biện pháp giáo dục phòng, chống dịch bệnh và phòng, chống ngộ độc thực phẩm cho học sinh trường thpt ba vì - Pdf 24

SƠ YẾU LÍ LỊCH
- Họ và tên: Nguyễn Thị Ngoan
- Ngày sinh: 07 tháng 03 năm 1982
- Năm vào ngành: 2008
- Chức vụ, đơn vị công tác: Nhân viên y tế - thpt Ba Vì
- Trình độ chuyên môn: Trung cấp
- Hệ đào tạo: Chính quy
- Ngoại ngữ: Tiếng anh
- Trình độ chính trị: Sơ cấp
1
MỤC LỤC
TÊN MỤC TRANG
A. MỞ ĐẦU
3
I. Lý do nghiên cứu 3
II. Lịch sử nghiên cứu 3
III. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu 4
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
V. Phạm vi nghiên cứu 4
VI. Giả thuyết 4
VII. Phương pháp nghiên cứu 4
B. NỘI DUNG 5
I. CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG 5
II. NỘI DUNG CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH 6
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 28
2
Tên đề tài: Biện pháp giáo dục phòng, chống dịch bệnh và phòng, chống ngộ
độc thực phẩm cho học sinh trường THPT Ba Vì.
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do nghiên cứu
Trường THPT Ba Vì là một trường miền núi của thành phố Hà Nội. Học sinh

Nghiên cứu các loại dịch bệnh và các trường hợp ngộ độc thực phẩm thường xảy
ra đối với học sinh ở trên địa bàn khu vực huyện Ba Vì. Từ đó, đưa ra các biện
pháp giáo dục học sinh để học sinh có đủ hiểu biết để phòng, chống dịch bệnh và
phòng, chống ngộ độc thực phẩm cho bản thân và cộng đồng.
V. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được áp dụng trong năm học 2011-2012 với đối tượng là học sinh hiện
đang học tập tại trường THPT Ba Vì.
VI. Giả thuyết
Học sinh được giáo dục về kiến thức y tế sẽ có hiểu biết để có cách phòng
chống, dịch bệnh và phòng, chống ngộ độc thực phẩm cho bản thân và cộng đồng.
VII. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các kiến thức khoa học về các loại dịch bệnh như: HIV/AIDS,
cúm, tiêu chảy, sốt rét, lao, hạch, các bệnh da liễu …
- Nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, sức khỏe học sinh THPT.
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực huyện Ba Vì.
4
B. NỘI DUNG
I. CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG
1. Thành lập ban chỉ đạo công tác giáo dục học sinh phòng chống dịch
bệnh, phòng, chống ngộ độc thực phẩm và chăm sóc sức khỏe cho học
sinh.
Ban chỉ đạo phân công nhiệm vụ và duyệt kế hoạch công tác của các thành viên
2. Xác định nội dung cần giáo dục và thời điểm tiến hành
Cần xác định rõ nội dung cần giáo dục cho học sinh trong năm học, từ đó lên kế
hoạch tiền hành. Kế hoạch cần chỉ rõ người tiến hành, thời điểm, địa điểm và
hình thức tiến hành. Đưa ra các ví dụ về dịch bệnh và ngộ độc trong thực tế.
Việc đưa ra các ví dụ cụ thể sẽ có tác dụng rất mạnh trong việc giáo dục và
tuyên truyền cho học sinh.
3. Giáo dục qua các buổi ngoại khóa:
Tiến hành giáo dục và tuyên truyền qua các buổi ngoại khóa có ưu điểm:

nhất các biện pháp giáo dục phù hợp với học sinh thì mới có hiệu quả. Công tác
liên hệ với gia đình học sinh được giao cho các giáo viên chủ nhiệm lớp, mỗi năm
nhà trường chỉ tổ chức họp cha, mẹ học sinh tập trung được 02 lần/năm.
