trưởng quốc phòng và Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ . Bộ Quốc phòng

Nước này thường có mức độ tăng trưởng kinh tế từ mức trung bình tới cao.Trong
20 năm qua, mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ trung bình chỉ hơn 3% mỗi năm.Hoa Kỳ là
nước nhập cảng hàng hóa lớn nhất và là nước xuất cảng đứng hạng ba.Canada,
Trung Hoa, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất của Hoa Kỳ. Hàng xuất
cảng hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí hàng đầu về nhập cảng.
Hoa Kỳ là nơi đóng trụ sở của nhiều tập đoàn quốc tế và các định chế tài
chính.Các công ty Mỹ giữ vai trò hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như vật liệu mới, điện
tử và viễn thông, công nghệ thông tin, vũ trụ, năng lượng, kỹ thuật nano, công nghệ sinh
học,dược phẩm, tin học sinh học (bioinformatics), cơ khí hóa chất (chemical engineering)
và phần mềm.Nước này là nhà sản xuất hàng đầu về hàng hóa tiêu dùng và sản phẩm
nông nghiệp, dù họ phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu.
Hoa Kỳ vẫn là một siêu cườngcông nghiệp với các sản phẩm hóa học dẫn đầu
ngành sản xuất.Hoa Kỳ là nước sản xuất dầu lớn hạng ba trên thế giới và nước tiêu thụ
dầu đứng hạng nhất.Đây là nước sản xuất năng lượng điện và hạt nhân số một của thế
giới cũng như khí đốt thiên nhiên hóa lỏng, nhôm, sulfur, phosphat, và muối.Nông nghiệp
chỉ chiếm 1% GDP nhưng chiếm 60% sản xuất nông nghiệp của thế giới. Hoa Kỳ xếp
hạng ba trong danh sách chỉ số thuận lợi làm ăn của Ngân hàng Thế giới Sở Giao dịch
Chứng khoán New York lớn nhất thế giới theo giá trị đô la.Hoa Kỳ có ảnh hưởng
mang tính quyết định với các định chế tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân
hàng thế giới; đồng dollar Mỹ là đồng tiền tệ dự trữ và trao đổi quan trọng nhất thế
giới.
1.3 Về khoa học – kĩ thuật:
Mĩ cũng là cường quốc số 1 TG về vấn đề này. Ngân sách dành cho Nghiên cứu và Phát
triển của Mĩ bằng 7 nước giàu nhất sau Mỹ cộng lại, chiến 40,6% tổng chi phí toàn cầu.
Bằng phát minh khoa học của Mỹ chiếm hơn 60% toàn bộ số bằng phát minh khoa học
trên thế giới.Và đi đầu 20 trong 29 ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn trên thế giới.
2/3 số người đạt giải Nobel về kinh tế và khoa học là công dân Mỹ.
2.
Sức mạnh mềm:
Các nguồn lực tạo ra sức mạnh mềm của một quốc gia bao gồm văn hóa (ở đó nó lôi

