tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu nguyên liệu tạo bầu ươm và quản lý dinh dưỡng khoáng đối với cây giống trong bầu - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LƯƠNG THANH SƠN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁ TẠI CHÀ CỐ ĐỊNH
SỬ DỤNG TRONG NGHỀ VÂY XA BỜ
TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Khai thác thuỷ sản
Mã số: 62.62.80.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện Trường đại học Nha Trang.
2. Thư viện Quốc gia
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1. Lương Thanh Sơn (2001), Nghiên cứu biện pháp nâng
cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận, Đề tài
cấp tỉnh Bình Thuận.
2. Lương Thanh Sơn (2002), “Cơ sở sinh học của nghề
khai thác cá bằng thả chà ở vùng nước ven bờ
tỉnh Bình Thuận”, Báo cáo Hội nghị khoa học
Biển Đông
3. Lương Thanh Sơn (2003), Khả
o sát điều chỉnh quy
hoạch vùng chà tỉnh Bình Thuận đến năm 2010,
Báo cáo đề án của tỉnh Bình Thuận.
4. Lương Thanh Sơn (2006), “Phát triển bền vững nghề
chà tại Bình Thuận”, Tạp chí Thông tin Khoa học
Công nghệ và Kinh tế Thuỷ sản, Trung tâm Tin
học Bộ Thuỷ sản, Số 5/2006.
5. Lương Thanh Sơn (2006), “Nghiên cứu xác định sự
phân bố, biến động vùng chà tỉnh Bình Thuận”,
Tạp chí Khoa học công ngh
ệ Thuỷ sản, Trường
Đại học Thuỷ sản, Số 3/2006.
6. Lương Thanh Sơn (2006), “Đánh giá ảnh hưởng của
động thực vật phù du đến sự tập trung của cá

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án:
Chà là một trong những công cụ quan trọng trợ giúp đắc lực
cho nghề vây tập trung được các đàn cá nổi, giảm bớt thời gian, chi
phí đi lại tìm kiếm đàn cá. Việc nghiên cứu ứng dụng chà trong nghề
vây đã được nhiều nước trên thế giới triển khai và thu được nhiều kết
quả khả quan, có nước đã thật sự tạo
được bước ngoặc trong lịch sử
phát triển nghề cá của mình. Đối với Việt Nam, chà đã được ngư dân
ứng dụng vào khai thác cá từ khá lâu và liên tục tồn tại cho đến ngày
nay. Đặc biệt đối với các thuyền khai thác nghề vây của tỉnh Bình
Thuận, chà sử dụng rất phổ biến và là công cụ không thể thiếu được
nhằm nâng cao hiệu quả khai thác trên biển. Tại tỉnh Bình Thuận,
sản lượng khai thác c
ủa nghề vây hàng năm đạt từ 45.000 – 60.000
tấn, chiếm khoảng (30 ÷ 40) % tổng sản lượng khai thác hải sản toàn
tỉnh. Đối tượng khai thác của nghề vây chủ yếu là các loài cá nổi
như: Nục, Bạc má, Ngân, Trích, Chỉ vàng,
Mặc dù chà có tầm quan trọng và được ngư dân sử dụng
trong thời gian dài để khai thác cá, nhưng cho đến nay, những hiểu
biết về sử dụng chà trong khai thác cá hầu hết đều dựa vào tậ

5. Bố cục của luận án:
Luận án được trình bày trong 130 trang, 28 bảng số liệu và
60 hình vẽ đồ thị. Ngoài phần mở đầu 4 trang và kết luận 3 trang,
luậ
n án được bố cục thành 4 chương: Chương 1: Tổng quan (36
trang); Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu (16 trang);
Chương 3: Phân tích, xác định yếu tố nghiên cứu và khảo sát số liệu
(29 trang); Chương 4: Đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng
đến sự tập trung của cá tại chà (39 trang). Ngoài ra, luận án còn có
phần phụ lục. Luận án sử dụng 70 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt
và tiếng Anh
6. Ý nghĩa khoa học và thực ti
ễn của luận án:

2.3. Mở rộng các kết quả ứng dụng phương pháp, công nghệ
mới như hệ thống thông tin địa lý (GIS), phân tích ảnh viễn
thám, trong nghiên cứu về môi trường, nguồn lợi, quản lý, phát
triển nghề khai thác cá có sử dụng chà tại Bình Thuận và các vùng
biển nước ta có điều kiện tương tự.
8
(Với: R
2
= 0,857; 5,5 tấn/tháng ≤ Y ≤ 8,6 tấn/tháng; 25,2
0
C ≤
X
2
≤ 27,5
0
C ; 37,3 mg/m
3
≤ X
7
≤ 75,6 mg/m
3
; 150 tàu dừa ≤ X
8

650 tàu dừa ); mô hình quan hệ giữa sản lượng cá khai thác tại
chà vào đầu vụ phụ thuộc chủ yếu vào động vật phù du, số
lượng tàu dừa và thời gian sử dụng vị trí thả chà: log Y = -
4,522 + 0,2log X
7
+ 0,29 log X
8
+ 0,08 log X
10
(Với: R
2

hệ các yếu tố môi trường, cấu trúc chà đến sự tập trung của cá ở vùng
đặt chà cố định sử dụng trong nghề lưới vây xa bờ tỉnh Bình Thuận.
- Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát, bằng phương pháp phân
tích logic thông tin và phương pháp thống kê toán học, lu
ận án đã
xác định được mức độ và tính quy luật tác động của 11 yếu tố môi
trường, cấu trúc chà đến sự tập trung của cá tại chà cố định.
- Luận án đã đề xuất các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên
cứu vào nâng cao hiệu quả của nghề lưới vây kết hợp chà cố định ở
vùng biển tỉnh Bình Thuận, đồng thời mở ra khả năng
ứng dụng vào
các vùng biển nước ta có điều kiện môi trường và nghề vây sử dụng
chà tương tự.
Chương 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà trên thế giới:
Từ lâu, chà đã được ngư dân nhiều nước trên thế giới sử dụng
để khai thác cá, trong đó nhiều nhất là các nước trong khu vực Đông
Nam Á và đã mang lại hiệu quả thiết thực.
Đến những năm 1970, khi nghề l
ưới vây phát triển, những kiểu
chà truyền thống đã dần được thay thế bằng các kiểu chà nổi khác
nhau để khai thác các loài cá nổi có kích thước lớn sống vùng khơi
như cá Ngừ, cá Thu. Hiện nay, phần lớn cá ngừ của thế giới khai
thác được nhờ sử dụng chà. Những kiểu chà hiện đại có thể đặt ở độ
sâu trên 2000 m và thời gian tồn tại có thể lên đến 5 năm.
Một số
quốc gia có nghiên cứu sử dụng chà nhiều là: Mỹ,
Nhật, Úc, Pô-li-nê-xia thuộc Pháp, Phi-líp-pin, Xri-Lan-ca, In-đô-nê-
xia , Những nghiên cứu của họ về chà được thực hiện chủ yếu thông