II. NỘI DUNG CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH
1. HIV/AIDS và cách tự phòng tránh
1.1 HIV/AIDS là gì? AIDS là một bệnh do virus gây ra. Loại virus này khi vào
trong cơ thể làm cho cơ thể không có khả năng chống đỡ với bệnh tật. Virus đó
được gọi là HIV. Người bị nhiễm HIV có thể sống khoẻ mạnh một thời gian dài từ
5 - 10 năm hoặc lâu hơn, sau đó mới chuyển sang giai đoạn AIDS. Trong khoảng
thời gian đó, vẻ bề ngoài của người nhiễm HIV chẳng khác gì người chưa nhiễm,
nhưng họ có thể làm lây lan HIV nếu không có biện pháp bảo vệ. Chính vì sự lây
lan âm thầm đó mà HIV đã gây ra đại dịch AIDS.
6
1.2 . Ai có thể bị nhiễm HIV?
Tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm HIV nếu không biết cách tự phòng tránh.
1.3. Các hành vi nguy cơ chính làm lây truyền HIV
Một người có thể bị lây nhiễm HIV khi HIV xâm nhập được vào dòng máu trong
cơ thể của họ thông qua các hành vi như:
- Quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn, miệng mà không sử dụng bao cao
su;
- Dùng chung bơm kim tiêm, dụng cụ xăm trổ, lưỡi dao cạo, dụng cụ làm móng tay
chân… có dính máu nhiễm HIV hoặc khi truyền máu, cấy ghép các bộ phận lấy từ
cơ thể người bị nhiễm HIV;
- Người mẹ bị nhiễm HIV có thể làm lây truyền HIV sang cho con trong quá trình
mang thai, sinh con hoặc qua bú sữa mẹ;….
1.4. HIV có thể lây truyền qua đường tình dục khi nào?
Một người bị nhiễm HIV thì trong máu, dịch âm đạo hoặc tinh dịch của họ sẽ có
nhiều HIV. Do vậy, khi quan hệ tình dục với người bị nhiễm HIV mà không sử
dụng bao cao su, HIV sẽ xâm nhập vào cơ thể bạn và bạn cũng sẽ trở thành người
nhiễm HIV.

- Qua quá trình đẻ, HIV có trong nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của người mẹ
có thể lây truyền qua các vết sây sát li ti hoặc qua niêm mạc miệng, mắt, mũi của
thai nhi;
- Qua sữa mẹ khi cho con bú hoặc trong quá trình cho con bú, đầu vú mẹ có thể bị
tổn thương và tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc miệng bị sây sát của trẻ nhi. Nhưng
việc lây qua sữa mẹ thường ít gặp do số lượng HIV trong sữa rất ít…
1.8. Bạn có thể biết ai là người nhiễm HIV hay không?
Nhiều người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu hiện gì bên
ngoài để có thể nhận biết được. Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể có
các triệu chứng của nhiều bệnh thông thường như sốt, nổi hạch, nổi ban đỏ trong 8-
8
10 ngày rồi trở lại bình thường. Vì vậy, cách duy nhất để biết mình có bị nhiễm
HIV hay không là phải xét nghiệm máu tại các cơ sở xét nghiệm HIV chuẩn thức
theo quy định của Bộ Y tế.
1.9. Lợi ích của việc xét nghiệm HIV và tư vấn là gì?
Xét nghiệm HIV sẽ cho bạn biết có bị nhiễm HIV hay không? Đối với những người
đã bị nhiễm HIV, xét nghiệm và tư vấn sẽ giúp họ bảo vệ sức khoẻ cho chính mình
và gia đình. Điều đó giúp người bị nhiễm HIV có thể:
- Hiểu biết hơn về sự lây nhiễm của HIV/AIDS để phòng lan truyền HIV cho gia
đình và cộng đồng
- Bắt đầu với việc điều trị để giảm sự nhân lên của HIV trong cơ thể, làm chậm quá
trình tiến triển thành AIDS và giảm sự phát triển của các bệnh nhiễm trùng cơ hội,
đặc biệt là bệnh phổi.
Thay đổi lối sống, nề nếp (chế độ ăn, tập thể dục, tránh sự căng thẳng, không hút
thuốc lá, không sử dụng ma tuý, không mua bán dâm…) nhằm làm tăng sức đề
kháng chống lại bệnh tật.
