nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn luyện tập môn đại số lớp 7 - Pdf 24

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng dẫn luyện
tập môn Đại số lớp 7
“.
Họ và tên tác giả: Bùi Thị Lý
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng.
1/. Lí do chọn đề tài:
Nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về môn toán và rèn kỹ năng giải
toán cho học sinh qua tiết luyện tập là rất quan trọng, học sinh tích cực chủ
động học tập tư duy sáng tạo hoàn thiện kiến thức.
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 - 2011 dạy học - kiểm tra đánh giá
theo Chuẩn kiến thức kỹ năng, giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
2/. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cách hướng dẫn học sinh lớp 7
trường THCS Bàu Năng luyện tập môn Đại số theo hướng phát huy tính
tích cực của học sinh.
Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, tham khảo tài liệu chuyên môn về những vấn đề có liên
quan.
+ Trao đổi học hỏi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp qua dự giờ,
họp tổ bộ môn.
+ Tìm hiểu thực trạng học sinh, thu thập, thống kê và đối chiếu số liệu.
+ Tham khảo tài liệu ở các sách, báo, trên mạng Internet.
3/. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh thông qua tiết luyện
tập theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Học sinh được luyện tập một cách tích cực chủ động và sáng tạo thông
qua tiết luyện tập.
4/. Hiệu quả áp dụng:

mới phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên:
học sinh tự giác chủ động tìm tòi, phát hiện, giải quyết vấn đề hoàn thành
nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến
thức kĩ năng đã thu nhận được.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy tình trạng học sinh giải toán Đại số
như sau: Đứng trước một bài toán thường không biết làm gì? không biết đi
từ đâu và đi theo hướng nào? Không biết liên hệ những điều nêu trong đề
bài với kiến thức đã học. Do đó nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng
tạo của học sinh trong học tập bộ môn, giáo viên cần hướng dẫn giải bài
tập ở tiết luyện tập một cách linh hoạt, sáng tạo, có định hướng khoa học
đạt hiệu quả, chính xác, logic thông qua việc vận dụng hợp lý các kỹ thuật
dạy học tích cực.
Vì muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy, cách dạy của giáo
viên quyết định cách học của học sinh. Tuy nhiên thói quen học tập của học
sinh cũng ảnh hưởng đến cách dạy của giáo viên. Mặt khác có những
trường hợp học sinh muốn được học theo phương pháp dạy học tích cực
nhưng giáo viên chưa đáp ứng được. Do vậy, tôi nhận thấy cần phải tự bồi
dưỡng, phải luôn tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm, cải tiến phương pháp giảng
2
dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để nâng cao chất
lượng học tập của học sinh, nhất là chất lượng giảng dạy môn toán.
Xuất phát từ thực tế khách quan là khả năng học tiết Luyện tập môn Đại
số lớp 7A1 của học sinh lớp tôi chưa đồng đều, còn lúng túng và thụ động
trong giải toán nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy bộ
môn. Vì vậy, để giúp học sinh lớp 7A1 có những phương pháp học tập
cũng như hứng thú khi học tiết luyện tập và cũng nhằm nâng cao hơn chất
lượng dạy tôi chọn đề tài: “Nâng cao tính tích cực của học sinh qua hướng
dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7
“.

Nhưng nếu giáo viên hướng dẫn cho học sinh luyện tập môn đại số theo
hướng phát huy tính tích cực, làm cho học sinh được chủ động trong các
hoạt động toán học đa dạng phong phú thì tiết luyện tập sẽ trở nên sinh
3
động, tạo được niềm say mê hứng thú trong học tập cho học sinh, giúp các
em chủ động trong tìm lời giải bài toán và biết cách vận dụng kiến thức một
cách nhanh chóng, hiệu quả, sáng tạo.
Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nâng cao tính tích cực
của học sinh qua hướng dẫn luyện tập môn Đại số lớp 7 ”.
4
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
1.1.Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 / 5 / 2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu:
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của
từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp
tác; rèn luyện kỉ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niền vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh".
Luật giáo dục sửa đổi năm 2010 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người
học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên".
1.2.Các quan niệm khác về giáo dục:
Các quan niệm về phương pháp dạy học tính tích cực: Phương pháp
dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động trái với không
hoạt động, thụ động. Kĩ thuật dạy học tích cực là "hạt nhân" của phương
pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức
của học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của

