BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN SỸ
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU CHĂM SÓC
SỨC KHỎE HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành:
Mã số:
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM HUY TUẤN KIỆT
HÀ NỘI - 2009
LỜI CẢM ƠN
Chăm sóc sức khỏe tại trạm y tế xã là công tác tuyến đầu tiếp xúc với người
bệnh cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng được tăng cao.
Người nghèo, vùng sâu, vùng xa, khó khăn, ít được tiếp xúc với dịch vụ y tế. Do đó
người dân cần được chăm sóc sức khỏe theo hướng tốt hơn là làm cho dịch vụ phải
được phổ biến, gần, sát người dân, tới tận ngõ xóm, gia đình, tận mỗi cá nhân. Y
học gia đình là một chuyên ngành hướng tới mục tiêu này.
Trong khuôn khổ Đề tài cấp bộ “Đánh giá thực trạng và nhu cầu chăm sóc
sức khỏe tại gia đình, đề xuất giải pháp phát triển mạng lưới Y học gia đình”, là học
viên chuyên khoa 1 – Chuyên ngành Y học gia đình, tôi sử dụng số liệu viết luận
văn tốt nghiệp.
Tôi xin cám ơn TS. Phạm Huy Tuấn Kiệt là thầy hướng dẫn của tôi, cảm ơn
PGS. TS. Phạm Nhật An là chủ nhiệm đề tài, các thầy cô tham gia Đề tài và các
thầy cô thuộc bộ môn Y học gia đình đã tận tình giúp đỡ cho tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn này.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHYT : Bảo hiểm y tế
BS : Bác sĩ
BV : Bệnh viện
CK1 : Chuyên khoa 1
chung của toàn xã hội. Kiện toàn mạng lưới cơ sở, do vậy, được đưa vào Luật Bảo
vệ sức khỏe Nhân dân và luôn được đặc biệt quan tâm trong các văn kiện, chiến
lược, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Chức năng, nhiệm vụ của các trạm y tế xã được qui định trong Quyết định
58/TTg, Quyết định 131/TTg. Đây là cơ sở y tế công lập tuyến đầu có nhiệm vụ
cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng chống
dịch bệnh, đỡ đẻ thông thường, cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực
hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình và tăng cường sức khỏe. Các dịch vụ kỹ
thuật liên quan đến KCB được phép thực hiện tại TYT theo quy định về phân tuyến
kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành (Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30-8-2005).
Quán triệt nghị quyết 46/NQ-TW ngày 23-02-2005 của Bộ Chính trị về công
tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Bộ Y tế định hướng
đẩy mạnh công tác khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã để nâng cao tính công bằng,
hiệu quả và phát triển trong chăm sóc sức khỏe nhân dân trong lộ trình tiến tới
BHYT toàn dân. Định hướng phát triển các trạm y tế xã cần dựa trên các bằng
chứng được phân tích kỹ, có chú ý đến nguyên tắc cung cầu và điều tiết của thị
2
trường. KCB có hiệu quả tại các trạm y tế xã thông qua BHYT giúp giảm tải các
tuyến trên, tiết kiệm chi phí cho người bệnh nói riêng và toàn hệ thống nói chung.
Khi nhiều vấn đề còn cần tìm phương hướng đề giải quyết thì công tác chăm
sóc sức khỏe tại hộ gia đình trong mô hình y học gia đình cần được mô tả rõ hơn
như được sơ đồ hóa phần nào ở hình sau:
Hình 1.1: Sơ đồ lý thuyết nghiên cứu
Các câu hỏi được đặt ra là:
• Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại hộ gia đình ở 2 huyện Văn Chấn và Trấn Yên
của tỉnh Yên bái?
Cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể
tuyến xã, huyện
-Thực trạng CSSK Hộ gia
đình
Bái.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Kinh tế - xã hội và y tế ở Yên Bái
Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc. Phía đông bắc giáp hai
tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp
tỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai.