Biết tự chăm sóc bản thân để kéo dài cuộc sống và sống an toàn , hữu ích
Có quyết định sáng suốt về các mối quan hệ với gia đình, cộng đồng xã hội và các
kế hoạch lâu dài khác…
1.10. Người nhiễm HIV sinh hoạt với gia đình cần làm gì để tránh lây

Cách phát hiện: theo dõi số lần đi ngoài và đặc điểm của phân. Bệnh nhân bị tiêu
chảy khi đi ngoài 3lần/ngày và phân lỏng, không thành khuôn, mùi hôi. Ngoài ra có
những biểu hiện khác như: đau bụng, nôn ói, mệt mỏi, da khô lạnh, mắt trũng…
Các biện pháp xử trí:
Nếu mất nước đáng kể, bồi phụ nước cho người nhiễm: uống dung dịch ORS theo
nhu cầu, nếu không có ORS có thể cho người bệnh uống nước gạo rang hoặc nước
cháo muối.
10
Không nên uống các đồ uống có đường, có gas, cà phê, nước trà thảo mộc. Đối với
trẻ em cần tiếp tục cho trẻ bú như thường.
Cho ăn các thức ăn dễ tiêu, giàu dinh dưỡng, ăn ít một và nhiều lần. Thức ăn phải
được nấu chín kỹ và không bị ôi thiu.
Rửa hậu môn bằng nước ấm và xà phòng sau mỗi lần đi ngoài.
Kiểm tra các vết sước quanh hậu môn và xử lý bằng dung dịch sát trùng nhẹ như
nước muối loãng hoặc dung dịch xanh mêtilen.
Dùng các thuốc tiêu chảy theo đơn của thầy thuốc.
Những trường hợp tiêu chảy nặng, kéo dài hoặc kèm theo nôn, sốt cao, đi ngoài
phân lẫn máu, phải đưa bệnh nhân vào viện để tiện theo dõi và cấp cứu kịp thời.
1.13. Phòng ngừa và điều trị tổn thương ngoài da như thế nào ở người
nhiễm HIV/AIDS
Tiến hành rửa nơi thương tổn đều đặn bằng dung dịch thuốc tím loãng, sạch, nước
muối pha loãng, tốt nhất là nước muối đóng chai. Sau khi rửa phải thấm khô.
Chú ý:
Dịch tiết hoặc máu từ vết thương là nguồn lây, do vậy trước khi tiến hành lau
rửacho bệnh nhân cần phải đi găng để tránh tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết tại nơi
tổn thương.
Tổn thương cần được để hở thường xuyên nhằm giúp vết thương mau khô và lành.
Nếu vết thương có mủ, máu thì nên rửa bằng thuốc tím, rồi băng nhẹ bằng gạc
mềm, không nên băng quá chặt.
Khi bệnh nhân ốm nặng, cần xoa bóp nhẹ nhàng và thay đổi tư thế thường xuyên

Với trẻ nhỏ, nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng
như truỵ tim mạch, gây nguy cơ tử vong. bệnh sốt xuất huyết thường ít xuất hiện ở
người lớn. Tuy nhiên người lớn khi bị sốt xuất huyết lại dễ tử vong hơn trẻ em. Sự
thay đổi bệnh lý cơ bản ở người lớn chủ yếu là hiện tượng chảy máu như chảy máu
dạ dày, thành ruột ở người loét dạ dày, hoặc gây rong kinh.
12
Khi mắc bệnh sốt xuất huyết, trẻ em hay người lớn đều cần phải uống nước nhiều
mà không nhất thiết phải truyền dịch. Nếu truyền dịch ồ ạt trong thời gian đầu, đến
khi gặp các trường hợp sốc hay trụy tim mạch, hệ tuần hoàn quá tải sẽ dẫn đến tình
trạng cơ thể phù nề, còn nguy hiểm đến tính mạng hơn căn bệnh sốt xuất huyết.
Triệu chứng bệnh
Bệnh phát ra sau khi bị muỗi đốt từ 3 đến 8 ngày. Triệu chứng thông thường giống
như cảm cúm: sốt cao, đau khớp, đau đầu, đau sau hốc mắt kèm buồn nôn. Sau 2
đến 4 ngày, sốt sẽ giảm dần kèm ra nhiều mồ hôi và bệnh nhân thấy khoẻ hơn. Sau
đó sốt quay trở lại kèm theo phát ban trên da.
