nguyên nhân của hiện tượng ly hôn hiện nay - Pdf 24

Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
MỤC LỤC
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 1
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
I. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình chính là nền tảng của Xã hội, nó có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm
cuộc sống cho từng các nhân, nhu cầu hạnh phúc của các thành viên trong gia đình.
Nhưng đó cũng là sự lo âu của Xã hội về những rạn nứt và băng hoại các giá trị truyền
thống của gia đình Việt Nam về phương diện đạo đức, tình cảm, lối sống, văn hóa…
trước những tác động phức tạp của kinh tế thị trường, trước những cám dỗ của cuộc sống
dẫn đến hiện tượng ly hôn, gia đình tan vỡ.
Cũng như nhiều Quốc gia trên thế giới, vấn đề ly hôn ở nước ta hiện nay chẳng
những thu hút giới nghiên cứu mà còn là mối quan tâm thật sự của Đảng, Nhà nước, các
tổ chức xã hội và sự chú ý đặc biệt của dư luận Xã hội.
Nó đã và đang được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ: luật học, tâm lý học, đạo
đức học và văn hóa học… Có nhiều câu hỏi liên quan đến hiện tượng ly hôn được nêu ra:
phải chăng ly hôn là biểu hiện của khủng hoảng gia đình? Ly hôn là biểu hiện của sự giải
phóng phụ nữ, của tiến bộ xã hội, của sự thay đổi áp lực trong gia đình? Hay phải chăng
ly hôn là biểu hiện của sự sai lệch nận thức, sự xung đột vai trò, vị thế của cuộc sống gia
đình?
Những câu hỏi trên cần được trả lời không chỉ từ góc độ nghiên cứu của luật học,
tâm lý học, đạo đực học… mà cả giải thích của Xã hội học.
Rồi đến số trẻ em lang thang kiếm sống ngày một lớn. Chúng vì lý do bố mẹ bỏ
nhau và rơi vào các tệ nạn Xã hội. Nguyên phó thứ trưởng Nguyễn Khánh, trưởng ban
chỉ đạo phòng chống các tệ nạn Xã hội cho rằng: “chỉ khi nào xây dựng được gia đình
Việt Nam lành mạnh, phát triển bền vững mới thực sự ngăn chặn được, khắc phục được
các tệ nạn Xã hội đang là nguy cơ lớn nhất của đất nước ta”.
Việt Nam đang trên chặng đường CNH - HĐH, tiến lên CNXH trước những biến
đổi to lớn, bên cạnh đó gia đình Việt Nam cũng có những chuyển mình nhanh chóng theo
cả xu hướng tích cực và tiêu cực. Biểu hiện cho sự biến đổi đó là tỷ lệ ly hôn tăng với xu
hướng phức tạp, đặc biệt là ở các đô thị lớn. Vì lý giải hiện tượng ly hôn ở đô thị theo cả

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện khi phân công lao động phát triển,
năng suất lao động cao đến mức có của cải dư thừa, kinh tế gia đình xuất hiện bên cạnh
hình thức kinh tế khác. Gia đình đối ngẫu chiếm lấy của cải thừa cho riêng mình, dẫn đối
lập với thị tộc, trở thành đơn vị kinh tế độc lập -gia đình một vợ một chồng ra đời .
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 3
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
Tuy nhiên hình thức hôn nhân này không giống nhau trong tất cả các chế độ xã hội
mà có những biến dạng.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ - hình thái nhà nước đầu tiên trong lịch sử loài người
là hình thái hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện nhưng hôn nhân này không được xây
dựng trên cơ sở tình yêu mà thực chất là “hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên
những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế”. Chế độ một vợ một chồng
ở xã hội này mang tính giả tạo đối với chủ nô và nó chỉ tuân thủ đối với đàn bà.
Trong chế độ phong kiến xuất phát từ sự tôn thờ và duy trì chế độ đẳng cấp trọng
nam khinh nữ của xã hội phong kiến, chế độ một vợ một chồng bị biến dạng. Xã hội tỏ ra
rất hà khắc với phụ nữ, còn đàn ông thì được luật pháp cho phép có nhiều vợ, điển hình là
phong kiến phương Đông. Tuy vậy, lịch sử thế giới cũng chứng minh rằng, dù ở phương
Đông và phương Tây thì hôn nhân gia đình xây dựng nền tảng đạo đức phong kiến đều là
trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền lợi gia trưởng của đàn ông, hôn nhân theo đẳng cấp.Và
ở chế độ xã hội này, người phụ nữ không được quyền tự do ly hôn, mà quyền đó phần lớn
thuộc về người chồng, do chồng.
Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản coi hôn nhân như một bản khế ước,
một hợp đồng dân sự do hai bên thoả thuận một cách “bình đẳng và tự nguyện”. Sự thoả
thuận này được xác lập trên cơ sở tiền tài, địa vị xã hội. Do đó trong gia đình Tư sản
không có hạnh phúc thực sự mà nghĩa vụ vật chất giống như nghĩa vụ của hai bên đương
sự trong hợp đồng. Việc chấm dứt hôn nhân cũng chỉ là việc xoá bỏ hợp đồng do một bên
vi phạm, căn cứ vào lỗi của bên gay ra “giai cấp tư sản đã xé toang bức màn tình cảm
phủ lên quan hệ hôn nhân - gia đình biến những quan hệ ấy thành quan hệ có tính chất
tiền nong mà thôi”.
Theo quan điểm của Nhà Nước XHCNVN, hôn nhân là sự tự nguyện, bình đẳng

