Đổi mới phương pháp dạy môn Tập Làm Văn ở Tiểu Học - Pdf 24

I. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn miêu tả ở lớp 4
Phần Mở đầu

I/ Lý do chọn đề tài
Môn tập làm văn là một môn học chính trong chương trình lớp 4, bản thân tôi đang là giáo
viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình thay đổi kỹ năng sống vào môn
tập làm văn, môn đạo đức, khoa học, nên bản thân cần phải nỗ lực phấn đấu đảm nhiệm chức
trách của mình đối với học sinh . Nhìn từ phía khoa học và công nghệ thì đây là thời đại văn
minh thông tin với nền kinh tế dựa trên tri thức. Thời đại văn minh mới này là một bước phát
triển vượt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên khoáng sản là
chính. Những đặc điểm chủ yếu của thời đại văn minh thông tin có thể tóm tắt trong bốn yếu
tố: Thông tin- Tri thức trở thành tài nguyên quan trọng nhất. Khoa học- Công nghệ trở thành
lực lượng sản xuất và trực tiếp. Hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng và
cuối cùng là máy tính cá nhân và Internet là phương tiện lao động phổ biến nhất và có hiệu
quả nhất.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để
học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông qua việc dạy và học
Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản
về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần thiết giúp
các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Cùng với
môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang
trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho
tàng tri thức vô tận của loài người. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành,
tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (tập đọc, luyện từ và câu, chính tả,
kể chuyện). Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới.
Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau.
II/ Cơ sở thực tiễn
- Đổi mới việc dạy cũng thế, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi phải là một sự sáng
tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy

nên ý nghĩa. Văn là nghệ thuật của ngôn từ, văn là cái đẹp, có người lại nói văn học là nhân
học, văn học là tình cảm, đạo đức lý tưởng, là tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con
người. Văn có được nhờ cảm xúc của tâm hồn, nó làm cho tâm hồn con người thêm phong
phú và sâu sắc.
Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm 68 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 38 tiết gồm các
mảng kiến thức sau:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động.
- Trình tự miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối ).
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối)
Các kiến thức trên được cụ thể hóa thành hai loại bài. Đó là, loại bài hình thành kiến thức và
loại bài luyện tập thực hành.
I/ Thực trạng việc dạy Tập làm văn - Thể loại văn miêu tả lớp 4.
1/ Tình hình chất lượng học tập môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm văn của học
sinh.
Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4 hiện đang học thể loại bài miêu tả, nhìn chung các
em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng bài làm của các em còn viết theo một
khối mòn khuôn sáo, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa
biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa….
Tóm lại: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn luyện từ và câu nhưng khi áp
dụng vào viết văn thì các em thường mắc các lỗi trên, kết hợp với việc chưa biết sử dụng
các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các em còn khô
khan, lủng củng, nghèo cảm xúc. Bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối
________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
2
tượng miêu tả.
Kết quả cụ thể như sau:

Lớp Số HS

thật". Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của ngườu
viết nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết "bịa" một cách tùy ý. Để tả hay,
tả đúng thì phải tả chân thật, giáo viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối,
bệnh công thức sáo rỗng, thói già trước tuổi.
Mặt khác giáo viên cần giúp các em nắm được: trong văn miêu tả, ngôn ngữ sử dụng phải là
ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm thanh, đây là một trong những
miêu tả trong sinh học, địa lý… và các thể loại văn khác.
Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đường mình cần đi và đích
mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn
từng lời, từng ý trong bài văn và như vậy chất lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn.
________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
3
3- Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng các biện pháp và giải
pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
Muốn một bài văn hay, có "hồn", có chất văn thì các em phải có vốn từ ngữ phong phú và
phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp, Chính vì vậy giáo viên cần chú ý
cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc, luyện từ và câu và cả trong khi dạy các môn
khác hay trong những buổi nói chuyện trong các tiết sinh hoạt. Hướng dẫn các em lập sổ tay
văn học theo các chủ đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ
tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng.
Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt
câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có
dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm.
* Khi làm một bài văn miêu tả về con mèo chúng ta cần miêu tả:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc.
Giáo viên hỏi: Em nào nhận xét cách đặt câu hỏi của bạn? Học sinh có thể nhận xét: bạn đã
sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc.
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của chú mèo
sao cho sinh động hơn:

của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân môn khác. Với phân môn Tập làm văn là
phân môn thực hành tổng hợp của những phân môn khác, muốn học tốt Tập làm văn học
sinh cần học tốt các phân môn còn lại.
5- Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường thu hút người đọc,
người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề mà người trình bày. Chính vì
vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng một đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết.
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở bài trực tiếp và mở
bài gián tiếp. Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài theo cách nào để cho các em
tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài
gián tiếp có thể xuất phát từ một vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng những câu thơ,
những câu hát,…nhưng phải bám sát vào yêu cầu của đề, không lan man, xa đề, không rườm
ra. Giáo viên có thể cho học sinh làm việc nhóm đôi hoặc cá nhân tự nêu cách vào bài của
mình, sau đó cho các bạn nhận xét. Chẳng hạn với bài tả con mèo, một học sinh mở bài:''Hè
vừa rồi, mẹ em đi chợ mua được một con mèo tam thể. Chú ta là thành viên thứ năm của gia
đình em, nay đã được bốn tháng."
- Giáo viên nêu câu hỏi: Đây là cách vào bài nào?( trực tiếp)
- Giáo viên nêu yêu cầu để học sinh nêu cách mở bài khác sinh động hơn:" Nhà em đã từ lâu
không có một chú chuột nào dám bén mảng tới vì có một chú lính gác cừ khôi, đó chính là
chú Mướp. Mướp ta đã được một năm tuổi, nó thật hiền dịu nhưng cũng thật tinh nhanh, nó
như người bạn thân của em."

Hay với đề bài miêu tả cây đa cổ thụ nơi làng quê, học sinh mở bài như sau:
"ở đầu làng em có một cây đa cổ thụ nó dễ phải bằng trăm năm tuổi. Cả làng gọi đó là cây
đa ông Đài , vì ông Đài là người trồng ra nó, nhưng ông Đài là ai, sống và chết từ bao giờ
thì cả làng không ai nhớ cả."
Học sinh khác lại viết:"Từ bến đò phía xa em đã nhìn thấy làng em. Phải qua một cánh đồng
bao la, một con đường liên xã dài hơn hai cây số, em đã nhìn thấy làng quê yêu dấu: Cây đa
cổ thụ in bóng xanh thẫm trên bầu trời. Mỗi lần đi xa về, em cảm động tưởng như cây đa
làng quê đang giơ tay vẫy chào, đón đợi."

các em cách làm văn sáo rỗng, na ná như nhau mà nên đưa ra những đoạn văn miêu tả những
tác giả khác nhau. Cùng trong một tiết học, có thể đưa ra nhiều đoạn văn miêu tả toàn diện,
phong phú hơn và từ đó các em sẽ biết chắt lọc, tìm tòi những chi tiết đặc sắc, học tập được
các câu, các từ hay, cách diễn đạt hợp lý cho bài làm của mình.
Chẳng hạn, trong tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật, phần củng cố bài, giáo
viên có thể đọc cho các em nghe một vài đoạn như sau:
"Con Rô sạch sẽ lắm. Mỗi lần mẹ gọi : "Rô đi tắm" là nó vẫy đuôi chạy theo, ngoan ngoãn
như một đứa bé được nuông chiều. Thân hình nó không hề có một con bọ, con rận nào cả.
Không biết mẹ dạy con Rô từ bao giờ mà nó biết đi vệ sinh vào một chỗ phía sau nhà. Nó rất
ý tứ. Mỗi khi có khách đến chơi nhà nó nằm im trên tấm đệm, đôi tai vểnh lên nghe bố mẹ
và khách nói chuyện. Khách đứng dậy ra về, con Rô cũng theo bố mẹ đi ra cửa như để tiễn
chân khách…
Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì nếu dài quá học sinh sẽ khó
tiếp thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc biệt đoạn văn phải được diễn đạt mạch
lạc đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn giản dị, câu văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu
mực cả về nội dung và hình thức.
- Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh thấy được cái hay,
cái đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung miêu tả, sự khác biệt trong miêu
tả và nét đặc sắc trong hành văn.
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn " Những cánh bướm trên bờ sông" : "Ngoài giờ học,
chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con bướm đủ màu sắc, đủ hình
dáng. Con xanh biếc pha đen như nhung, bay nhanh loang loáng. Con vàng sẫm nhiều hình
mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ to bằng
hai bàn tay người lớn, mầu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo
đàn líu ríu như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió hệt như tàn than của
những đám đốt hương…"
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động vô số loài bướm. Hình ảnh
những chú bướm hiện lên qua con mắt của mấy cậu học trò vốn say mê với thiên nhiên. Một
________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể

giáo viên cần thay đổi hình thức hoạt động để học sinh đỡ nhàm chán. Sau phần giáo viên
nhận xét chung, giáo viên cần chữa lỗi cho học sinh theo từng loại lỗi thống kê khi chấm bài
và nêu các câu văn, đoạn văn hay đã chuẩn bị trước. Sau đó, giáo viên trả bài và có thể tổ
chức cho học sinh thảo luận theo nhóm bàn để các em trao đổi với bạn về cách làm bài của
mình, đọc cho nhau nghe các câu hoặc giúp nhau sửa lỗi trong bài làm. Từ đó học sinh sẽ
thấy rõ ưu, nhược điểm trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa chữa hoặc viết lại
đoạn văn của mình cho đạt yêu cầu. Sau những trao đổi như vậy cũng sẽ giúp học sinh tránh
được những lỗi không đáng có trong thực hành viết văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
8- Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học góp phần làm nên 50% sự thành công trong dạy học:
Trong bất kỳ hoạt động nào việc chuẩn bị cũng hết sức quan trọng, chuẩn bị cũng chính là kế
hoạch cho công việc mình định làm, đó là việc làm đầu tiên, tất yếu của mỗi hoạt động. Soạn
bài là việc làm đầu tiên, tất yếu của người giáo viên, Bài soạn chính là bản kế hoạch của giờ
lên lớp, ngày nay được gọi là kế hoạch bài học.
Để có được kế hoạch bài học cụ thể, rõ ràng có chất lượng, có tác dụng thiết thực, đem lại
________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
7
hiệu quả cao, người giáo viên phải huy động tối đa tất cả năng lực, phẩm chất của mình như
năng lực hiểu biết và chế biến tài liệu, năng lực hiểu học sinh, năng lực ngôn ngữ…lòng yêu
nghề, niềm tin sự nhiệt tình và lòng đam mê nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển
hoá được những kiến thức của sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là
giáo án được thực hiện hoá qua bài giảng trên lớp chứ không thể là giấy vô tri, vô giác chỉ để
giám hiệu ký duyệt cho "đủ thủ tục"
Mỗi giáo viên cần nhận xét sâu sắc tầm quan trọng của việc chuẩn bị kế hoạch bài học trước
khi lên lớp, kế hoạch ấy có thể được ghi chép lại cẩn thận trong giáo án, cũng có thể là tự
suy nghĩ sắp xếp trong trí óc miễn là nó phải được thực hiện một cách nghiêm túc và hết sức
tự giác. Có kế hoạch bài giảng chu đáo tức là giáo viên đã chuẩn bị tốt mọi nội dung thực
hiện trên lớp, từ tiết lý thuyết đến các tiết thực hành xây dựng đoạn văn và tiết trả bài, từ
phần kiểm tra bài cũ đến phần củng cố bài học. Như vậy giáo viên có thể thực hiện được bảy
biện pháp trên một cách dễ dàng và chất lượng dạy học chắc chắn sẽ được nâng cao.

________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
8
dung, phương pháp, đồ dùng, phương tiện dạy học, mục tiêu, ý nghĩa giáo dục, khả năng,
trình độ của học sinh. Phải tìm tòi, nghiên cứu để có được những câu hỏi gợi mở phù hợp
với trình độ học sinh, chuẩn bị cả những từ, những câu văn thích hợp để sửa sai hoặc để làm
mẫu cho học sinh. Nó đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực sáng tạo trong suốt quá trình dạy học.
Chỉ có nghiên cứu sáng tạo mới cho giáo viên có được những giờ dạy văn miêu tả mới mẻ,
hiệu quả cao. Nếu không có những sáng tạo mới trong dạy tập làm văn nhất là văn miêu tả
thì giờ dạy văn miêu tả chỉ là sự kiệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả, giờ học sẽ gượng
ép, gò bó, thiếu tâm hồn văn học.
III/ Kết quả
Sau khi áp dụng những biện pháp trên vào dạy Tập làm văn lớp 4B kết quả cụ thể như sau:

Lớp
Số học
sinh
Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm < 5
SL % SL % SL % SL %
4B 23 5 21,7% 10 43,5% 7 30,4 1 4,4%

Bài làm của nhiều em đã tiến bộ rõ rệt, các em đã biết viết văn miêu tả giàu hình ảnh, giàu
cảm xúc, đặc biệt nhiều em đã biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: Nhân hóa, so
sánh, dùng điệp từ, điệp ngữ…bài làm sinh động, cảm xúc chân thật. Tuy vẫn còn một số ít
bài viết khô cứng, liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả nhưng không có hiện tượng sao
chép văn mẫu, không có bài làm na ná như nhau. Mặc dù chỉ là sự chuyển biến ít ỏi song
trong giảng dạy Tập làm văn thì kết quả như vậy cũng là điều đáng quý. Mặt khác các biện
pháp trên mới chỉ được áp dụng khi dạy văn miêu tả lớp 5, nếu có thể thực hiện từ khi dạy
Tập làm văn miêu tả ở lớp 2, 3,4 thì tôi tin chắc rằng chất lượng làm văn của các em sẽ khả
quan hơn rất nhiều.

II/ Bài học kinh nghiệm

Từ thực tế giảng dạy, tôi thấy để nâng cao chất lượng dạy tập làm văn người giáo viên cần:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và nắm chắc đặc điểm,
chức năng của văn miêu tả và cần giúp các em hiểu rõ các đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên
của thể loại văn miêu tả.
- Vì tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng
việt nên muốn dạy tập làm văn có chất lượng cần thiết phải dạy tốt các phân môn còn lại.
- Cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế hoạch bài học trên lớp giáo
viên cần đọc cho học sinh nghe các câu văn, câu thơ có sử dụng các biện pháp nghệ thuật,
cung cấp cho cac em những đoạn văn mẫu…giúp các em mở rộng vốn từ, mở rộng vốn hiểu
biết và từ đó học tập vận dụng vào bài làm của mình.
- Cần coi tiết trả bài như một khâu không thể thiếu của các hoạt động tiếp theo. Trả bài là tiết
học mà giáo viên dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho học sinh, giúp học sinh điều chỉnh
những sai sót mắc phải trong bài viết để bài viết sau sẽ hoàn chỉnh hơn, hấp dẫn hơn.
III/ ý kiến đề xuất
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, tôi xin có một số ý kiến
đề xuất sau đây:
*Đối với Bộ GD&ĐT:
- Cần tăng thời lượng cho các tiết dạy tập làm văn xây dựng đoạn văn miêu tả để học sinh
được rèn kỹ năng nhiều hơn.
- Kiểm soát các loại sách nâng cao, sách tham khảo, sách chuyên đề phục vụ cho việc dạy và
học tập làm văn lớp 4.
- Nghiên cứu các ngữ liệu đưa vào sách giáo khoa cho phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp
với trình độ nhận thức của học sinh.
* Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT:
- Hàng năm cần tổ chức các phong trào thi đua viết thơ văn, sáng tác nhỏ của tuổi thơ để các
em có điều kiện phát huy tài năng của mình.
- Thường xuyên mở các hội thảo, nói chuyện chuyên đề với các chuyên gia về dạy và học
tập làm văn để giáo viên được tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.

Tỉnh:
____________________________
Mời thầy cô và các bạn hãy vào http://tieuhoc.info để có tất cả các Nghiên cứu
khoa học sư phạm ứng dụng tiểu học, các sáng kiến kinh nghiệm, giáo án tổng hợp
các lớp, các đề thi , các ebooks hay nhất , mới nhất và miễn phí . Mọi chi tiết xin
liên hệ email: [email protected]
_________________the end__________________
________________________________________________________________________
NGIÊN C U KHOA H C S PH M NG D NG TI U HOC – Ứ Ọ Ư Ạ Ứ Ụ Ể
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status