nay giáo viên còn dạy theo lối dạy truyền thống một chiều còn áp đặt các
kiến thức có sẵn trong giải toán chưa quan tâm đến đối tượng học sinh yếu
mà chỉ chú trọng đến học sinh khá và năng động chính vì lẻ đó nên hiệu
quả các tiết luyện tập chưa cao thậm chí học sinh bị cảm thấy phụ thuộc
theo cách làm của giáo viên dẫn đến việc học sinh ngại học toán Như
vậy, để quá trình dạy học môn toán đạt hiệu quả cao chúng ta cần có
những hướng đi mới những thủ pháp mới để kích thích khả năng nhận
thức và hứng thú cho học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1.Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Qua khảo sát chất lượng đầu năm và thực tế giảng dạy cũng như dự
giờ các đồng nghiệp trong nhà trường tôi nhận thấy tiết luyện tập môn Đại
số 7 còn mang cảm giác hết sức nặng nề, chưa hấp dẫn được học sinh, đa
số học sinh cho rằng đây là môn học khó, trừu tượng khô khan và khó hiểu,
học sinh nỗ lực học tập không vì yêu thích môn Toán học mà vì để hoàn
thành nhiệm vụ học tập.
Thực trạng của việc dạy học các tiết luyện tập nói chung và tiết đại số
nói riêng còn các mặt hạn chế cụ thể như sau:
Đối với học sinh:
+ Học sinh chưa tích cực suy nghĩ chủ động tham gia vào giải toán,
chưa mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm cá nhân chưa biết
đánh giá và tự đánh giá các sản phẩm hoạt động của bản thân và bạn bè.
+ Đa số học sinh dạng trung bình - yếu hay quên kiến thức cũ, kiến thức
cơ bản, chưa có kỹ năng trong độc lập suy nghĩ, phân tích tìm tòi cách giải
và trình bày bài giải bài tập một cách logic khoa học, dẫn đến các em cho
rằng bài tập khó, không giải được, ngại học môn toán.
Đối với giáo viên:
+ Giáo viên chưa thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động trong
tiết luyện tập với các hình thức đa dạng phong phú có sức hấp dẫn và phù
hợp với đặc trưng của từng tiết, với đặc điểm và trình độ của học sinh cụ

- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ (thảo luận nhóm, tổ
chức trò chơi, thi toán nhanh).
Hoạt động của giáo viên bao gồm:
- Thiết kế tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập với hình
thức đa dạng phong phú có sức hấp dẫn và phù hợp với đặc điểm và trình
độ của từng học sinh.
- Động viên khuyến khích tạo cơ hội cho các em tham gia tích cực chủ
động vào giải bài tập, tạo niềm vui hứng khởi thái độ tự tin trong giải toán
giúp các em phát triển tối đa năng lực tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế hướng dẫn học sinh thực hiện thực hiện các bài tập một cách
logic.
- Sử dụng phương pháp và tổ chức dạy học một cách hợp lí.
Hoạt động tương ứng của học sinh gồm:
7
- Tích cực suy nghĩ, tích cực tham gia giải bài tập để tự khám phá và rèn
luyện kĩ năng giải toán.
- Tích cực vận dụng kiến thức đã học để phân tích đánh giá giải quyết
các bài tập đặt ra.
- Tích cực thảo luận, mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến quan điểm
của mình.
- Biết tự đánh giá đúng sai về bài giải của mình và của bạn.
3.2. Giải quyết vấn đề đặt ra:
3.2.1 Phương pháp dạy học vấn đáp đàm thoại: (Đàm thoại khi luyện
tập)
Giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời qua đó học sinh tái hiện
lại kiến thức áp dụng vào bài tập. Hoạt động này chủ yếu ôn các kiến thức
cơ bản bài học thông qua sửa bài tập về nhà và kiểm tra bài cũ: Cho học
sinh trình bày lời giải một vài bài tập đã giao cho học sinh về nhà làm ở tiết
trước, nhằm kiểm tra học sinh hiểu lí thuyết đến đâu? Kỹ năng vận dụng lý