Ở dạng sốt xuất huyết thông thường, bệnh sẽ khỏi nhanh với việc điều trị theo triệu
chứng (uống Paracetamol hạ sốt, uống nhiều nước tránh mất nước). Tuy nhiên, cảm
giác đau và mệt sẽ kéo dài nhiều tuần. Thời kỳ phục hồi thường có mệt mỏi, đau
kéo dài vài tuần.
Sốt xuất huyết chảy máu là một dạng nguy hiểm hơn. Triệu chứng chủ yếu vẫn là
những biểu hiện thông thường như: thể trạng giảm sút, rối loạn tiêu hóa
Ngoài ra, còn có thêm các triệu chứng khác như các vết thâm trên da, chảy máu
nhiều nơi (mũi, lợi, nôn ra máu và đi ngoài phân đen). Gặp tình trạng này, cần đưa
ngay bệnh nhân đến bệnh viện, nếu không sẽ dẫn đến nguy kịch
Hiện nay chưa có một phương pháp điều trị đặc hiệu nào. Sau khi theo dõi xét
nghiệm máu, bác sĩ cho dùng các thuốc chủ yếu bao gồm thuốc giảm đau,
Paracetamol và tiếp nước cho bệnh nhân. Nguy cơ chủ yếu của sốt xuất huyết là
chảy máu, chính vì vậy không được sử dụng Aspirin mà chỉ nên dùng Paracetamol.
2.2. Một vài biện pháp đơn giản để phòng bệnh
Cách phòng dịch: Cần tăng cường vệ sinh môi trường, phát quang bụi rậm,

hiện trước tiên ở mặt, sau đó đến thân và chân tay. Ban tập trung mọc ở mặt,
chân tay nhiều hơn ở thân. Người đã được chủng đậu trước đây, nếu bị nhiễm vi
rút đậu mùa có thể không bị bệnh hoặc có biểu hiện triệu chứng toàn thân nhẹ,
phát ban không điển hình và thường không có các giai đoạn tiến triển của ban.
14
Có 2 thể dịch tễ học lâm sàng của bệnh đậu mùa là bệnh đậu mùa nhẹ (alastrim)
và bệnh đậu mùa nặng (smallpox).
Thể bệnh nặng có tỷ lệ chết/mắc ở người chưa chủng đậu khoảng 15 - 40%. Tử
vong có thể xảy ra sớm vào ngày thứ 2, thứ 3, nhưng bị chết nhiều trong tuần
thứ 2. Khoảng 3% bệnh nhân nặng trong bệnh viện đã trải qua thời kỳ tiền triệu
nghiêm trọng, bị kiệt sức, chảy máu ở da, niêm mạc, tử cung, bộ phận sinh dục,
đặc biệt ở phụ nữ có thai. Những trường hợp bị chảy máu như vậy bị chết rất
nhanh.
Những vụ dịch đậu mùa nhẹ có liên quan đến tỷ lệ tử vong dưới 1%. Tuy nhiên,
triệu chứng phát ban vẫn xảy ra tương tự như ở thể bệnh nặng. Nói chung,
những phản ứng toàn thân của thể bệnh nhẹ xảy ra ít nghiêm trọng hơn và hiếm
thấy chảy máu.
4.2. Tác nhân gây bệnh
- Tên tác nhân: Variola virus thuộc loài Orthopoxvirus. Trước khi thanh toán
bệnh đậu mùa, Variola virus tồn tại 2 chủng (strains) vi rút có liên quan là
Variola major gây bệnh đậu mùa nặng (smallpox) có tỷ lệ chết/mắc từ 20 - 50%
và Variola minor gây bệnh đậu mùa nhẹ (alastrim) có tỷ lệ chết dưới 1%.
- Hình thái: Vi rút đậu mùa có dạng hình khối chữ nhật với các cạnh được vê
tròn, có kích thước khoảng 280 - 320 nm x 200 - 250 nm và là vi rút có kích
thước lớn nhất. Lõi của vi rút là một nucleotid với vật liệu di truyền là ADN.
- Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài. Vi rút đậu mùa cũng là vi rút có
sức đề kháng cao nhất. Ở vảy mụn đậu khô và ở nhiệt độ phòng, vi rút sống
được nhiều tháng, rất nguy hiểm. Tuy nhiên, vi rút dễ bị bất hoạt bởi các chất
diệt khuẩn, bởi nhiệt độ trên 55
o

Bệnh gây ra bởi vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis hay Bacille de Koch
(BK) tấn công bất cứ phần nào của cơ thể, nhưng thông thường nhất là ở phổi (gọi
là lao phổi). Vi khuẩn lao trú ngụ trong cơ thể và lây truyền từ người này sang
16
người khác mỗi khi ho, hắt hơi, nói chuyện. Khi đó, vi khuẩn lao sẽ theo không khí
vào tận phế nang rồi sinh sôi nảy nở và gây thương tổn ở đây. Những người đứng
gần sẽ hít phải vi khuẩn lao và vô tình mang phải mầm bệnh (nhiễm lao).
Đa số những người bị nhiễm lao hoàn toàn không có biểu hiện gì, vi khuẩn lao có
thể sống tiềm ẩn đợi đến lúc sức đề kháng của cơ thể suy yếu mới phát triển và gây
bệnh.
5.3. Các triệu chứng bệnh lao:
- Ho khạc kéo dài trên 2 tuần (lúc đầu ho khan sau có đờm, đôi khi đờm có dính vài
tia máu).
- Giảm cân, ăn không ngon, cảm giác mỏi mệt toàn thân, sụt cân trong những tháng
đầu.
- Ra nhiều mồ hôi vào ban đêm.
- Sốt nhẹ về chiều, đau ngực, biếng ăn.
- Ho ra máu.
- Có những cơn lạnh run.
- Đôi khi bệnh không biểu hiện gì rõ ràng, người bệnh vẫn khỏe mạnh, sinh hoạt
bình thường, chỉ khi kiểm tra sức khỏe mới phát hiện mình đã mắc bệnh lao.
Do tính đa dạng này mà bệnh dễ bị bỏ qua hay lầm tưởng với bệnh phổi khác. Vì
thế khi có những triệu chứng trên, nhất là ho kéo dài trên 3 tuần, người bệnh nên đi
khám ngay. Nếu phát hiện và điều trị sớm, tổn thương phổi còn nhỏ, số lượng vi
khuẩn lao ít thì khả năng chữa lành bệnh càng cao, trên 95% và không để lại di
chứng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sau này.
Thử đờm là cách tốt nhất để xác định bệnh lao phổi. Khi cần bác sĩ sẽ yêu cầu chụp
Xquang phổi.
5.4. Điều trị bệnh lao
Hiện nay bệnh lao có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được điều trị sớm, đúng

ở các mức độ khác nhau. Bệnh thường bắt đầu từ một mắt rồi lây sang mắt thứ hai
18
sau một vài ngày. Mi mắt có biểu hiện sưng nề, kết mạc cương tụ đỏ (mắt đỏ), có
thể thấy xuất huyết dưới kết mạc kèm hiện tượng nước mắt cũng có màu hồng chảy
ra ngoài khe mi.
Mắt đau có dử mắt (ghèn) màu vàng hoặc vàng xanh, cũng có khi màu nâu vì có
lẫn máu. Chất này đọng thành cục, rất dính khiến cho bệnh nhân có thể bị dính hai
mi vào buổi sáng khi ngủ dậy. Một số trường hợp viêm kết mạc cấp có "giả mạc"
(hiện tượng mắt có một lớp tơ huyết cô đặc lại, màu hơi vàng phủ lên kết mạc). Giả
mạc mủn và dễ bóc, nhưng có thể xuất hiện lại rất nhanh chóng.
6.2. Nguyên nhân gây nên viêm kết mạc cấp
Nguyên nhân gây nên viêm kết mạc cấp thường do bị nhiễm khuẩn đường hô
hấp trên hoặc do tiếp xúc với người đau mắt. Vì vậy, ngoài biểu hiện viêm ở kết
mạc, bệnh nhân có thể viêm họng và nổi hạch trước tai. Bệnh thường xuất hiện vào
thời gian mùa hè sau đợt mưa, lụt. Khi trời nắng ráo, đất cát khô, gió bụi bẩn,
nguồn nước ô nhiễm là nguyên nhân của đau mắt đỏ. Vì vậy, bệnh này cũng thường
xuất hiện ở vùng lũ lụt, từ đó phát tán rộng. Bệnh có thể gây thành dịch trong một
vùng dân cư rộng lớn, đặc biệt nơi tập trung đông người như khu tập thể, nhà trẻ,
trường học.