lá dừa, thả ở vùng nước nông gần bờ để thu hút các loài cá nổi có
kích thước nhỏ: Cá Nục, Chỉ vàng, Ngân, Bạc má,
Các nghề khai thác sử dụng chà bao gồm: Nghề vây rút chì,
câu, mành. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
1.1. Hiện tượng cá tập trung tại chà là kết quả của một quá
trình tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên môi trường, đặc
điểm cấu trúc chà tạo nên trên một cơ chế sinh lý thích nghi của cơ
thể cá với môi trường. Việc nghiên cứu xác định các mối quan hệ và
mức độ tác động của các yếu tố
ảnh hưởng đến sự tập trung của các
tại chà có ý nghĩa khoa học và thực tiễn để nâng cao hiệu quả sử
dụng chà trong khai thác cá.
1.2. Luận án đã phân tích xác định được 11 yếu tố điều kiện tự
nhiên môi trường và đặc điểm cấu tạo chà để đi sâu khảo sát toàn
diện các mối quan hệ của chúng với sự tập trung của cá tại chà cố
định sử dụ
ng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận. Mười một yếu
tố đó là: Độ sâu thả chà, nhiệt độ nước biển tầng mặt, dòng chảy tầng
mặt, địa hình đáy biển, chất đáy, thực vật phù du, động vật phù du,
số lượng tàu dừa, mức độ bổ sung chà, thời gian sử dụng vị trí thả
chà, vật liệu làm chà.
1.3. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 11 y
ếu tố nghiên cứu đều
có ảnh hưởng đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong
nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận. Trong phạm vi nghiên cứu đó, 8
yếu tố có tác động mạnh cần quan tâm là: Nhiệt độ nước biển tầng

8
+ 0,08 log X
10

Trong đó nên chọn các giá trị: Khối lượng động vật phù du 60
≤X
7
≤75,6 mg/m
3
; số lượng tàu dừa 250≤X
8
≤600 tàu dừa; thời gian
sử dụng vị trí thả chà 5 ≤ X
10
≤ 14 năm
4.5.2. Cải tiến vật liệu làm chà:
u cầu của vật liệu làm chà là phải sẵn có, chi phí thấp, chịu
được điều kiện sóng gió của mơi trường biển và phù hợp với tập tính
sinh lý của cá biển. Hạn chế lớn của việc sử dụng chà hiện nay là
phải thay thế, bổ sung chà nhiều lần trong năm do sự mục nát, hư
hỏng của lá dừa dùng làm bộ
phận quyến rũ cá của chà. Chính vì vậy
cần thiết có những nghiên cứu thử nghiệm về sử dụng vật liệu mới
với đặc điểm hình dáng, màu sắc phù hợp để thay thế việc sử dụng lá
dừa làm bộ phận quyến rũ cá của chà.
- Vật liệu đề xuất nghiên cứu thử nghiệm: Cao su hoặc nhựa
tổng hợp
- Đặc đi
ểm cấu tạo hình dáng: Tương tự như tàu dừa, trên đó
có tạo sẵn một số đối tượng cá giả thường tập trung quanh chà như:

o
20'
N
11
o
00'
10
o
40'
10
o
20'
10
o
00'
9
o
40'
N
107 40'E
o
108 00'
o
108 20'
o
108 40'
o
109 00'E
o
M. Cà NáCà Ná

ánh sáng, hải lưu, sóng và thuỷ triều, nồng độ muối, nồng độ ôxy hoà
tan, địa hình và địa ch
ất đáy biển, sinh vật phù du, sinh vật đáy, có
ảnh hưởng đến tập tính sinh lý, sinh thái của cá biển, ngay cả trong
quá trình phát triển của trứng và ấu trùng.
1.4. Một số vấn đề tồn tại cần nghiên cứu trong sử dụng chà khai
thác cá:
- Bên cạnh việc nghiên cứu phát triển kiểu chà nổi đánh bắt
các đối tượng cá nổi lớn ở vùng biển khơi, cần quan tâm nghiên cứu
nâng cao hiệu quả tập trung cá củ
a kiểu chà truyền thống ven bờ để
khai thác các loài cá nổi nhỏ.
- Nghiên cứu tổng quát, đồng bộ các yếu tố môi trường và
đặc điểm cấu trúc chà trong mối quan hệ với tập tính sinh lý của cá.
- Xác định yếu tố ảnh hưởng chủ yếu và tính quy luật của sự
tác động đến hiệu quả tập trung cá
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chà phục vụ
cho s
ản xuất, quản lý và phát triển nghề cá.