y và – x
2
y b) 2xy và 5xy
c) 5x và 5x
2
d) -3x
2
yz và 3xy
2
z
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tìm cặp đơn thức đồng dạng.
+ Xây dựng chương trình giải: Xét những đơn thức có cùng phần biến.
+ Thực hiện chương trình giải:
Các cặp đơn thức đồng dạng là x
2
y và – x
2
y ; 2xy và 5xy.
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
gọi học sinh nhận xét bài làm của bạn.
GV: Nhận xét và chốt lại kiến thức cần tái hiện lại: đơn thức đồng dạng,
học sinh phân biệt được đơn thức đồng dạng vì có phần biến giống nhau,
đơn thức không đồng dạng vì có phần biến khác nhau.
* Học sinh 2: Muốn cộng, trừ các đơn thức đồng dạng ta làm như thế nào?
Áp dụng: ( Bài 17 SGK.35) Tính giá trị của biểu thức sau tại x = 1
và y = -1
5 5 5
1 3
2 4

Vậy
3
4

là giá trị của biểu thức trên tại x = 1 ; y = -1
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
gọi học sinh nhận xét bài làm của bạn.
Gv: Nhận xét chốt lại quy tắc cộng trừ đơn thức đồng dạng.
* Học sinh 3: Muốn tính giá trị biểu thức ta làm như thế nào?
Áp dụng: (Bài 17 SGK.35) Tính giá trị của biểu thức sau tại x = 1
và y = -1
9
5 5 5
1 3
2 4
x y x y x y
− +
Giáo viên yêu cầu học sinh tính trực tiếp
+ Thực hiện chương trình giải:
Thay x = 1, y = -1 vào biểu thức (1)Ta có:
( ) ( ) ( )
5 5 5
1 3
.1 . 1 .1 . 1 1 . 1
2 4
− − − + −
1 3 2 3 4 3
1
2 4 4 4 4 4


luận tìm tòi phát hiện vấn đề thông qua các tình huống có vấn đề. Các tình
huống có thể do logic kiến thức của bài học tiết trước tạo nên, cần có
những khuyến khích với những phát hiện cách giải mới của học sinh. Giáo
viên giúp học sinh làm chủ được kiến thức mình áp dụng nhằm rút ra bài
học kinh nghiệm cho bản thân.
* Phương pháp này đòi hỏi học sinh: đọc thông tin, tái hiện kiến thức
chuẩn bị tiến hành vào hoạt động giải bài tập mới.
10
Ví dụ 1: (Bài 19/SGK.36) Tính giá trị biểu thức 16x
2
y
5
- 2x
3
y
2
tại x = 0,5; y =
-1
Từ bài tập ở phần kiểm tra bài cũ học sinh sẽ nhanh chóng tìm được cách
giải và có thể thực hiện được các bước giải, giáo viên biết kết hợp câu hỏi
gây kích thích học sinh: Qua bài tập bạn đã làm (phần KTBC) em nào có
thể nêu cách giải bài tập này? Và cho biết kiến thức mà em áp dụng vào?
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Tính giá trị của biểu thức.
+ Xây dựng chương trình giải: Giáo viên cho học sinh trình bày theo
phương pháp của mình, diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ toán học, theo
trình tự nhất định hợp lý. Điều này thể hiện tính tích cực của các em khi
nhanh chóng tìm ra cách giải.
+ Thực hiện chương trình giải:
Thay x = 0,5; y = -1 vào 16x

giữa các thành viên trong tổ chức lao động tuy nhiên giáo viên cũng phải
cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng.
Thảo luận nhóm nhỏ:
Yêu cầu: Học sinh trong nhóm thảo luận, trao đổi ý kiến, nhóm
trưởng hướng dẫn, phân tích, trình bày nếu thấy cần. Cử đại diện trình bày
kết quả của nhóm.
Biện pháp: Giáo viên đưa phần việc mà các nhóm cần giải quyết
lên bảng, tất cả học sinh đều theo dõi. Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng
nhóm và nêu thời gian cụ thể cho hoạt động nhóm, giáo viên hướng dẫn
cách làm việc của nhóm.
Ví dụ 1: (Bài 35/SGK.40) Cho hai đa thức:
11
2 2
2 2
2
2 1
M x xy y
N y xy x
= − +
= + + +
a) Tính M +N
b) Tính M – N
c) Tính N – M
Phương pháp:
+ Tìm hiểu nội dung bài toán: Cộng trừ đa thức
+ Xây dựng chương trình giải:
Bước 1: Cho hai đa thức vào trong ngoặc, viết gần nhau và đặt dấu “+”
hoặc “-” giữa hai đa thức (tùy theo yêu cầu của bài).
Bước 2: Thực hiện quy tắc bỏ dấu ngoặc.
Bước 3: Áp dụng tính chất giao hoán kết hợp.