2
() Luật hôn nhân và gia đình – NXB Chính Trị Quốc Gia HN - 2000
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 5
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
Căn cứ ly hôn là những tình tiết (hay điều kiện) được quy định trong pháp luật mà
khi có đủ những tình tiết đó Toà án mới xử cho ly hôn
Không phải bất kỳ tình tiết nào cũng được coi là căn cứ ly hôn mà phải được quy
định trong văn bản pháp luật, đó là “tình trạng trầm trọng,đời sống chung không thể kéo
dài,mục đích hôn nhân không thể đạt được”.
Khi giải quyết ly hôn, để đánh giá đúng thực chất của sự việc, cần phân biệt căn cứ
ly hôn theo luật với ly do, động cơ xin ly hôn của đương sự.
Lý do ly hôn là cái cớ đương sự dựa vào đó để yêu cầu Toà án cho ly hôn.
Động cơ xin ly hôn là trạng thái tâm lý bên trong thúc đẩy đương sự xin ly hôn.
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không
thành và nếu xét đúng là hai bên thạt sự tự nguyện ly hôn thì Toà án nhân dân công nhận
cho thuận tình ly hôn.
Ly hôn do 1 bên yêu cầu là trường hợp chỉ có ở một bên vợ hoặc một bên chồng có
đơn xin ly hôn. Sau khi tiến hành hoà giải không thành Toà án nhân dân phải xét xử cho
ly hôn.(
3
)
1.4. Gia đình
Gia đình với tính chất là tế bào của xã hội đã tồn tại từ lâu trong sự phát triển của
lịch sử. Cở sở của nó là mối quan hệ hôn nhân huyết thống và thân tộc.
Theo quan niệm chung nhất, gia đình là 1 nhóm đặc thù, có đặc trưng cơ bản là được
thiết lập trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ, huyết thống ruột thịt
giữa các thành viên.
3
() Luật hôn nhân và gia đình – NXB Chính Trị Quốc Gia HN - 2000
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 6

nhận được nhiều, những người nhận nhiều từ người khác sẽ bị một áp lực tác động từ
4
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 7
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
phía họ. Chính tác động của áp lực đó giúp cho người trao nhiều có thể nhận lại nhiều từ
phía những người họ trao. Sự cân bằng giữa chi phí và phần thưởng của các cá nhân
trong quá trình tương tác tuân theo nguyên tắc :
1) Nếu một hành vi được thưởng hoặc có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp
lại.
2) Hành vi được thưởng hoặc có lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân có xu
hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh như thế.
3) Nếu như phần thưởng, mối lợi lớn thì cá nhân sẵn sàng chi phí lớn để đại
được.
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 8
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
4) Khi các nhu cầu của cá nhân gần như đã được thoả mãn thì họ ít cố gắng hơn
trong việc thoả mãn chúng.
Như vậy, khung ttrao đổi xã hội tập trung vào việc cái gì đưa ra và được chấp nhận
trong các mối quan hệ và tác động qua lại. Bất kỳ một sự trao đổi nào trong ứng xử hay
trong quan hệ giữa con người - con người đều có khả năng được thưởng công và trả giá
(rewards and costs) nguyên tắc chung của trao đổi xã hội là con người cần phải tránh
những thái độ ứng xử phải trả giá và tìm kiếm những tình huống được thưởng công nhiều
hơn sự trả giá .
Áp dụng lý thuyết trao đổi trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, người ta thấy trong
cả kết hôn và ly hôn, người ta đều dựa trên trạng thái cân bằng hay không của các giá trị
trao đổi để giải thích sự hình thành hoặc tan giã của các mối quan hệ hôn nhân và gia
đình.
Lý thuyết trao đổi mô tả việc lựa chọn bạn đời giống như quá trình trao đổi hàng hoá
ở chợ. Việc kết hôn có thể thực hiện qua tặng, mua bằng tiền hay trao đổi lấy một vật
khác. Lý thuyết này nhấn mạnh sự công bằng trong khi so sánh để lựa chọn. Và sự công