6.3. Đây là bệnh dễ lây lan
Để phòng bệnh, chúng ta cần giữ vệ sinh đôi mắt. Tuyệt đối không dùng tay
bẩn hoặc khăn bẩn lau dụi mắt. Cần giữ vệ sinh tay sạch sẽ bằng cách rửa xà
phòng. Tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ dùng: khăn, chậu với người đau
mắt đỏ. Trong môi trường tập thể, trường hợp bị đau mắt đỏ cần được nghỉ ở nhà
điều trị.
6.4. Khi mắc bệnh, có thể chườm lạnh mắt 3-4 lần trong ngày. Có thể sát
trùng nhẹ bằng nước muối 9%. Trường hợp khó chịu nhiều, cộm mắt, tra dung dịch
kháng sinh như: Tobradex 1%; Maxitrol 1% từ 4-6 lần/ngày. Lưu ý, nếu mắt có giả
mạc cần phải bóc đi rồi tra thuốc mới có tác dụng. Bệnh nhân khi đau mắt đỏ nên
đến cơ sở điều trị chuyên khoa để được khám, tư vấn điều trị, không tự ý dùng

thì đây là căn bệnh mà tuổi ấu thơ hầu như ai cũng mắc phải. Phòng bệnh bằng
vaccin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, tuy nhiên người ta thấy rằng việc
tiêm một mũi vaccin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi
trong cộng đồng vì tỷ lệ trẻ tiêm phòng bệnh sót cũng như tỷ lệ đạt được miễn dịch
của vaccin này cũng chỉ đạt xung quanh 90%.
Do vậy cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2, thời gian tiêm là khi trẻ đủ 6 tuổi, độ tuổi
bước vào lớp 1. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch tới 99%. Chương trình
TCMR Việt Nam đã thực hiện mũi nhắc lại này trên cả nước từ năm 2006. Tại các
địa phương còn xuất hiện những vụ dịch sởi nhỏ, khi đối tượng mắc không chỉ có
trẻ em thì cần thiết phải thực hiện những chiến dịch tiêm nhắc cho người dân khu
vực này để tạo miễn dịch lớn và bền vững trong cộng đồng trong nhiều năm. Hiệu
quả của tiêm phòng vaccin sởi còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bảo quản, vận
chuyển vaccin. Nhiệt độ bảo quản vaccin lý tưởng là từ 2-8oC. Có thể dùng loại
vaccin kết hợp sởi - quai bị - rubella (MMR) để phòng được 3 bệnh một lúc.
Tất cả bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và tại các cơ sở y tế. Trước
khi tiêm, cán bộ y tế cần khám sơ loại, nếu trẻ đang mắc các bệnh khác thì có thể
hoãn lịch tiêm đến khi trẻ khỏe mạnh bình thường.
8. Bệnh cúm
8.1. Cúm là bệnh viêm đường hô hấp cấp tính do virus, lây lan nhanh. Bệnh lây
chủ yếu từ người bệnh sang người lành qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp theo
đường hô hấp, niêm mạc mắt; đặc biệt bệnh cúm gà có thể lây từ gà, ngan sang
người với tỷ lệ tử vong cao. Bệnh có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, ho, đau họng
có thể dẫn đến viêm phổi nặng và tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp
thời.
8.2. biện pháp sau:
a. Vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống:
- Đảm bảo vệ sinh cá nhân hằng ngày;
21
- Không sử dụng thịt và các sản phẩm từ súc vật mắc bệnh;
- Sử dụng các thuốc sát khuẩn đường mũi họng hằng ngày.