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², chia làm 09 đơn vị hành chính
nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng. Yên Bái là tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay, toàn
tỉnh có 731.810 người, 30 dân tộc anh em cùng sinh sống.Các dân tộc ở Yên Bái
sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh với những bản sắc
văn hoá phong sắc. Thiếu nhân lực, thiếu bác sĩ ở tất cả các tuyến y tế là tình trạng
phổ biến ở Yên Bái trong nhiều năm nay.
Bệnh viện Đa khoa Nghĩa Lộ là bệnh viện hạng 2 ở tỉnh Yên Bái, với 200
giường bệnh và 180 cán bộ y tế, có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân 3 huyện
phía Tây Yên Bái là Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ với
hơn 30.000 dân. Nhiều năm qua, bệnh viện luôn ở trong tình trạng thiếu cán bộ, đặc
biệt là cán bộ, bác sĩ sau đại học và ở các chuyên khoa sâu, chuyên khoa lẻ. Vì thế,
bác sĩ nơi đây phải làm liên tục, không được nghỉ; thậm chí, làm ngoài giờ cũng đã
quá quy định rất nhiều.
Thời gian gần đây, những trở ngại đó đã phần nào được giải quyết nhờ Đề án
1816 - luân phiên cán bộ y tế từ tuyến trên xuống tuyến dưới. Bốn bác sĩ của Bệnh
viện Bạch Mai được tăng cường về Bệnh viện đa khoa Nghĩa Lộ theo 2 đợt, mỗi đợt
1,5 tháng. Hai bác sĩ trong đợt tăng cường đầu tiên đã hoàn thành nhiệm vụ trở về
Hà Nội, hai bác sĩ của đợt 2 hiện đang làm việc.
Theo một số ý kiến của các bác sĩ được tăng cường cho rằng ngay tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh là TTYT lớn nhất tỉnh còn thiếu bác sĩ và trang thiết bị, thì tại
tuyến huyện và xã sẽ thiếu cán bộ cả về số lượng và chất lượng , thiếu cơ sở vật
chất là khó tránh khỏi. Điều này cản trở việc CSSK tại HGĐ càng khó khăn hơn.
6
xét không chỉ dưới góc độ sinh học mà còn cả về mặt tâm lý và xã hội. Nhu cầu
tổng thể của cá nhân được đặt vào kế hoạch chẩn đoán và điều trị.
Chăm sóc liên tục: Bình thường thì mỗi đợt ốm là một bệnh và khi chăm sóc
chỉ tập trung vào bệnh đó, phương pháp chăm sóc truyền thống là như vậy - song đó
không phải là hoạt động của YHGĐ vì không chăm sóc liên tục và lâu dài. Chăm
sóc liên tục là nguyên tắc quan trọng nhất của YHGĐ. Các thầy thuốc YHGĐ được
giao nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân toàn diện cùng gia đình họ một cách liên tục,
lâu dài. Thời gian chăm sóc dài là công cụ hữu hiệu của YHGĐ. Đó là điểm khác cơ
bản giữa YHGĐ và chăm sóc truyền thống, vốn thấy của hệ thống y tế hiện nay
[26]. Liên tục ở đây là liên tục về thời gian và về qui trình từ phát hiện bệnh, chẩn
đoán, điều trị đến phục hồi chức năng. Người bác sĩ gia đình có thể biết người mình
chăm sóc sức khỏe từ lúc sinh đến lúc chết. Người bác sĩ gia đình phát hiện bệnh,
chuyển người bệnh lên tuyến trên cho chẩn đoán và điều trị một phần ở bệnh viện
và sau khi ra viện lại trở lại điều trị với anh ta một cách liên tục.