nghiên cứu vấn đề ly hôn. Muốn hiểu hiện tượng ly hôn đầy đủ hơn, một tiệp cận về xung
đột vai trò - vị thế, chức năng là cần thiết
3. Thực trạng
Tỷ lệ ly hôn ngày một tăng. Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng
cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu
năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng
đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn. Người tốt nghiệp đại học, cao
đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7- 2%, thấp hơn tỷ lệ 4- 6% của người không có bằng cấp. Số
năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18- 60 tuổi là 9,4 năm; còn
riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm. Có 4 nguyên nhân thường
xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%);
bạo lực gia đình (6,7%).
Trong những năm gần đây, số lượng các vụ ly hôn tăng nhanh. Theo Tổng cục Thống
kê, số cặp vợ chồng xin ly hôn ở Việt Nam năm 2000 là 51.000 vụ; năm 2004 con số này
đã tăng lên 60.000 vụ, và năm 2006 đã lên tới gần 70.000 vụ.
Thống kê cho biết năm 2008, ở VN có khoảng gần 90.000 cặp vợ chồng ly hôn, tỷ lệ
ly hôn là khoảng 30% đến 40%
Năm ngoái, đã có 88.591 vụ ly hôn tại Việt Nam trong tổng dân 87 triệu người, tăng
đáng kể so với 79.769 trường hợp vào năm 2009 và 65.351 trường hợp vào năm 2008.
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 10
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
Theo một công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Minh Hòa (Trường ĐH KH-
XH&NV TP.HCM), trung bình cứ ba cặp kết hôn thì sẽ có một cặp chia tay.Kết quả này
cũng được phản ánh rõ nét qua thực tiễn xét xử án ly hôn, khi độ tuổi xin ly hôn ngày
càng trẻ hóa. Theo thống kê, năm 2010 số lượng án ly hôn tại TAND TP.HCM là khoảng
18.000 vụ, trong đó tỉ lệ ly hôn của các đôi vợ chồng trẻ (độ tuổi 20-30) chiếm hơn 60%.
4. Một số nguyên nhân ly hôn
4.1. Ngoại tình
Không ai trên thế giới này lại muốn mãi như con ngựa rong ruổi dặm trường chẳng
chốn nương thân. Xét đến cùng, ai cũng muốn có cuộc sống gia đình êm ấm, hạnh phúc

quan tâm tới bạn đời như trước, thứ hai, nhưng tính cách xấu mà khi yêu nhau không
được bộc lộ hoặc đã che dấu thì nay trong cuộc sống hàng ngày, sớm muộn nó cũng được
thể hiện. Điều này dẫn đến sự đổ vỡ không ít thì nhiều kỳ vọng, hình ảnh về người bạn
đời của bên kia.
4.4. Bạo lực trong gia đình
Trong các nghiên cứu về bạo lực, người ta thường chỉ ra 4 nguyên nhân của nạn bạo
lực trong gia đình: các vấn đề kinh tế, học vấn và tàn dư của chế độ phong kiến mà theo
đó người ta trọng nam khinh nữ, các thói quen văn hoá và xã hội như uống rượu, cờ bạc,
ngoại tình ghen tuông, những lĩnh vực dẫn đến tranh cãi vợ-chồng như việc không có con
trai, sự phức tạp trong quan hệ dâu con-nhà chồng. Như vậy, nạn bạo lực không đứng độc
lập mà có quan hệ nhân quả với hàng loạt các yếu tố khác, nó có thể là nguyên nhân, hoặc
là kết quả của những xung đột trên.
Gặp nhiều nhất trong các trường hợp phụ nữ chịu bạo lực là ngược đãi về thân thể và
lời nói, ngược đãi về tình cảm và ngược đãi liên quan đến tình dục.
4.5. Một số nguyên nhân khác
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 12
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
Ngoài những nguyên nhân kể trên, thì kinh tế khó khăn, mâu thuẫn gia đình, chênh
lệch về trình độ, sắc đẹp, đánh bạc, nghiện ngập, tù đầy cũng dẫn đến sự đổ vỡ hôn nhân.
Mặc dù, thực tế có những cặp vợ chồng sống hạnh phúc, êm ấm trong cảnh nghèo
khó, cùng chia sẻ với nhau mọi khó khăn vất vả trong cuộc sống thì nhiều khi nghèovào
đằng cửa trước, hạnh phúc nhảy qua cửa sổ. Sự khó khăn kinh tế là nguyên nhân sâu xa
cho xung đột trong cuộc sống nhiều gia đình.
5. Dự báo tương lai của kết hôn và ly hôn:
Trên cơ sở phân tích bản chất cuộc khủng hoảng gia đình Phương Tây hiện nay, tiến
sỹ tâm lý học Hungari Rilagy Vilmos đưa ra dự báo thiết thực về ly hôn, hôn nhân qua
phân tích thể chế hôn nhân từ quá khứ, hiện tại, tương lai.
Xu hướng quan trọng nhất là hôn nhân ngày càng dân chủ hơn, tức là hôn nhân
không còn mang những nét độc quyền, ràng buộc, những điều kiện kèm theo như giai cấp,
đẳng cấp, nguồn gốc, địa vị xã hội dẫn đến cuộc hôn nhân vội vàng thiếu chín chắn của

