khảo sát, đánh giá sự phân bố hàm lượng các kim loại nặng trong nước và trầm tích hệ thống sông đáy - Pdf 24

Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Nguyễn Kim Thùy

KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ SỰ PHÂN BỐ HÀM LƯỢNG
CÁC KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC VÀ TRẦM TÍCH
HỆ THỐNG SÔNG ĐÁY

Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60 44 29

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TẠ THỊ THẢO Hà Nội - 2011

Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp

MỤC LỤC



2.1. Đối tƣợng, nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu 34
2.2. Hóa chất và dụng cụ 34
2.3. Lấy mẫu, xử lý mẫu, bảo quản mẫu 36
2.3.1. Lấy mẫu 36
2.3.2. Xử lý mẫu sơ bộ và bảo quản mẫu 40
2.4. Phƣơng pháp xử lý mẫu trầm tích 41
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1. Tối ƣu hoá điều kiện phân tích bằng ICP-MS 42
3.1.1. Chọn đồng vị phân tích 42
3.1.2. Độ sâu mẫu (Sample Depth - SDe): 44
3.1.3. Công suất cao tần (Radio Frequency Power - RFP 44
3.1.4. Lƣu lƣợng khí mang (Carier Gas Flow Rate - CGFR): 45
3.1.5. Thế thấu kính ion 47
3.1.6. Tóm tắt các thông số tối ƣu của thiết bị phân tích 47
3.2. Đánh giá phƣơng pháp phân tích 48
3.2.1. Khoảng tuyến tính 48
3.2.2. Đƣờng chuẩn 49
3.2.3. Giới hạn phát hiện và giới hạn định lƣợng 52
3.2.4. Đánh giá độ đúng của phép đo 54
3.3. Kết quả phân tích hàm lƣợng kim loại nặng trong mẫu nƣớc bề mặt 55
3.4. Kết quả phân tích hàm lƣợng kim loại nặng trong thành phần lơ lửng của các
mẫu nƣớc bề mặt. 59
3.5. Kết quả phân tích hàm lƣợng kim loại nặng trong trầm tích hệ thống sông
Nhuệ-Đáy 62
3.6. Phân tích phƣơng sai đa biến (MANOVA) 63
3.6.1. Mẫu nƣớc: 63
3.6.2. Mẫu chất lơ lửng: 64
3.6.3. Mẫu trầm tích mặt: 65
3.7. Xác định hệ số phân bố của các kim loại nặng tại các địa điểm thuộc lƣu vực

Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Ước tính hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt ở lưu vực
sông Nhuệ - Đáy, 2005 9
Bảng 1.2. Thống kê lượng chất thải của các ngành sản xuất công nghiệp của các
tỉnh thành trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy 10
Bảng 1.3. Hệ số phân bố tại các hàm lượng chất rắn lơ lửng của một số kim loại
nặng (Theo Ambrose) 13
Bảng 2.1. Tọa độ địa lý và thông tin lấy mẫu 39
Bảng 3.1. Số khối, tỷ lệ đồng vị 43
Bảng 3.2. Các thông số tối ưu cho máy đo ICP-MS 47
Bảng 3.3. Đường chuẩn các nguyên tố khi dùng phương pháp ICP-MS 50
Bảng 3.4. Giá trị LOD và LOQ của 1 số nguyên tố dùng phép đo ICP-MS 53
Bảng 3.5. Kết quả phân tích mẫu chuẩn MESS-3 bằng phương pháp ICP-MS 54
Bảng 3.6. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu môi trường thông thường của các mẫu
nước bề mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy 55
Bảng 3.7. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong mẫu nước bề mặt tại
các địa điểm thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy 57
Bảng 3.8. Giới hạn nồng độ kim loại nặng trong nước mặt 58
Bảng 3.9. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong mẫu chất rắn lơ lửng
tại các địa điểm thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy 60
Bảng 3.10. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong mẫu trầm tích tại các
địa điểm thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy 62
Bảng 3.11. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng đất ( QCVN) 63