Chăm sóc phối hợp: “Người thầy thuốc gia đình giống như một nhạc trưởng
trong việc chăm sóc cho từng bệnh nhân. Người thầy thuốc gia đình còn xác định
những người cung ứng và các nguồn chăm súc sức khỏe khác cần thiết để hỗ trợ
cho việc chăm sóc chung cho bệnh nhân. Những nguồn này bao gồm các chuyên
gia bên ngoài cũng như những cán bộ chuyên môn y tế khác bên trong phụng khoản
của thầy thuốc gia đình. Hướng dẫn bệnh nhân tiếp cận với hệ thống chăm sóc sức
khỏe là trách nhiệm của thầy thuốc gia đình” [26]. Cũng theo tác giả này, người
thầy thuốc gia đình phải am hiểu sâu sắc gia đình người bệnh về mọi khía cạnh. Tổ
chức cho gia đình người bệnh phối hợp tốt trong chăm sóc và điều trị người bệnh.
Người thầy thuốc gia đình còn phải vẽ được sơ đồ gia đình và bản đồ gien của
người bệnh. Vì vậy, các nghiên cứu về YHGĐ giống như các nghiên cứu chăm sóc
sức khỏe thông thường song cần nghiên cứu thêm về các yếu tố gia đình như kinh
tế, văn hóa, mối quan hệ huyết thống, lịch sử bệnh tật.
Quan tâm tới phòng bệnh: Phòng bệnh chủ động và tích cực như vệ sinh môi
trường, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, xử lý chất thải, tiêm chủng, phòng
8
nào đó, dù hôn nhân có tồn tại hay không. Một gia đình được định nghĩa rộng rãi
như là những cá nhân mà bệnh nhân trông mong ở họ sự hỗ trợ với nhận thức rằng
sự hỗ trợ này có cả quá khứ và tương lai” [26], Các nguyên tắc chăm sóc bệnh
nhân trong chăm sóc sức khỏe gia đình. Người bác sĩ gia đình coi bệnh nhân là một
thành viên của gia đình họ, thừa nhận ảnh hưởng của bệnh tật đến gia đình và
ngược lại. Họ nắm bắt được những yếu tố của gia đình để phục vụ cho phát hiện
bệnh, chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng. Một gia đình được định nghĩa rộng
rãi là nơi mà người bệnh có thể trông mong hỗ trợ ở quá khứ, hiện tại và tương lai.
1.3. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Y học gia đình
YHGĐ mang dịch vụ CSSK tới từng cá nhân và từng gia đình cho nên mang
ý nghĩa rất lớn về y học cũng như xã hội.
Về y học, YHGĐ cung cấp dịch vụ CSSK gần dân nhất nên rất sát với nhu
cầu về CSSK của từng người dân và gia đình. Trước hết YHGĐ cung cấp các dịch
vụ về truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) như cung cấp các kiến thức về
chính sách y tế của nhà nước/ địa phương, kiến thức về vệ sinh cá nhân và cộng đồng,
kiến thức về dự phòng các bệnh hay gặp tại cộng đồng, kiến thức về phòng chống các
bệnh, dịch, tai nạn thương tích YHGĐ còn cung cấp cho người dân kiến thức về
phát hịện sớm các bệnh, tật, xử lý sớm về ban đầu các bệnh, tật hay các cấp cứu tại
nhà và cộng đồng. Chính vì vậy mọi người dân và gia đình luôn đạt được tình trạng
sức khỏe tốt nhất có thể có, giảm được nhiều số lượng cũng như tỉ lệ mắc, chết của
bệnh, tật hay tai nạn, thương tích ngay tại gia đình và cộng đồng. YHGĐ giúp người
dân tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình [19]
Người cung cấp dịch vụ YHGĐ (như bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng ) phát hiện
sớm các nguy cơ có hại cho sức khỏe của người dân tại gia đình và cộng đồng (như
nước chưa hợp vệ sinh, thực phẩm có hại cho sức khỏe, thói quen, hành vi không tốt
cho sức khỏe ) rồi bàn bạc với từng gia đình và cộng đồng giải quyết, loại trừ các yếu
tố nguy cơ. Người cung cấp dịch vụ YHGĐ còn trực tiếp thực hiện khám phát hiện
sớm bệnh, tật cũng như trực tiếp điều trị sớm các bệnh, tật, các cấp cứu tại gia đình và
9
bệnh đến thầy thuốc thì có 94% số này được chăm sóc ngay tại nơi làm việc của họ
bởi thầy thuốc chăm sóc sức khỏe ban đầu tức thầy thuốc gia đình. Số ít còn lại mới
phải vào bệnh viện hay các phòng khám của trung tâm y tế. Rõ ràng nhu cầu về
chăm sóc sức khỏe của người dân là rất lớn, vấn đề là cần xác định được nhu cầu đó
và tổ chức các dịch vụ YHGĐ đáp ứng với nhu cầu này.