lượng sinh viên theo học, nhưng hệ thống GD ĐH vẫn không thể phát triển bằng.
Tiểu kết: Đánh giá toàn diện, Mỹ là siêu cường mạnh nhất hiện nay. Chính nhờ có
sức mạnh đó mà Mỹ đã là nước đi đầu trong việc thúc đẩy nhiều tiến trình lịch sử,
tạo nên những cơ chế cho sự phát triển của toàn cầu hóa.Bởi vì sức mạnh của nước
Mỹ sẽ cho phép “nước Mỹ trở thành động lực, người hưởng lợi và người làm lợi
cho quá trình toàn cầu hóa”. Trong đó, sức mạnh kinh tế của Mỹ đang là chỗ dựa
cho quyền lực chính trị Mỹ trong việc chi phối quá trình toàn cầu hóa và việc giải
quyết các vấn đề toàn cầu
3. Sức mạnh thông minh (quyền lực thông minh)
Quyền lực thông minh hay sức mạnh thông minh là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế
mà triết gia người Mỹ Joseph Nye định nghĩa như sau "khả năng kết hợp quyền lực cứng
và quyền lực mềm vào một chiến lược mang lại thắng lợi." Theo Chester A. Crocker, Fen
Osler Hampson, và Pamela R. Aall, quyền lực thông minh "có liên quan tới chiến lược sử
dụng ngoại giao, thuyết phục, xây dựng năng lực và điều khiển các sức mạnh và sự ảnh
hưởng trong những con đường đạt hiệu quả cao và có tính chính đáng cả về chính trị lẫn
xã hội" – cốt yếu là tận dụng các các sức mạnh quân sự và toàn bộ các kiểu ngoại giao.
Sức mạnh thông minh là sự kết hợp của sức mạnh cứng và sức mạnh mềm.Sức mạnh
mềm là khả năng giành được những kết quả mong muốn, bằng sự lôi cuốn hơn là ép buộc
hay phải đánh đổi.
Thuật ngữ này được đưa ra sau cuộc tấn công của Mỹ vào Iraq năm 2003 như là một
phản ứng lại chính sách đối ngoại ngày càng mang xu hướng tân bảo thủ của tổng thống
Mỹ khi này là George W. Bush. Được coi là một phiên bản thứ hai của chính sách của
Bush nhưng mang tính tự do hơn, các đề xuất của nó coi trọng các tổ chức quốc
tế có vài trò lớn hơn, chống lại chủ nghĩa đơn phương một mình, đối với nước
Mỹ.Quyền lực thông minh còn được xem là một lực chọn khác của quyền lực mềm, vì
lạm dụng quyền lực mềm có thể khiến Đảng Dân chủ Hoa Kỳ ngày càng xem là yếu
đuối.
Ngoại trưởng Hillary Clinton còn tuyên bố thêm: nước này không chỉ sử dụng sức
mạnh quân sự mà sẽ theo đuổi cách tiếp cận “sức mạnh thông minh” bằng việc kết
hợp sử dụng các loại vũ khí cứng với “sức mạnh mềm” từ sức thuyết phục và hấp

sóng chủ yếu là lập trình Mỹ trên kênh truyền hình của họ. Năm 2006, một cuộc khảo sát
của 20 quốc gia Radio Times tìm thấy bảy show diễn Mỹ trong mười theo dõi nhiều
nhất: CSI: Miami , Lost , Desperate Housewives, The Simpsons , CSI: Crime Scene
Investigation , không có một Trace và cuộc phiêu lưu của Jimmy Neutron: Boy Genius.
Phim Mỹ cũng rất phổ biến trên thế giới, thường thống trị các rạp chiếu phim.
Điều chỉnh lạm phát, bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại là Cuốn theo chiều
gió . Thường là một phần của đàm phán trong hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và
các nước khác liên quan đến hạn ngạch truyền hình . Một trong những trường hợp
là Mexico , đã bãi bỏ hạn ngạch truyền hình sau khi thành lập các Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với Mỹ. Gần đây Hàn Quốc đã đồng ý giảm hạn ngạch dưới áp
lực của Hoa Kỳ như là một phần của một thỏa thuận thương mại tự do.
Nhiều nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng rộng lớn chẳng hạn như Elvis Presley và Michael
Jackson được công nhận trên toàn thế giới và đã bán được hơn 500 triệu album. Album
của Michael JacksonThriller , 100 triệu, là album bán chạy nhất mọi thời đại.
2.
Mỹ kinh doanh và thương hiệu
Trong mười thương hiệu toàn cầu hàng đầu, bảy trụ sở tại Hoa Kỳ. Coca-cola
nắm giữ vị trí hàng đầu, thường được xem như một biểu tượng của Mỹ hóa. Thức ăn
nhanh cũng thường được xem như là một biểu tượng sự thống trị thị trường Mỹ. Các
công ty như Starbucks, McDonald, Burger King, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken và
số những thương hiệu khác có nhiều cửa hàng trên toàn thế giới.
Nhiều người trong số các công ty máy tính lớn nhất thế giới cũng có cơ sở ở Mỹ,
chẳng hạn như Microsoft , Apple ,Intel , Dell và IBM , và hầu hết các phần mềm mua
trên toàn thế giới được tạo ra bởi các công ty Mỹ có trụ sở. => Hoa Kỳ chiếm một vị trí
rất mạnh mẽ trong lĩnh vực phần mềm.
Các thương hiệu thời trang của Mỹ được ưa chuộc trên toàn thế giới như Nike Collection,
Hollister, Banana Republic, Abercrombie and Fitch, Levi Strauss & Co. , The North
Face, Oxxford Clothes …
3. Tổ chức quốc tế
- Mỹ cùng với đồng minh Anh, Pháp giữ 3 trong 5 ghế Thành viên thường trực Liên Hợp