Giáo viên gọi đại diện nhóm lên trình bày.
+ Thực hiện chương trình giải :
Chẳng hạn 3 đơn thức đồng dạng : - 5x
2
y ; 7x
2
y và 3x
2
y
Ta có tổng: -2x
2
y + 7x
2
y - 5x
2
y + 3x
2
y = 3x
2
y
12
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán
và nhận xét
GV: Nhận xét và khen nhóm thực hiện nhanh, đúng , trình bày đẹp.
Ví dụ 3: (Bài 37/SGK.41) Viết đa thức bậc 3 với 2 biến x, y và có ba hạng
tử
Giáo viên cho học sinh thi đua giữa các nhóm.
Nhóm nào viết được nhiều đa thức thỏa mãn yêu cầu đề bài trong 2 phút là
thắng cuộc
Chẳng hạn: x

kĩ năng đã học vào các tình huống của trò chơi, qua đó, học sinh được
luyện tập, củng cố, mở rộng những kiến thức, kĩ năng đã học. Như vậy, trò
chơi học tập giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự giác và tích cực
hơn trong những hoạt động đa dạng hứng thú của quá trình chơi, giúp học
sinh rèn luyện, củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt
động trí tuệ. Nhờ sử dụng trò chơi học tập, mà quá trình dạy và học trở
thành hoạt động vui chơi và hấp dẫn như câu nói “Chơi mà học, học mà
chơi”. “Hoạt động làm cho lớp ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả".
Yêu cầu: Trò chơi phải có mục đích rõ ràng nhằm củng cố, luyện
tập kiến thức, kĩ năng học toán. Trò chơi phải chuẩn bị tốt, nắm vững yêu
cầu, mục đích giáo dục của trò chơi để thiết kế hành động chơi phục vụ
mục đích, yêu cầu ấy. Trò chơi phải gây hứng thú học tập đối với học sinh.
Biện pháp:
- Giáo viên giới thiệu trò chơi, tên trò chơi.
13
- Giáo viên hướng dẫn cách chơi, nêu rõ luật chơi (cách xử phạt khi
phạm luật chơi).
- Học sinh tham gia trò chơi .
- Sau khi hoàn thành phần tham gia trò chơi học sinh nêu nhận xét kết
quả .
- Giáo viên nêu phần nhận xét đánh giá hoạt động chơi của học sinh và
tuyên dương đội thắng cuộc. Tuy nhiên giáo viên cũng nên tìm ra những
ưu điểm của đội thua cuộc để tuyên dương. Chẳng hạn như thái độ tham
gia chơi, thực hiện nghiêm túc luật chơi, trình bày.
- Giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi,
những sai lầm cần tránh.
Ví dụ 1: (Bài 18/SGK trang 35)
Giáo viên viết sẵn bài tập 18 trang 35 sgk vào 2 tờ giấy A0, sau đó chia
lớp làm hai đội thi tính các tổng và hiệu rồi điền vào bảng để tìm ra tên của
tác giả cuốn “Đại Việt sử kí” dưới thời vua Trần Nhân Tông được đặt cho

2
=
1
2
x
2
Ă : 7 y
2
z
3
+ ( - 7 y
2
z
3
) = 0
Ư : 5 xy -
1 17
3 3
xy xy xy+ =
Ê : 3 xy
2
– (- 3 xy
2
) = 6 xy
2
U : - 6 xy
2
- 6 xy
2
= -12 xy