Cũng tại Hoa kỳ, trong một khám sàng lọc đã phát hiện ra 14,1% người lớn
đã có ít nhất một giai đoạn uống rượu (một giai đoạn được xác định là uống trên 5
lần liên tục) trong 30 ngày gần đây, 7,5% được chẩn đoán bị các biến chứng của
uống rượu trong thời gian qua và đã được điều trị. Một can thiệp bằng biện pháp
của CSSKBĐ chỉ phục vụ được 40% số có biểu hiện rối loạn về rượu (nhóm chứng
chỉ có 20%) [19]. Cho thấy còn một tỉ lệ lớn (60% ở nhóm can thiệp và 80% ở
nhóm chứng) là chưa được chăm sóc y tế. Đây là nhu cầu rất lớn, phải chăng có sự
thiếu hụt về dịch vụ YHGĐ. Một nghiên cứu khác cũng tại Hoa kỳ cho thấy có tới
6- 9 triệu trẻ em và vị thành niên có các biểu hiện của rối loạn tâm thần, đó là một
nhu cầu không nhỏ, tuy nhiên đa số các trẻ em này không nhận được chăm sóc y tế
[24]. Trong một nghiên cứu khác cho thấy có tới 20% trẻ em và vị thành niên tại
Mỹ có biểu hiện rối loạn hành vi và rối loạn tâm lý. 2/3 số trẻ này không nhận được
chăm sóc y tế. YHGĐ có nhiệm vụ mang dịch vụ cho những trẻ em này [23].
1.5. Phát triển của Y học gia đình ở Việt Nam
Danh từ Y học gia đình mới du nhập vào nước ta khoảng 10 năm trở lại
đây. Danh từ thì còn mới nhưng về thực hành thì không mới. Trên thực tế, từ
ngàn năm nay nhân dân ta vẫn có một mạng lưới y tế phục vụ CSSK một cách tự
phát và hoàn toàn do nhu cầu CSSK của người dân quyết định sự tồn tại và phát
triển của nó. Các ông lang, bà mế, bà đỡ, các phòng chẩn trị y học cổ truyền,
thầy thuốc tư đã tạo ra mạng lưới chăm sóc sức khỏe sát với người dân và cộng
đồng nhất và hoàn toàn tự phát.
Hiện nay nhu cầu của người dân về CSSK đã thay đổi nhiều do tác động của
nhiều yếu tố:
11
Công nghiệp và du lịch phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời nên mô hình
mỏng và quá yếu kém. Theo số liệu của Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Y tế, tới đầu năm
2006, cả nước ta đã có khoảng hơn 70% số trạm y tế xã có bác sĩ về công tác. Đây
là một dấu hiệu tốt lành cho dịch vụ YHGĐ phát triển. Tuy nhiên nhiều cuộc khảo
sát cho thấy tại tuyến xã, người có chuyên môn cao nhất về KCB là BS. Nhưng
người BS này thường làm trưởng trạm (theo chủ trương của hầu hết các địa
phương), do vậy rất nặng công tác quản lý và sự vụ hành chính (70% - 80% thời
gian dành cho đi họp, tập huấn, làm sổ sách, tiếp khách) và thời gian làm chuyên
môn thực sự còn khoảng 20- 30%. Đó cũng là lý do quan trọng làm cho y tế xã
không đáp ứng được với nhu cầu KCB của nhân dân. Những lỗ hổng lớn về việc
đáp ứng của y tế cơ sở cho thấy cần thiết phải phát triển YHGĐ. Vì chỉ nhờ các dịch
vụ YHGĐ, người dân mới có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ CSSK với
giá thành chấp nhận được. Đặc biệt khi YHGĐ thực hiện tốt 6 nguyên tắc của nó,
người dân mới được CSSK đầy đủ, liên tục, toàn diện và đảm bảo chất lượng.