hiệp quốc (với quyền phủ quyết). Lập trường của họ về các vấn đề quốc tế thường được
các quốc gia khác ủng hộ, đặc biệt là Anh Quốc, Canada, New Zealand, Úc, Đức, Nhật
Bản, Hàn Quốc và Israel. Nước Mỹ có thể tích cực và chủ động trong việc can thiệp vào
những chủ trương nghị quyết của các tổ chức quốc tế lớn để có thể thực hiện những mục
tiêu chính trị của mình.
2. Tính áp đặt
- Mỹ muốn phổ biến toàn thế giới nhân quyền và tự do dân chủ kiểu Mỹ. Nó đã trở
thành biểu thương hiệu Mỹ - Brand America, Một khái niệm được nhiều chính trị gia và
học giả Mỹ ưa dùng . Dân Chủ và Nhân Quyền là hai chiêu bài mà nước Mỹ quảng bá
rộng rãi nhất và muốn xuất cảng chúng trên khắp thế giới, lẽ dĩ nhiên theo quan niệm về
dân chủ và nhân quyền của Mỹ. Nước Mỹ thường tự hào là một thị trấn trên một ngọn
đồi (A city on a hill) nhìn xuống tất cả các quốc gia khác ở dưới thấp, hay là một cái
đầu tầu phun khói (đen) dẫn đầu kéo cả đoàn toa thế giới đi theo quan niệm về dân chủ
và nhân quyền trên đường ray của mình. Nước Mỹ cũng tự cho mình cái quyền làm
“Quan tòa phán xét nhân quyền trên thế giới” [It presumes to be the "Judge of Human
Rights in the World"], vì thế hàng năm Mỹ thường tung ra một bản phúc trình về
tình trạng nhân quyền, trong đó có vấn đề tôn giáo, của các nước khác.Nước Mỹ nổi
tiếng trong việc áp đặt Dân chủ nhân quyền lên các nước trong đó có VN. Và họ sẵn sàng
cấm vận, ngừng giao thương, gây áp lực trên trường quốc tế đối với các nước mà Mỹ cho
rằng không có tự do dân chủ, tín ngưỡng,
=>>>> Tất cả làm nên tư duy bá quyền của Mỹ
B, NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
I.
ĐÔI NÉT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ TRƯỚC VÀ TRONG
CHIẾN TRANH LẠNH
Từ khi ra đời cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Mỹ là nước biệt lập
với thế giới, với các mối quan hệ quốc tế.Đến chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mới bắt
đầu hình thành một chiến lược để ứng phó với những đe dọa của chiến tranh, và vượt ra
khỏi chủ nghĩa biệt lập. Đến hết chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã thay thế Đế quốc
Anh với tư cách là quốc gia hàng hải, buôn bán và tài chính lớn nhất thế giới, một bá

- Mỹ vẫn phải đối đầu với những thách thức tiềm tàng đối với an ninh quốc gia:

Quan hệ với Nga và Trung Quốc được cải thiện đáng kể, tuy nhiên không thể
không tính đến những khác biệt về chính sách, bất ổn tiềm tàng mà các nước này
phải đương đầu.