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu tình hình sử dụng chà trên thế giới và Việt Nam. 4.5. Đề xuất ý kiến nâng cao hiệu quả thả chà cố định khai thác
cá tại vùng biển Bình Thuận:
4.5.1. Xác định thuộc tính phù hợp của các yếu tố ảnh hưởng:
- Để xác định vị trí thả chà và cấu tạo chà thích hợp nhằm nâng

- Trong thời gian chính vụ và đầu vụ, sử dụng mô hình quan hệ
để xác định vị trí thả chà và cấu tạo chà thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả khai thác cá tại chà:

Trong thời gian chính vụ:
log Y = 4,522 – 1,153 log X
2
+ 0,185 log X
7
+ 0,075 log X
86
19
nước biển tầng mặt (X
2
); số lượng tàu dừa (X
8
); thời gian sử
dụng vị trí thả chà (X
10
).
Kết quả xây dựng mơ hình quan hệ vào chính vụ và đầu vụ
như sau:
-Trong thời gian chính vụ:
log Y = 4,522 – 1,153 log X
2
+ 0,185 log X
7

(Trong đó: R
2
= 0,67; Khoảng dao động của giá trị tính tốn:
2 tấn/tháng ≤ Y ≤ 5,4 tấn/tháng; 38,1 mg/m
3
≤ X
7
≤ 72,8 mg/m
3
;
150 tàu dừa ≤ X
8
≤ 600 tàu dừa; 1 năm ≤ X
10
≤ 14 năm )

- Phân tích, xác định và điều tra khảo sát một số yếu tố liên
quan đến sự tập trung của cá tại chà sử dụng trong nghề vây ở vùng

2
3
4
5
6
7
8
9
1
0
1
1
1
2
1
3
1
4
1
5
1
6
1
7
1
8
1
9
2
0

PHAN THIẾT
M. Kê Gà
Hàm Tân
Đảo Phú Quý
11
o
20'
N
11
o
00'
10
o
40'
10
o
20'
10
o
00'
9
o
40'
N
107 40'E
o
108 00'
o
108 20'
o


Chương 3: PHÂN TÍCH, XÁC ĐỊNH YẾU TỐ
NGHIÊN C
ỨU VÀ KHẢO SÁT SỐ LIỆU

3.1. Phân tích, xác định các yếu tố nghiên cứu:
Qua phân tích, luận án xác định 11 yếu tố đưa vào
khảo sát nghiên cứu chi tiết ảnh hưởng đến sự tập trung của
cá tại chà cố định gồm:
a/ Độ sâu thả chà: Đặc trưng cho sự thay đổi các tính chất của
môi trường vùng biển theo độ sâu và sự thích nghi của các loài cá
theo sự thay đổi của môi trường biển.
b/ Nhiệt độ n
ước biển tầng mặt: Đặc trưng cho sự thay đổi của
nhiệt độ nước biển tầng mặt.
c/ Dòng chảy tầng mặt: Đặc trưng cho sự thay đổi của các yếu
tố hải lưu, gió và thủy triều.

- Vào đầu vụ:
Trong khoảng giá trị nhiệt độ nước biển tầng mặt khảo sát từ
27,5-29,5
0
C, tác động của nhiệt độ là rất yếu (I(v,x) = 0,098; r =
0,239) và xảy ra theo xu hướng: Nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển
tầng mặt cao hơn, khả năng sẽ cho sản lượng cá khai thác tại chà cao
hơn.
Ở nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển tầng mặt từ 27,5- 28,5
0
C,
sản lượng cá khai thác tại chà đạt từ 2-3 tấn/tháng;