Y học gia đình mới thực hiện ở Việt Nam trong khoảng 5-6 năm mang tính
chất thực hành là chính, thiếu nhiều cơ sở lý luận và thiếu cả các cơ sở khoa học
dựa trên nhu cầu thực tế của người dân.
- Chưa có các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về YHGĐ tại Việt Nam:
Về nhu cầu, nội dung, phương pháp
- Công tác đào tạo chưa dựa trên nhu cầu thực tiễn do chưa có công trình nghiên
cứu hỗ trợ.
1.6. Chăm sóc Y học gia đình tại nhà
Chăm sóc tại nhà ngày nay đã trở thành đồng nghĩa với các dịch vụ của các
cơ quan chăm sóc sức khỏe tại nhà và không phải là các dịch vụ thầy thuốc chăm
sóc người bệnh ở tại nhà. Chăm sóc sức khỏe tại nhà là phần tăng trưởng nhanh
nhất của lĩnh vực sức khỏe trong những năm gần đây. Các dịch vụ tại nhà chuyên
nghiệp này bao gồm chăm sóc điều dưỡng, trị liệu vật lý, chữa bệnh nghề nghiệp, trị
liệu ngôn ngữ và hoạt động xã hội. Những dịch vụ khác là trợ giúp sức khỏe tại nhà,
13
thợ giúp việc vặt, những bữa ăn trên xe lăn, vận tải, và các loại nhân viên tình
nguyện cộng đồng (thí dụ những người làm việc sửa chữa tại nhà). Sự lớn mạnh ghê
loại hợp đồng chăm sóc tại nhà này được thực hiện cho những người bệnh phải nằm
tại giường, thường là ở giai đoạn cuối của một bệnh mãn tính. Thăm khám bệnh cấp
tính thường xảy ra nhiều hơn vì loại thăm khám này thuận tiện hơn đối với người
thầy thuốc đến thăm ở gia đình. Một ví dụ điển hình là 1 bệnh nhân bị sốt ở gần
thầy thuốc và người đó lại không có phương tiện giao thông.
Những người bị tàn tật vĩnh viễn, đặc biệt là những người phải nằm tại
giường: Hầu hết các thầy thuốc gia đình chăm sóc cho những người họ đến thăm
ở nhà là do rất khó đưa những người này vào bệnh viện. Các bệnh nhân bị đột
quỵ nặng, sơ cứng rải rác tiến triển, các bệnh thoái hóa như loạn dưỡng cơ đều
cần phải chăm sóc lâu dài tại giường. Những người săn sóc trong gia đình
thường không tiếc gì để giữ người thân của họ ở nhà sẽ rất cảm kích khi một
thầy thuốc đến thăm nhà mình.
Những bệnh nhân mới cao tuổi bị mắc nhiều bệnh tật: Các cuộc thăm
khám ở tại nhà cho người già góp thêm một tầm cỡ quyết định đối với việc đánh giá
bệnh. Nhìn vào tủ thuốc và bàn để cạnh giường thường là cách tốt nhất để biết được
người bệnh đang uống thuốc gì. Nói chuyện với những người săn sóc bệnh nhân và
các thân nhân trong gia đình có thể phát hiện những vấn đề và những điều hữu ích
bất ngờ. Cuối cùng, một cuộc thăm hỏi tại nhà là cách duy nhất tìm ra những nguy
cơ có thể làm cho dễ ngã.
Những bệnh nhân bị sa sút trí tuệ: Nhiều bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer
và bệnh nhân sa sút trí tuệ từ chối đến bác sĩ khám bệnh hoặc trở nên kích động ở
môi trường bệnh viện không quen thuộc. Những cuộc thăm khám tại nhà ít ồn ào
hơn cho phép bạn quan sát người bệnh ở môi trường sống của họ, cho bạn một cơ
may tuyệt vời để gặp gỡ với gia đình.