Nguy cơ vũ khí giết người hàng loạt – hạt nhân, hóa học, sinh học – rơi vào tay
những nước bất trị và những kẻ khủng bố.
- Nền kinh tế cùng nhiều lĩnh vực chính sách được coi là đối nội trở nên quốc tế
hóa
- Mỹ khó có thể nêu cao những giá trị cơ bản của mình trong khi làm ngơ đối với
những vi phạm nghiêm trọng những giá trị đó xảy ra ở những nơi bên ngoài biên giới
quốc gia của Mỹ: Mỹ không thể tuyên bố ủng hộ dân chủ, tự do và công bằng khi làm
ngơ với diệt chủng, đàn áp, tra tấn …
Bối cảnh trong và ngoài nước thay đổi đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều
chỉnh chính sách đối ngoại.
2.
Nội dung chính sách đối ngoại Mỹ - Ba mục tiêu lớn nhằm đạt được và giữ vững
vị trí bá quyền
Như đã nói ở trên, sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, trong bối
cảnh quốc tế mới cực kỳ phức tạp, chiến lược “ngăn chặn Liên Xô và chủ nghĩa cộng
sản” được điều chỉnh thành chiến lược toàn cầu “cam kết và mở rộng”, với ba mục
tiêu chính:
- Phục hưng nền kinh tế Mỹ
- Duy trì, củng cố ưu thế quân sự
- Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài.
Ba mục tiêu có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau.Muốn được đảm bảoan
ninh, Mỹ phải duy trì thương mại tự do và các cơ cấu dân chủ. Trong thời kỳ phát triển
về kinh tế, Mỹlại càng cần củng cố an ninh và hướng tới tự do. Trong Lời nói đầu Chiến
lược an ninh quốc gia Mỹ 1996, Bill Clinton cũng khẳng định: “Đòn bẩy ngoại giao đặc

tăng trưởng kinh tế cao hơn, sản phẩm được tăng cao, nhiều việc làm chất lượng hơn
và một vị trí cạnh tranh kinh tế được cải thiện trên thế giới".
c.
Sự điều chỉnh qua các đời Tổng thống
Chính quyền Clinton coi trọng kinh tế hơn trong chiến lược toàn cầu của Mỹ
so với tổng thống Bush và có kế hoạch dung hòa nhất định giữa hướng nội và hướng
ngoại.
Xây dựng một nền kinh tế phát triển mạnh được như chính quyền Mỹ ngày nay coi
là cơ sở vững chắc cho chiến lược toàn cầu mới của mình.
Trong thời gian vận động tranh cử, ông Obama chủ trương tiếp tục thúc đẩy đà
phục hồi kinh tế; cam kết tạo ra thêm hàng triệu việc làm mới; tăng gấp đôi xuất khẩu
nhằm hỗ trợ việc làm; giảm một nửa lượng nhập khẩu năng lượng vào năm 2020 bằng
cách phát triển năng lượng xanh; giảm thâm hụt ngân sách; tăng thuế đối với thiểu số
những người giầu có nhất nhưng giảm thuế thu nhập cho tầng lớp trung lưu và những gia
đình có thu nhập thấp; cải cách bộ luật thuế doanh nghiệp để giảm thuế cho những công
ty đưa việc làm từ nước ngoài về Mỹ; khuyến khích tăng sản lượng hàng hóa "Made in
America".
2.2.
Duy trì, củng cố ưu thế quân sự của Mỹ trên thế giới
a.
Nội dung
Mỹ chủ trương hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quân sự để làm
công cụ răn đe chiến lược, nhằm khống chế và kiềm chế các nước đồng minh và đối thủ,
đối phó với các cuộc xung đột khu vực.
Mỹ cho rằng chiến lược dính líu và mở rộng vẫn phải dựa trên xây dựng lực lượng
vũ trang mạnh, đủ sức khống chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách
thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh lạnh.
b.
Cơ sở, mục đích
Chiến lược quốc phòng của Mỹ nêu ra những quan ngại an ninh dài hạn:

nhất và có học thuyết quân sự thích hợp để làm nhiệm vụ can thiệp quân sự, phi quân sự
“khác với chiến tranh” trong thời bình ở nước ngoài +, thúc đẩy mở rộng dân chủ và nhân
quyền theo kiểu Mỹ
Các nguyên nhân khiến Mỹ không phát huy được sức mạnh của mình:
- Sức mạnh quân sự của Mỹ tuy lớn mạnh nhưng lại được sử dụng quá phân tán và
quá tải vào nhiều những hoạt động vũ trang ở nước ngoài trong khi Mỹ vẫn không
ngăn chặn được việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và chống lại có hiệu quả
những hoạt động phá hoại, khủng bố và xâm nhập vào các mạng thong tin thương
mại, ngân hang, quân sự ngay trong long nước Mỹ
- Tinh thần độc lập tự chủ của nhân dân và các dân tộc rất cao sau chiến tranh
lạnh, họ không chấp nhận sự áp đặt của Mỹ.
- Về kinh tế và chính trị, Mỹ không còn đủ mạnh và không còn sự thống nhất nội bộ
như sau Chiến tranh TG thứ 2 để thực hiện vai trò sen đầm quốc tế của mình
2.3.
Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài
a.
Nội dung
“Thúc đẩy dân chủ” thực chất là việc Mỹ dựa vào hình thái ý thức và các tiêu
chuẩn giá trị của mình, lấy sức mạnh kinh tế, quân sự làm sức ép, vận dụng nhiều
thủ đoạn khác nhau gây ảnh hưởng và làm thay đổi cục diện chính trị của nước
khác, thiết lập chế độ dân chủ kiểu Mỹ trên toàn thế giới. Thông qua đó Mỹ muốn
thiết lập trật tự thế giới mới, thực hiện âm mưu bá quyền của mình.
b.
Mục tiêu, phương tiện thực hiện
Mục tiêu:

Đảm bảo lợi ích kinh tế: thông qua việc khống chế chặt chẽ chính phủ các nước
nhằm giành quyền kiểm soát những nguồn tài nguyên quan trọng

Ngăn chặn sự trỗi dậy của các nước/nhóm nước vốn là mối đe dọa lớn đối với


Bush (cha) phát biểu trong Thông điệp Liên bang năm 1990: “Bốn mươi năm qua,
Mỹ và các nước đồng minh luôn ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản để bảo đảm cho
dân chủ được tồn tại. Giờ đây, do một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa bắt
đầu sụp đổ, mục tiêu của chúng ta là phải bảo đảm cho dân chủ được phát triển”

B.Clinton: “Mục tiêu chủ yếu của chiến lược an ninh quốc gia trong thời đại mới
là dùng lực lượng quân sự luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước, giúp nền
kinh tế Mỹ khôi phục lại sức sống, thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài phát triển.”
(Theo Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia: Chiến lược tham gia và mở rộng,
1994)

G.W.Bush: “Thúc đẩy dân chủ trên phạm vi toàn cầu là yêu cầu cấp bách mà an
ninh quốc gia Mỹ đặt ra” (Bài phát biểu nhậm chức nhiệm kỳ hai, ngày 20/01/
2005)
Sự điều chỉnh của B. Obama:

Trước khi nhậm chức, trả lời phỏng vấn tờ Bưu điện Washington, ông B. Obama
cho biết sẽ xem xét thúc đẩy dân chủ “thông qua một thấu kính thực sự để mang
lại một cuộc sống tốt đẹp cho người dân trên thế giới”

Sau khi nhậm chức: chủ trương thực hiện chính sách mềm dẻo, đề cao “sức
mạnh thông minh”, không lấy danh nghĩa “phổ biến các giá trị dân chủ” để áp
đặt các quốc gia khác
C, Quá trình triển khai CSĐN với các nước lớn
I .Mỹ - Nhật Bản:
1.
Về An ninh- Quân sự
Với việc ký kết Tuyên bố chung ngày 17/4/1996 và việc thông qua Phương châm chỉ
đạo an ninh mới tháng 9/1997, liên minh Nhật - Mỹ đã được nâng lên một tầm cao mới