3
xy
-12xy
2
L Ê V Ă N H Ư U

+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại yêu cầu bài toán và
nhận xét giữa các đội.
Giáo viên nêu lại kết quả ô chữ là LÊ VĂN HƯU cho cả lớp nghe và
dành ít phút nói về những hiểu biết của mình về nhà sử học LÊ VĂN HƯU
nhằm mở rộng kiến thức và làm cho tiết học Toán thêm hấp dẫn. Ngoài ra
giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm đọc thêm ở cuốn “Danh nhân đất
Việt” tập 1 hoặc giới thiệu cho học sinh tham khảo thêm về LÊ VĂN HƯU ở
trang web trên mạng.
14
Ví dụ 2: (Bài 6/SGK trang 28) Tìm hiểu về một nhà toán học Việt Nam. Luật
chơi tiến hành tương tự ví dụ 6 ở trên.
+ Thực hiện chương trình giải:
N : x
2
= 3
2
= 9 T : y
2
= 4
2
= 16
Ă :
1
2

= 25 I : 2 (x + z) = 2(4 +
5) = 18
V : z
2
– 1 = 5
2
– 1 = 24
Kết quả:
-7 51 24 8,
5
9 16 25 18 51 5
L Ê V Ă N T H I Ê M
+ Kiểm tra và nghiên cứu lời giải: Cho học sinh nêu lại
yêu cầu bài toán và nhận xét giữa các đội
Sau khi làm xong, giáo viên: Giới thiệu thầy Lê Văn
Thiêm
( 1918-1991) quê ở làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh
Hà Tĩnh, một miền quê rất hiếu học.
Ông là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sĩ quốc
gia về toán của nước Pháp (1948) và cũng là người Việt
Nam đầu tiên trở thành giáo sư toán học tại một trường
đại học ở Châu Âu. Ông là người thầy của nhiều nhà toán học Việt
Nam.“Giải thưởng toán học Lê Văn Thiêm” là giải thưởng toán học quốc gia
của nước ta giành cho giáo viên và học sinh phổ thông.
Ví dụ 3: Khi dạy tiết Luyện Tập của bài 6: Mặt phẳng tọa độ, để tạo không
khí học tập sôi nổi giáo viên có thể cho học sinh làm bài tập dưới dạng trò
chơi như sau:
Mỗi học sinh tự biểu diễn 20 điểm tùy ý do mình nghĩ ra trên mặt phẳng
tọa độ (mặt phẳng tọa độ này học sinh đã chuẩn bị trước trên giấy kẻ ô
vuông) với tọa độ điểm là số nguyên (hoành độ, tung độ đều là số nguyên)

2
1
8
z
d) Viết công thức biểu diễn z theo y.
Giáo viên hướng dẫn học sinh chơi trò chơi thi làm toán nhanh: Chia
mỗi tổ 4 người, chỉ có một viên phấn, 1 người làm một câu, người nào làm
xong chuyền phấn người tiếp theo, người sau có thể sửa bài của người
trước. Đội nào làm đúng và nhanh nhất là thắng.
+ Thực hiện chương trình giải:
a/
x 1 2 3 4
y 1
2
2
4
3
6
4
8
b/ Biểu diễn y theo x là y = 12x
c/
16
y 1 6 12 18
z 6
0
36
0
72
0

+ Chống gò, ép, ban phát, rập khuôn có sẳn của giáo viên.
Cũng cần chú ý đến một số yêu cầu đối với lời giải của học sinh:
+ Lời giải không có sai lầm.
+ Lập luận phải có căn cứ chính xác.
+ Lời giải phải đầy đủ (đơn giản nhất, cách trình bày rỏ ràng hợp lí)
17
4. Kết quả của đề tài:
Trong quá trình dạy và kiểm tra đánh giá tôi đã sử dụng thang đo thái độ
giữa lớp thực nghiệm (lớp 7A1) và lớp đối chứng (lớp 7A3) để kiểm chứng
tính tích cực học tập của học sinh qua việc hướng dẫn luyện tập môn Đại
số bằng phiếu điều tra như sau:
+ Lớp 7A1: 38 học sinh.
+ Lớp 7A3: 37 học sinh.
Đánh dấu x vào 1 trong 2 ý kiến ở:
T
T
NỘI DUNG
Lớp 7A1 Lớp 7A3
Đồng

Không
đồng ý
Đồng

Không
đồng ý
1 Tôi thích học môn Đại số 7 25 13 15 22
2 Tôi thường xuyên xung phong
lên giải bài tập Đại số 7
30 8 20 17