Trong thời gian tới, tỷ lệ ly hôn ở việt nam có xu hướng tiếp tục gia tăng. Một mặt
nó là sự minh chứng cho sự giải phóng phụ nữ cho việc thể hiện quyền bình đẳng nam nữ
trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình. Mặt khác, nó là chỉ báo cho khủng hoảng gia đình
dưới tác động tiêu cực của các nhân tố xã hội.
Như vậy, đánh giá của xã hội về ly hôn có thể sẽ cởi mở hơn trước kia, khi mà người
ta coi ly hôn như một hành vi phi đạo đức, phi chuẩn mực ảnh hưởng đến danh dự sự
thăng tiến của cá nhân. Trong tương lai, dưới ảnh hưởng của những nhân tố kinh tế xã hội
mới, người ta sẽ bình thường hoá hiện tượng ly hôn. Tự kết hôn và tự do ly hôn chủ yếu
sẽ là vấn đề của từng cá nhân. Vấn đề là xã hội cần phải bảo đảm cho mỗi cá nhân có
quyền tự do ấy và quy định họ sau ly hôn như thế nào cho con người. Vì dù sao con người
cũng phải sống một cách có văn hoá, một cách nhân văn, nhân bản, nhân ái .
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 14
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
III. Kết luận
Ở Việt Nam hiện nay, quy mô ly hôn có xu hướng gia tăng, mức độ ly hôn diễn ra ở
mọi độ tuổi, tập trung nhất là lứa tuổi 31-50, ở mọi trình độ học vấn, nhất là những người
có học vấn cao, ở mọi nghề nghiệp, mọi tầng lớp xã hội, nhất là tầng lớp trung lưu. Tỷ lệ
phụ nữ đứng đơn xin ly hôn tăng, như một sự khẳng định cho vị thế tăng lên của phụ nữ
Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 15
Tiểu luận cuối kì – Xã hội học gia đình.
hoặc biểu hiện của sự bị áp bức đè nén ở mức độ cao đối với họ. Đặc thù nghề nghiệp
cũng đã ảnh hưởng đến những cuộc hôn nhân. Sự sòng phẳng, lạnh lùng, đầy toan tính cá
nhân nhuốm màu cơ chế thị trường đã từng bước xâm nhập vào ngưỡng cửa từng gia
đình trong địa bàn phường.
Tỷ lệ phụ nữ đứng đơn xin ly hôn cũng có xu hướng tăng lên. Đây là tín hiệu cho
thấy sự tự lập của người phụ nữ về nhiều mặt, từ kinh tế, cuộc sống và ngay cả với cuộc
hôn nhân của mình. Họ đã có thể tự quyết đinh số phận của mình. Họ có thể dũng cảm từ
bỏ cuộc hôn nhân khi nó không còn đem lại hạnh phúc. Đây có thể nói là một sự tiến bộ
không mong muốn của người phụ nữ. Tuy nhiên ẩn chứa đằng sau đó vẫn là nhiều yếu tố
bất ổn, sự lỏng lẻo trong kết cấu của gia đình khi mà mỗi thành viên đều có thể dễ dàng

Hoàng Thị Thảo _ Lớp XHH - K55 18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status