để đóng vai trò đó.
Tiếp theo hai văn bản quan trọng đã ký kết giữa hai bên Nhật - Mỹ trên đây, ngày 20/2/
2005 liên minh Nhật - Mỹ còn ký tiếp Tuyên bố chung về hợp tác an ninh trong tình
hình mới. Tuyên bố chung này là sự tiếp tục tăng cường liên minh Nhật - Mỹ để kịp thời
đối phó với 3 ngòi nổ chiến tranh tiềm tàng ở Đông Á (bán đảo Triều Tiên, hoạt động
khủng bố trong khu vực, eo biển Đài Loan), Mỹ cho rằng Nhật Bản phải trở thành căn cứ
tiền tiêu của Mỹ ở Viễn Đông, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra, đồng
thời Mỹ đưa ra ý tưởng biến các căn cứ và quân đội Mỹ đóng ở Nhật Bản thành một đầu
mối quan trọng trong cả chuỗi phòng thủ Đông Bắc Á nói riêng, Đông Á nói chung.
Từ một số sự kiện chính trị lớn đã diễn ra trên đây trong quan hệ liên minh Nhật - Mỹ từ
sau Chiến tranh lạnh đã đủ cho thấy tuy chưa phải là hoàn toàn suôn sẻ trong mọi mọi
quan hệ hợp tác cùng phát triển và cùng gìn giữ, nâng cao vị thế cường quốc của lẫn
nhau, song vẫn có thể nói rằng, quan hệ Nhật - Mỹ là quan hệ đồng minh bền chặt,
gắn bó với nhau về các lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh, được phát triển trong một
cơ chế an ninh song phương rõ ràng trên cơ sở một Hiệp ước an ninh cụ thể đã được
ký từ năm 1951. Ảnh hưởng của quan hệ chính trị - an ninh Nhật - Mỹ là rất lớn đối với
khu vực Đông Bắc Á cũng như toàn bộ khu vực Đông Á và cả Châu Á - Thái Bình
Dương. Hiện nay trong khu vực Đông Bắc Á chưa có quan hệ song phương nào khác
vượt khỏi tầm gắn bó của quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ. Từ đó cũng cho thấy, liên tục
thời gian gần đây, kiên quyết vượt qua mọi rào cản dư luận thế giới, khu vực và cả trong
nước, ngày 9/1/2007, Nhật Bản đã chính thức tuyên bố nâng cấp hệ thống bộ máy an
ninh phòng thủ của mình từ Cục Phòng vệ đã tồn tại từ hơn nửa thế kỷ nay (1954) lên Bộ
Quốc phòng. Sự kiện này được coi là một bước ngoặt rất lớn của nước Nhật trong tiến
trình phấn đấu nhanh chóng trở thành một “quốc gia bình thường”, không chỉ thế mà còn
là một cường quốc cả về kinh tế, chính trị, quân sự
2.
Về mặt Kinh tế:
Năm 1993, khi trình bày dự án về "Cộng đồng kinh tế Châu A' - Thái Bình Dương"
tại hội nghị Seatle, tổng thống Clinton nói rõ quan hệ giữa Mỹ với Nhật Bản là hạt
nhân trong chính sách của Mỹ với cộng đồng Thái Bình Dương, còn chính phủ Nhật thì

có nguy cơ dẫn đến bùng nổ cuộc khủng hoảng thị trường tiền tệ thế giới và các nước sẽ
bán tháo chứng khoán Mỹ, khiến Mỹ phải nâng cao lãi suất gây ảnh hưởng bất lợi đối với
việc phục hồi kinh tế của mình.
Tháng 4/1995, đồng Yên đạt mức tăng giá chưa từng có trong hơn 50 năm qua, tỷ giá là
84 Yên/1 USD. Do đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã vội nâng lãi suất lên 0,75% để làm
dịu bớt sự lo ngại về lạm phát và ổn định lại đồng USD. Trong khi đó, chính phủ Nhật
Bản đã phải họp khẩn cấp để bàn biện pháp đối phó với tình hình đó, vì đồng Yên lên giá
quá cao gây phương hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Nhật Bản mới bắt đầu phục hồi.
II, Mỹ - Nga
Những năm đầu thập niên 90 được coi là thời kỳ " trăng mật" của quan hệ Nga
- Mỹ. Thực ra đây là thời kỳ Nga hầu như ngả hẳn về phía Mỹ, trên thực tế phụ thuộc
Mỹ trong nhiều vấn đề chính trị quốc tế, hy vọng sớm thiết lập mối quan hệ mới về chất,
quan hệ liên minh, hợp tác chặt chẽ với Mỹ. Đối với Mỹ, nước Nga chiếm vị trí rất quan
trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Mặc dầu trong quan niệm của họ, Nga là nước "
chiến bại" trong chiến tranh lạnh, song LB Nga vẫn có một vị thế mà Mỹ không thể xem
thường. Mặt khác, Nga lại là một thực thể CT - KT - XH rất phức tạp, rất khó tiên đoán.
Thực chất Mỹ đang cố gắng duy trì sự cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh, giữa đối
tác chiến lược và đối thủ tiềm tàng trong quan hệ với Nga.
1.
Về an ninh – quân sự:
1.1 Vấn đề vũ khí hạt nhân
- Tiếp theo những Hiệp ước và thỏa thuận đã đạt được về vấn đề vũ khí hạt nhân chiến
lược giữa Liên Xô và Mỹ (những năm 1972, 1973, 1979), tháng 7 năm 1991, Tổng
thống Liên Xô M.Goocbachop và Tổng thống Mỹ G.Bush đã ký Hiệp ước cắt giảm
vũ khí tiến công chiến lược (START-1). Theo Hiệp ước này LX và Mỹ sẽ thủ tiêu 1/3
kho vũ khí hạt nhân chiến lược của mình trong vòng 7 năm từ ngày kí.
3/1/1993, Tổng thống Nga B.Enxin và Tổng thống Mỹ Bush ký START-2, theo đó
mỗi bên chỉ giữ lại 3-3500 đầu đạn hạt nhân chiến lược. Với START2, Tổng thống 2
nước muốn khẳng định họ sẽ vừa tiếp tục con đường hòa dịu, hợp tác giảm căng thẳng
trong lĩnh vực hạt nhân, vưà duy trì sự cân bằng chiến lược hạt nhân.