28,
9
2 5,3
Học kỳ I 7 18,4 10 26,3 14
36,
9
7
18.
4
0
Sau khi áp dụng giải pháp thì trong các tiết luyện tập Đại số có biến
chuyển rỏ rệt cụ thể như sau:
Về học sinh:
Các tiết luyện tập các em hoạt động tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia
vào các hoạt động học tập hơn và mạnh dạn dần khi nêu ý kiến của mình
thông qua các hoạt động nhóm, trò chơi, phát huy năng lực của các em
hơn, biết tự đánh giá các ý kiến hay kết quả của bản thân và bạn bè.
Học sinh nắm được các dạng bài tập , phân loại bài tập, rèn được kỷ
năng phân tích biết phải vận dụng kiến thức như thế nào để giải quyết vấn
18
đề (đó là phương tiện là công cụ) và xác định các bước giải bài tập một
cách hợp lí, logic. Qua đó các em có thể quy các bài tập phức tạp về dạng
quen thuộc để giải có kỷ năng suy luận logic, hình thành thói quen giải
quyết vấn đề theo một trình tự khoa học.
Về giáo viên:
Hướng dẫn học sinh giải bài tập theo từng bước được hoạch định giúp
học sinh dễ lĩnh hội kiến thức, kiến thức cũ được cũng cố và khắc sâu hơn
ngoài ra còn định hướng cho học sinh tư duy hợp lí, vận dụng kiến thức
được thuận lợi, kiến thức vừa được tái hiện vừa được vận dụng gây sự
hứng thú hơn đối với môn học.

Giáo viên không ngừng phấn đấu học tập trao dồi chuyên môn ngiệp vụ
dưới mọi hình thức, góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên tổ
chức và học sinh thực hiện các hoạt động một cách chủ động phù hợp với
nội dung và phương pháp cụ thể ở mỗi bài, chương, không sử dụng tràn
lan gây nặng nề cho bài học dẫn đến thiếu hiệu quả.
Học sinh cần phải nổ lực thật nhiều trong vấn đề tự học ở nhà, các em
phải tự mình giải bài tập, tự mình nghiên cứu để rèn kĩ năng giải toán, như
vậy các em mới nắm vững và khắc sâu kiến thức.
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Việc hướng dẫn học sinh luyện tập môn Đại số nhằm phát huy tính tích
cực tôi đã nghiên cứu và áp dụng ở lớp 7A1 đã thu được những kết quả rất
khả thi. Do đó phương pháp này sẽ được áp dụng cho tất cả các lớp khối 7
trong học kỳ II và các khối khác của trường và đồng thời có thể phổ biến
rộng cho các đơn vị trường bạn.
3. Kết luận:
Tính tích cực của học sinh được hình thành theo các hoạt động toán
học, từ nhận biết đến tư duy cao, giúp học sinh dễ lĩnh hội kiến thức một
cách chủ động hơn và kiến thức cũng được khắc sâu hơn. Ngoài ra trong
quá trình hướng dẫn khai thác kiến thức còn cung cấp cho học sinh
20
phương pháp vận dụng kiến thức đã học một cách sáng tạo, phong phú đa
dạng, tạo cho các em có thói quen tư duy toán học.
Trong giảng dạy bộ môn Toán, việc hướng dẫn học sinh khai thác kiến
thức một cách tích cực là một việc không thể thiếu và phát huy tối đa tính
tích cực học tập của học sinh. Nên việc hoạch định phương pháp hướng
dẫn khai thác kiến thức qua các hoạt động để học sinh tích cực hơn trong
giờ học toán theo từng bước và từng đối tượng học sinh một cách linh hoạt
giúp học sinh hứng thú hơn trong giờ toán, yêu thích bộ môn và tích cực
hơn.
PHỤ LỤC