khi ra nước trong mới thôi. Nếu không nôn được thì phải rửa dạ dày,
* Hút chất độc trong đường tiêu hóa
Uống 20 g than hoạt tính (trộn với ít đường trắng cho dễ uống), sau đó chiêu một
chén nước sôi để nguội. Than hoạt sẽ hấp phụ chất độc, chuyển vào phân để tống ra
ngoài. Nếu không có than hoạt thì mua viên Carbogast hoặc Carbophos 400
mg/viên để uống. Nếu nạn nhân mê man bất tỉnh, cần đưa đi cấp cứu ngay.
* Giải độc
Tuy phần lớn chất độc đã được đưa ra khỏi cơ thể do gây nôn (hoặc rửa dạ dày) và
uống chất hút độc, song phần còn dính trong đường tiêu hóa vẫn nguy hiểm cho sức
khỏe. Vì vậy nạn nhân cần nhanh chóng áp dụng các phương pháp giải độc.
10. Đề phòng ngộ độc khi ăn măng
10.1. Tại sao măng tươi lại gây ngộ độc?
Cyanide là gốc Acid (-CN) mà hợp chất của nó bao gồm các muối hoặc
Acid, có đặc tính rất độc, liều gây tử vong qua đường tiêu hoá là 1 mg/kg trọng
lượng cơ thể.
Trong măng tươi có hàm lượng cyanide rất cao, khoảng 230mg/kg măng củ. Khi
người ăn phải măng có chứa nhiều cyanide, dưới tác động của các enzym đường
tiêu hóa, cyanide ngay lập tức biến thành acid cyanhydric (HCN), là một chất cực
độc với cơ thể và gây ngộ độc.
10.2. Biều hiện của ngộ độc măng tươi
Tùy theo hàm lượng Cyanide có trong măng mà người ăn có biểu hiện ngộ
độc ở mức độ nặng, nhẹ khác nhau. Các triệu chứng thường xuất hiện sau khi ăn
măng khoảng từ 5 - 30 phút. Trường hợp nhẹ, biểu hiện sợ hãi, lo lắng, chóng mặt,
đau đầu, rối loạn ý thức, buồn nôn, nôn, kích thích niêm mạc đường hô hấp…
23
Trường hợp nặng có biểu hiện co giật, cứng hàm, duỗi cứng, giãn đồng tử, suy hô
hấp, tím tái, hôn mê. Nặng hơn nữa sẽ ngừng thở, tim đập nhanh và không đều, rối
loạn dẫn truyền nhĩ thất, là nguyên nhân chính gây tử vong sau vài phút nếu không
được cấp cứu kịp thời.
10.3. Xử trí ngộ độc măng

biến ngay; nếu chế biến không kịp thì phảo vùi xuống đất. Trước khi chế biến, cần
lột hết vỏ sắn rồi ngâm vào nước (là nước vo gạo càng tốt). Khi luộc, nên mở vung
nhiều lần để chất độc bay hơi bớt.
Tốt nhất là ăn sắn luộc với các loại đường, mật để trung hòa axit độc trong sắn (nếu
còn). Không nên ăn sắn luộc vào buổi tối vì nếu bị ngộ độc, nạn nhân đang ngủ sẽ
không phát hiện được.
Đối với các sản phẩm chế biến từ sắn, không cần e ngại về nguy cơ ngộ độc vì
chúng đã được khử độc, không gây hại cho con người nữa.
12. Ngộ độc thuốc trừ sâu phospho hữu cơ
12.1. Bốn loại phospho hữu cơ đã và đang được sử dụng phổ biến ở nước ta
- Thiophốt (Parathion) màu vàng, mùi tỏi, dạng nhũ tương.
- Vôfatốc (methyl parathion) màu nâu thẫm (dạng nhũ tương) hoặc màu đỏ tươi
(dạng bột) mùi cỏ thối.
- Dipterec dạng tinh thể, màu trắng.
- DDVP (dichloro diphenyl vinyl phosphat) màu vàng nhạt.
Phospho hữu cơ xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, da, niêm mạc (nhất là
mắt) và chủ yếu là đường tiêu hóa (do bàn tay dính thuốc, ăn uống nhầm, tự tử, đầu
độc ).
12.2. Triệu chứng ngộ độc phospho hữu cơ:
có 2 nhóm triệu chứng chính:
Giống muscarin: kích thích hệ thần kinh phó giao cảm, gây:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status