tế.
2. Về kinh tế:
- 6/1992, Tổng thống Mỹ Bush đã cam kết sẽ viện trợ cho Nga 1,6 tỷ USD và phối hợp
với các nước công nghiệp phát triển (G7) viện trợ 43 tỷ USD cho Nga chuyển đổi nền
kinh tế.
- Tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 18 (7/1992), nhóm G7 đã đưa ra lời hứa viện trợ 24 tỷ
USD, sau đó nâng lên thành 43,5 tỷ USD tại Hội nghị lần thứ 19 năm 1993.
Tuy nhiên đó chỉ là những lời hứa suông. Mỹ và phương Tây để để mặc cho Nga vật
lộn với những khó khăn chồng chất của mình.
- 4/1993, Ủy ban Nga – Mỹ về hợp tác kinh tế và kỹ thuật được thành lập tháng 4 năm
1993 tại cuộc gặp cấp cao ở Vancouver (Canada) giữa TT Mỹ Clinton và TT Nga Elsin.
Đầu tháng 9/1993, dưới sự chủ tọa của A.Gor và V.Cherrnomyrdin đã diễn ra phiên
họp lần thứ nhất của Ủy ban tại Washington.Tại phiên họp này 3 văn kiện lớn về hợp tác
trong lĩnh vực vũ trụ đã được thông qua:
+ Về các chuyến bay vũ trụ chung và hợp tác xây dựng trạm vũ trụ hoạt động thường
xuyên
+ Về nghiên cứu lý thuyết ngành hàng không học
+ Về chuẩn bị các chương trình cho modun vũ trụ.
Cùng với đó là các hiệp định về việc mở cửa cho Nga ra thị trường quốc tế trong lĩnh
vực phóng tên lửa thương mại; về hợp tác mở rộng khả năng các nhà máy điện chạy bằng
nhiên liệu hữu cơ,
12/1993, tại Moscow diễn ra phiên họp lần 2 của Ủy ban, sau đó là họp thường kỳ 6
tháng 1 lần. Kết quả là sau 5 năm với 10 lần họp, Ủy ban đã thông qua hơn 220 văn
kiện, trong đó: 53 văn kiện về hợp tác nghiên cứu vũ trụ, 51 văn kiện về quan hệ kinh
tế - thương mại, 43 văn bản trong lĩnh vực năng lương; 24 văn bản về khoa học và công
nghệ, 18 văn bản về sinh thái, 6 văn bản về nông nghiệp,
- Năm 1993, Mỹ thông qua Luật “Về quan hệ hữu nghị với Nga và các quốc gia mới
độc lập” (Các nước Cộng hòa Xô viết cũ), đã xem xét lại hơn 70 điều luật có tính phân
biệt đối xử, tạo điều kiện nhất định cho việc xuất khẩu phu quan thuế của Nga sang Mỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status