Nghi ngờ có lạm dụng: Lạm dụng trẻ em và người già đều không phải là
hiếm. Hiện nay ở hầu hết các bang đều có luật khuyến khích hoặc bắt buộc phải báo
cáo những trường hợp nghi ngờ lạm dụng hoặc bị bỏ rơi. Thầy thuốc cần am hiểu
15
khả năng có lạm dụng hoặc bỏ rơi và biết những thủ tục yêu cầu cơ quan chức năng
tham gia điều tra. Thường có một nhân viên công tác xã hội cùng đến thăm để cùng
những khía cạnh tế nhị của thăm khám tại nhà cần nhiều năm mới hoàn thiện được,
do đó bạn được khuyến khích tìm kiếm cơ hội để có những cuộc thăm khám kết hợp
với một thầy thuốc cộng đồng giàu kinh nghiệm, một người cùng khoa hoặc một
người cung ứng chăm sóc sức khỏe tại nhà.
1.7.2. Khởi đầu việc thăm khám tại nhà
Bệnh nhân rất ít khi từ chối một thầy thuốc đến thăm khám mình ngay ở nhà.
Khi biết trước khi nào người thầy thuốc có kế hoạch đến thăm, họ thường rất cảm kích.
Nếu bạn đến chậm bạn phải gọi điện thoại và cho bệnh nhân biết giờ nào bạn sẽ đến.
Lịch thăm khám tại nhà chính xác sẽ cho phép các thành viên trong gia đình sắp xếp
công việc riêng để có mặt khi bạn ở nhà họ.
Bất kỳ một cuộc thăm khám nào cũng đều bắt đầu bằng những lời chào hỏi
và thường thường là những câu chuyện về xã hội. ở gia đình việc này có thể phải
mất vài phút. Gia chủ có thể mời bạn thăm ngôi nhà của họ hoặc mời bạn ăn uống
cái gì đó. Những hoạt động xã hội này giúp bệnh nhân và gia đình cảm thấy thoải
mái hơn trong việc tiếp xúc với thầy thuốc. Phần lâm sàng của cuộc thăm hỏi nhiều
khi lại kết hợp với các động tác xã giao. Ví dụ, khi bạn đến thăm khám sức khỏe
cho một cháu bé 2 tuần tuổi, bạn có thể ngắm nghía và chơi với bé trong khi bạn bắt
đầu công việc khám xét chuyên môn của bạn. Cũng như vậy, một lần dạo thăm ngôi
nhà có thể tạo cơ hội để bạn sơ bộ biết được những thứ có trong tủ thuốc đặt ở
buồng tắm.
Thực hiện một cuộc thăm khám tại nhà hơi mất thời giờ hơn thăm khám ở
bệnh viện. Tuy nhiên, nhờ sự gần gũi với người bệnh và với gia đình làm những
cuộc thăm khám của bạn có hiệu quả hơn. Đồng thời, nếu bạn định hình trước được
ý tưởng rõ ràng cho mục tiêu cuộc thăm khám của bạn, bạn có thể làm cho cuộc đi
thăm khám tại nhà của mình có chủ định và bạn sẽ biết khi nào thì bạn kết thúc.
1.7.3. Những kỹ năng cụ thể để thăm khám tại nhà
Để bổ xung công dụng của một cuộc thăm khám tại nhà, người thầy thuốc
cần phải có kiến thức và những kỹ năng cụ thể thích hợp với việc chăm sóc cho một
người tại nhà. Những kiến thức và kỹ năng này bao gồm:
17
khỏe của cá nhân và gia đình; Mô hình bệnh tật ; Tình hình kinh tế - xã hội; Một
số giải pháp phát triển YHGĐ.