17 8
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 37,3-60 mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 5,5-6,9 tấn/tháng;
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 60,1-71,9 mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 7-7,5 tấn/tháng;
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 72-75,6 mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 7-8,6 tấn/tháng;
- Vào đầu vụ:
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 38,1-60 mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 2-2,5 tấn/tháng;
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 60,1-71,9 mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 2,6-5,4 tấn/tháng;
Ở chà có khối lượng động vật phù du từ 72-72,8mg/m
3
, sản
lượng cá khai thác tại chà đạt từ 3,1-5,4 tấn/tháng.
* Nhiệt độ nước biển tầng mặt (X
2
): Mức độ tác động

chà theo thời gian trong tháng, năm khảo sát.
i/ Thời gian sử dụng vị trí thả chà: Đặc trưng cho sự thay đổi
về quy mô chà tích lũy nhiều năm.
j/ Vật liệu làm chà: Đặc trưng cho phản ứng thích nghi của cá
đối với vật liệu làm chà.
3.2. Kết quả khả
o sát số liệu:
- Nhiệt độ nước tầng mặt vào tháng 7/2000 dao động trong
khoảng (25– 27,5)
0
C, trung bình 25,8
0
C; vào tháng 4/2003 dao động
trong khoảng (27,8–29,3)
0
C, trung bình 28,8
0
C .
- Dòng chảy tầng mặt vào tháng 7/2000 có hướng chủ yếu
Đông Bắc với tốc độ dòng dao động từ (25,0-52,3) cm/s, trung bình
37,0 cm/s; vào tháng 4/2003, có hướng chủ yếu Đông Bắc với tốc độ
dòng dao động từ (5,0-50,0) cm/s, trung bình 33,0 cm/s.
- Khối lượng thực vật phù du vào tháng 7/2000 dao
động (10-40)ml/m
3
, trung bình 20,3 ml/m
3
; vào tháng 4/2003
dao động (8,6-39,4)ml/m
3

- Mức độ bổ sung chà của các mẫu chà khảo sát biến đổi
từ 0 đến 2 lần/tháng.
- Thời gian sử dụng vị trí thả chà từ (1-16) năm, trung bình là 6
năm.
- Vật liệu làm chà chủ yếu bằng vật liệu tre, đá, lá dừa. Khi vào
thời điểm chính vụ tỷ lệ chà có sử dụng kết hợp vật liệu khác như bụi
me, bụi dứa, xác tàu đắm, t
ăng lên chiếm 64,2 %.
- Sản lượng cá khai thác của một chà vào tháng 7/2000
dao động từ (5,5-8,6) tấn/tháng; trung bình 7,1 tấn/tháng;
vào tháng 4/2003, sản lượng cá khai thác của một chà dao
động từ (2-4,3) tấn/tháng; trung bình 2,8 tấn/tháng.
Nhìn chung, số liệu khảo sát điều tra được tiến hành
đồng bộ tại 2 đợt khảo sát vào chính vụ (tháng 7/2000) và
đầu vụ (tháng 4/2003). Đợt khảo sát vào tháng 7/2000, đặc
Khi nơi đặt chà có chất đáy cát bùn, chất đáy sỏi lẫn vỏ sò, sản
lượng cá khai thác tạ
i chà đạt từ 7,0-8,6 tấn/tháng;
- Vào đầu vụ:
Khi nơi đặt chà có chất đáy bùn cát thì sản lượng cá khai thác
tại chà đạt từ 2-2,5 tấn/tháng;
Khi nơi đặt chà có chất đáy cát bùn, sản lượng cá khai thác tại
chà đạt từ 3,1-5,4 tấn/tháng;
Khi nơi đặt chà có chất đáy sỏi lẫn vỏ sò, sản lượng cá khai
thác tại chà đạt từ 2,6-5,4 tấn/tháng;
* Địa hình đáy (X
4
): Tính quy luật tác động là: Nơi đặt chà
có địa hình đáy nghiêng cho sản lượng khai thác cao hơn nơi đặt chà
có địa hình đáy bằng phẳng. Cụ thể:

năm, xu hướng chà có thời gian sử dụng lâu hơn, khả năng sẽ cho
sản lượng cá khai thác tại chà cao hơn. Cụ thể:
- Trong thời gian chính vụ:
Khi chà có thời gian sử dụng từ 1-4,9 năm thì sản lượng cá
khai thác tại chà đạt từ 5,5-6,9 tấn/tháng;
Khi chà có thời gian sử dụng từ 5-16 năm, sản lượng cá khai
thác tại chà
đạt từ 7,0-8,6 tấn/tháng;
- Vào đầu vụ:
Khi chà có thời gian sử dụng từ 1-4,9 năm thì sản lượng cá
khai thác tại chà đạt từ 2-2,5 tấn/tháng;
Khi chà có thời gian sử dụng từ 5-14 năm, sản lượng cá khai
thác tại chà đạt từ 2,6-5,4 tấn/tháng;
* Chất đáy (X
5
): Tính quy luật tác động là: Nơi đặt chà có
chất đáy là sỏi lẫn vỏ sò cho sản lượng khai thác cao hơn nơi đặt chà
có chất đáy cát bùn; nơi đặt chà có chất đáy cát bùn cho sản lượng
cao hơn chà có chất đáy bùn cát. Cụ thể:
- Trong thời gian chính vụ:
Khi nơi đặt chà có chất đáy bùn cát thì sản lượng cá khai thác
tại chà đạt từ 5,5-6,9 tấn/tháng;

trưng cho thời kỳ chính vụ của hoạt
động khai thác cá có sử
dụng chà tại Bình Thuận tương ứng với thời kỳ hoạt động
mạnh nhất của nước trồi; còn đợt khảo sát vào tháng 4/2003,
đặc trưng cho thời kỳ mới hoặc sắp bắt đầu vụ cá chính
tương ứng với thời kỳ mới hoặc sắp bắt đầu thời kỳ hoạt
động của nước trồi.

(X
8
); địa hình đáy (X
4
); chất đáy (X
5
); thời gian sử dụng vị
trí thả chà (X
10
) (có giá trị I(v,x)>0,2).
Tại đợt khảo sát vào đầu vụ, các yếu tố có tác động
mạnh nhất đến hiện tượng nghiên cứu gồm: Vật liệu làm chà
11
14
(X
11
);

số lượng tàu dừa (X
8
); mức độ bổ sung chà (X
9
); chất
đáy (X
5
); thời gian sử dụng vị trí thả chà (X
10
); động vật phù
du (X
7

ng sẽ cho
sản lượng cá khai thác tại chà ở mức 2-3,0 tấn/tháng;
* Mức độ bổ sung chà (X
9
): Tính quy luật tác động là:
Nếu chà có số lần bổ sung trong tháng nhiều hơn khả năng sẽ cho sản
lượng cá khai thác tại chà cao hơn. Cụ thể:
- Trong thời gian Chính vụ:
Khi chà không được bổ sung lần nào trong tháng thì sản lượng
cá khai thác tại chà chỉ đạt từ 5,5-6,9 tấn/tháng;
Khi chà được bổ sung 1 lần trong tháng thì sản lượng cá khai
thác tại chà đạt từ 7,0-8,6 tấn/tháng;
Khi chà được bổ sung 2 lần trong tháng thì sản lượng cá khai
thác tại chà đạ
t từ 7,6-8,6 tấn/tháng.
- Vào đầu vụ:
Khi chà không được bổ sung lần nào trong tháng thì sản
lượng cá khai thác tại chà chỉ đạt từ 2-2,5 tấn/tháng;
Khi chà được bổ sung 1 lần trong tháng thì sản lượng cá khai
thác tại chà đạt từ 2,6-5,4 tấn/tháng;
* Số lượng tàu dừa (X
8
): Tính quy luật tác động là: Trong
khoảng giá trị tàu dừa đã khảo sát từ 150-650 tàu/chà, nếu chà có số
lượng tàu dừa nhiều hơn, khả năng sẽ cho sản lượng cá khai thác tại
chà cao hơn. Cụ thể:
- Trong thời gian chính vụ:
Khi chà có số lượng tàu dừa từ 150-200 tàu/chà thì sản lượng
cá khai thác tại chà chỉ đạt từ 5,5-6,9 tấn/tháng;
Khi chà có số lượng tàu dừa từ 201-400 tàu/chà thì sản lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status