hướng dẫn bài tập về nhà của tiết 24
Đề bài cho biết gì? Tìm gì
HS: …
+ Đề bài cho biết số học sinh của 3
lớp tỉ lệ với số cây trồng được
+ Tổng số cây trồng của cả 3 lớp là
24.
+ Cần tìm số cây trồng được của mỗi
lớp.
GV: Vậy để tìm số cây trồng được của
mỗi lớp ta làm như thế nào? Cần vận
dụng tính chất nào?
HS: …
GV: Gợi ý thêm, các em cần nghiên
cứu kĩ đề bài cho thêm dữ kiện là “Số
cây xanh tỉ lệ với số học sinh”
GV: Cần chú ý cho học sinh đặt điều
kiện bài toán.
HS: Giải bài toán.
GV: Nhận xét và cho điểm.
GV: Nhắc nhở học sinh việc chăm sóc
và bảo vệ cây trồng là góp phần bảo
vệ môi trường trong sạch.
HS2: Thực hiện BT 7 trang 56 SGK
HS : Đọc đề bài, tóm tắt đề bài:………
2 kg dâu cần 3 kg đường
2,5 kg dâu cần x kg đường
GV: Hướng dẫn: Khi làm mứt, khối
lượng dâu và khối lượng đường là hai
đại lượng quan hệ như thế nào? Hãy


1
7
28 4
y
y= ⇒ =

1
9
36 4
z
z= ⇒ =
Trả lời: Số cây trồng được của
các lớp 7A, 7B, 7C theo thứ tự
là: 8, 7, 9 cây.
Bài tập 7trang 56 sgk :
Gọi x là khối lượng đường cần
sử dụng
( ĐK: x > 0)
Vì khối lượng dâu và khối lượng
đường là 2 đại lượng tỉ lệ thuận.
Theo đề ta có:

2 3 2,5.3
3,75
2,5 2
x
x
= ⇒ = =
Bạn Hạnh nói đúng.

y -8 -4 4 8 12
b)
x 1 2 3 4 5
y 22 44 66 88 100
GV: Yêu cầu đặt ra là gì?
HS:…
GV: Xét xem hai đại lượng x và y tỉ lệ
thuận với nhau hay không ta sử dụng
kiến thức nào ?
HS: ……( x và y tỉ lệ thuận với nhau
II) Bài tập mới:
Bài 1: (Bài tập 8 trang 44 SBT)
a/ Hai đại lượng x và y tỉ lệ thuận
với nhau
vì:
5
1 2
1 2 5
4
y
y y
x x x
= = = =
b/ Hai đại lượng x và y không tỉ
lệ thuận với nhau
23
Khi
5
1 2
1 2 5

cùng tham gia ? Hai đại lượng liên hệ
với nhau như thế nào ? Mỗi đại lượng
có bao nhiêu giá trị ?
HS: ………
GV: Có thể phát biểu nội dung bài
toán dưới dạng toán tỉ lệ như thế
nào ?
HS: ……( Chia 150 thành 3 phần tỉ lệ
với 3, 4, 13 )
GV: Em hãy áp dụng tính chất dãy tỉ
số bằng nhau và các điều kiện đã biết
ở đề bài để giải bài toán này ?
BT 10 trang 56 SGK
GV: Gọi học sinh đọc đề bài.
HS: đọc đề bài.
vì :
5
1
1 5
y
y
x x

(
22 100
1 5

)
Bài 2: ( BT 9 trang 56 SGK)
Gọi khối lượng (kg) của niken,

z
z= ⇒ =
Trả lời: Khối lượng của Niken,
Kẽm, Đồng theo thứ tự là
22,5kg ; 30kg ; 97,5kg .
Bài 3: ( BT 10 trang 56 SGK)
Gọi độ dài 3 cạnh của tam giác
lần lượt là x, y, z ( x, y, z > 0)
Theo đề bài ta có:

2 3 4
x y z
= =
và x + y + z = 45
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số
bằng nhau ta có :

45
5
2 3 4 2 3 4 9
x y z x y z+ +
= = = = =
+ +
24
GV: Trong bài có bao nhiêu đại lượng
cùng tham gia ? Hai đại lượng liên hệ
với nhau như thế nào ? Mỗi đại lượng
có bao nhiêu giá trị ?
HS: ………
GV: Cho học sinh thảo luận trong 2

4.5 20
x
y
z
= =
= =
= =
Trả lời: độ dài 3 cạnh tam giác
lần lượt là: 10cm, 15cm, 20cm.
Bài 4:
a/ Hãy điền số vào ô trống:
x 1 2 3 4
y 12 24 36 48
b/ Biểu diễn y theo x là : y = 12x
c/ Điền số vào ô trống
y 1 6 12 18
z 60 360 720 1080
d/ Biểu diễn z theo y là z = 60
y
III) Bài học kinh nghiệm:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status