- Cán bộ y tế, bác sĩ CKI YHGĐ: Mô tả thực trạng về YHGĐ, khả năng đáp
ứng của y tế cơ sở với nhu cầu CSSK của dân tại HGĐ cũng như các giải pháp
nhằm phát triển mạng lưới YHGĐ.
Địa điểm: 2 huyện là Trấn Yên và Văn Chấn, 4 xã là Nga Quan, Việt Thành,
Đông Khê và Phù Nham.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 10/2008
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Sử dụng công cụ định lượng và định tính.
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu và phương pháp thu thập số liệu
a) Người dân/HGĐ: Đối tượng thứ nhất là người dân và HGĐ của người dân
đó. Mỗi HGĐ chỉ phỏng vấn 01 người để thu thập các thông tin về bản thân người
đó và về HGĐ của họ, đồng thời dùng bảng kiểm quan sát một số thực trạng về
HGĐ. Tiêu chuẩn chọn: Phỏng vấn người chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho
toàn HGĐ (thường là mẹ/bố, có thể là ông/bà tuy gia đình), không bị các bệnh gây
thiểu năng trí tuệ, có đủ tư cách dân sự và đủ sức khỏe phục vụ cho nghiên cứu; có
mặt tại thời điểm điều tra.
- Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu ngang để ước lượng tỉ lệ trong quần thể:
19
[ ]
[ ]
2
)2/1(
)(
1
2
ε
α
- Vệ sinh cơ thể/ cá nhân
- Sức khỏe, bệnh (thông qua y bạ và các giấy tờ liên quan).
20
b) Y tế thôn, bản, đường phố: Tất cả nhân viên Y tế thôn, bản, đường phố
(trừ người đi vắng tại thời điểm điều tra) của các xã, phường, thị trấn được chọn tại
mẫu cấp III. Uớc tính mỗi xã/phường/thị trấn có khoảng 8 nhân viên y tế thôn bản,
nên tổng số khoảng 16 nhân viên y tế thôn bản được điều tra. Phương pháp điều tra:
Thảo luận nhóm (TLN) thông qua hướng dẫn TLN hoặc phỏng vấn sâu. Dự kiến thông
tin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ;
Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền
thong - giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp phát
triển CSSK- HGĐ
c) Trưởng thôn, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố: Người có trách nhiệm liên
quan như chỉ đạo, tham gia vào các hoạt động y học gia đình, CSSK tại HGĐ, thôn,
xóm. Số lượng: Mỗi xã ước tính: 8 người tạo thành nhóm. Tổng số: 8 x 2 xã = 16.
Phương pháp điều tra: Thảo luận nhóm. Dự kiến thông tin cần thu thập: Thực trạng về
dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của YHGĐ; Nhu cầu CSSK tại HGĐ: Phòng
bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn - truyền thong - giáo dục sức khỏe; Một
số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp phát triển CSSK- HGĐ
d) Cán bộ TYTX: Thảo luận nhóm tất cả nhân viên của trạm theo mẫu/nội
dung hướng dẫn, ghi biên bản hay ghi âm. Tổng số 2 TYTX, phường, thị trấn được
nghiên cứu với khoảng 10 cán bộ y tế tại TYT xã tham gia thảo luận nhóm. Dự kiến
thông tin cần thu thập: Thực trạng về dịch vụ CSSK tại HGĐ theo quan điểm của
YHGĐ; Sự đáp ứng về CSSK- HGĐ hiện nay của hệ thống y tế xã/phường; Nhu
cầu CSSK tại HGĐ: Phòng bệnh, khám phát hiện, điều trị, sơ cứu, tư vấn- truyền
thông- giáo dục sức khỏe; Một số yếu tố tác động tới CSSK- HGĐ; Các giải pháp
phát triển CSSK- HGĐ
đ) Cán bộ UBND xã, các đoàn thể: Người có trách nhiệm liên quan như chỉ
đạo, tham gia vào các hoạt động y học gia đình, CSSK tại HGĐ, thôn,xóm. Số
lượng: Mỗi xã ước tính: 5 người tạo thành nhóm. Tổng số: 5 x 2 xã = 10. Phương