Hình 3.12. Phân bố hàm lượng Cr trong trầm tích hệ thống sông Đáy 75
Hình 3.13. Phân bố hàm lượng Mn trong nước hệ thống sông Đáy 76
Hình 3.14. Phân bố hàm lượng Mn trong trầm tích hệ thống sông Đáy 76
Hình 3.15. Phân bố hàm lượng Fe trong nước hệ thống sông Đáy 76
Hình 3.16. Phân bố hàm lượng Fe trong trầm tích hệ thống sông Đáy 76
Hình 3.17. Phân bố hàm lượng Co trong nước hệ thống sông Đáy 77
Hình 3.18. Phân bố hàm lượng Co trong trầm tích hệ thống sông Đáy 77
Hình 3.19. Phân bố hàm lượng Ni trong nước hệ thống sông Đáy 77
Hình 3.20. Phân bố hàm lượng Ni trong trầm tích hệ thống sông Đáy 77
Hình 3.21. Phân bố hàm lượng Cu trong nước hệ thống sông Đáy 78
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp

Hình 3.22. Phân bố hàm lượng Cu trong trầm tích hệ thống sông Đáy 78
Hình 3.23. Phân bố hàm lượng Zn trong nước hệ thống sông Đáy 78
Hình 3.24. Phân bố hàm lượng Zn trong trầm tích hệ thống sông Đáy 78
Hình 3.25. Phân bố hàm lượng As trong nước hệ thống sông Đáy 79
Hình 3.26. Phân bố hàm lượng As trong trầm tích hệ thống sông Đáy 79
Hình 3.27. Phân bố hàm lượng Cd trong nước hệ thống sông Đáy 79
Hình 3.28. Phân bố hàm lượng Cd trong trầm tích hệ thống sông Đáy 79
Hình 3.29. Phân bố hàm lượng Hg trong nước hệ thống sông Đáy 80
Hình 3.30. Phân bố hàm lượng Hg trong trầm tích hệ thống sông Đáy 80
Hình 3.31. Phân bố hàm lượng Pb trong nước hệ thống sông Đáy 80
Hình 3.32. Phân bố hàm lượng Pb trong trầm tích hệ thống sông Đáy 80
Hình 3.33. Mức độ tương đồng của các địa điểm lấy mẫu 82


Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 1

MỞ ĐẦU
Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây – Nam của đồng bằng Bắc Bộ, đây là một
trong những lưu vực sông quan trọng của nước ta. Lưu vực sông trải trên diện tích
hành chính của 5 tỉnh, thành phố (Hòa Bình, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Ninh
Bình) gồm một phần Thủ đô Hà Nội. Những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của
các tỉnh thành này đang trên đà khởi sắc, tốc độ phát triển tăng một cách đáng kể.
Tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa này đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát
triển của nền kinh tế nhưng mặt trái của nó là việc ảnh hưởng đến môi trường của
khu vực nói chung cũng như của lưu vực sông Đáy nói riêng. Chất lượng nước của
các con sông nhìn chung đã bị ô nhiễm và ở một vài khu vực sông đã bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 3

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về lƣu vực sông Đáy
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội lƣu vực sông Đáy
Đặc điểm tự nhiên [22]
Lưu vực sông Đáy nằm ở phía Tây – Nam của đồng bằng Bắc Bộ, về phía bờ
bên phải của sông Hồng. Mặc dù sông Đáy là một nhánh của sông Hồng nhưng nó
cũng có lưu vực riêng với các sông nhánh bao gồm sông Tích, sông Thanh Hà, sông
Hoàng Long, sông Vác, sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sét và sông Đào. Sông
Đáy cũng có liên quan với sông Ninh Cơ và kênh Quan Lieu. Lưu vực sông kéo dài
từ khu vực miền núi thuộc tỉnh Hà Tây và Hòa Bình đến bờ biển ở tỉnh Nam Định
và Ninh Bình với tổng diện tích tự nhiên là 7.665 km
2

và vườn quốc gia Ba Vì, khu vực được bảo vệ Hương Sơn, Hoa Lư và khu vực bảo
tồn đất ngập nước Văn Long và Xuân Thủy.
Lưu vực sông Đáy có nhiều sông nhánh chảy qua các thành phố, thị xã, khu
dân cư, khu công nghiệp, khu dịch vụ, các làng nghề… Đây là nguồn nước quan
trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
Mạng lƣới sông ngòi và chế độ thủy văn
* Mạng lưới sông ngòi[2]
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 5

Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật độ lưới
sông đạt 0,7 – 1,2 km/km
2
. Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm có các sông
chính sau:
* Sông Đáy: nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bắt
đầu từ của Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, đổ ra biển tại cửa Đáy.
* Sông Nhuệ: lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ
thống thủy nông Đan – Hoài. Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, quận
Hà Đông và chảy vào sông Đáy tại thị xã Phủ Lý.
* Sông Tô Lịch: dài 14,6 km, bắt nguồn từ cống Phan Đình Phùng, chảy qua
địa phận Từ Liêm, Thanh Trì qua đập Thanh Liệt và đổ vào sông Nhuệ. Đoạn cuối
của sông Tô Lịch đảm nhận toàn bộ lượng nước thải của thành phố. Đây là con
sông thoát nước chính của Hà Nội.
* Sông Thanh Hà: bắt nguồn từ dãy núi đá vôi ở gần Kim Bôi (Hòa Bình)
chảy vào vùng đồng bằng từ ngã ba Đông Chiêm ra đến Đục Khê, được ngăn cách
giữa đồng bằng và núi bởi kênh Mỹ Hà, đưa nước chảy thẳng vào sông Đáy.
* Sông Tích: bắt nguồn từ núi Tản Viên thuộc dãy Ba Vì theo hướng Tây
Bắc – Đông Nam, đổ vào sông Đáy tại Ba Thá.

80% lượng dòng chảy của năm, tháng 9 là tháng có dòng chảy trung bình tháng lớn
nhất (chiếm khoảng 20 – 30% lượng dòng chảy mỗi năm) và lũ lớn nhất năm của
sông Đáy cũng thường xảy ra vào tháng 9.
Sông Hồng cung cấp khoảng 85 – 90% tổng lượng nước chảy vào lưu vực
sông Đáy. Tổng lượng nước hàng năm của lưu vực sông Đáy là khoảng 28,8 tỷ m
3
,
trong đó 25,7 tỷ m
3
, tương đương với 89,5% là từ sông Đào (tỉnh Nam Định); 1,35
tỷ m
3
, vào khoảng 4,7% đến từ sông Tích và sông Đáy tại Ba Thá.
Khoảng 70 – 80% tổng lượng nước hàng năm của lưu vực sông nhận được là
vào mùa lũ, từ tháng 6 đến tháng 10. Trong suốt mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 5
năm sau, sông Nhuệ nhận nước từ sông Hồng thông qua cống Liên Mạc, sông Đào
nhận nước từ sông Hồng và đổ vào sông Đáy.
Chế độ dòng nước của sông Đáy chịu ảnh hưởng không chỉ bởi các yếu tố
khí hậu (chủ yếu là lượng mưa) mà còn bởi chế độ dòng nước của sông Hồng và
chế độ thủy triều của vịnh Bắc Bộ. Vì thế mà chế độ dòng chảy sông Đáy rất phức
tạp và có sự khác nhau nhất định giữa các đoạn sông.
Chế độ dòng nước của sông Nhuệ phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình hoạt
động phân nước của các cống như Liên Mạc (sông Hồng) và Thanh Liệt (sông Tô
Lịch) và những cống khác trên dòng chính như Hà Đông, Đông Quan, Nhật Tựu và
Lương Cơ – Diệp Sơn.
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 7

1.1.2. Tổng quan về hiện trạng môi trường lưu vực sông Đáy

Hiện nay sông Đáy đã bị xâm nhập mặn ở vùng hạ du, phần thượng và trung lưu
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 8

cũng đã bị ô nhiễm do nguồn thải ở vùng dân cư tập trung, khu công nghiệp như Hà
Nội, Phủ Lý, Hà Tây, Nam Định, Ninh Bình và đặc biệt là úng, lụt ở vùng trũng
Nam Định, Ninh Bình gây ô nhiễm môi trường cho lưu vực. Diễn biến chất lượng
nước trên sông Đáy khá phức tạp, phần thượng lưu đã bị chia cắt khỏi sông Hồng,
phía hạ lưu ảnh hưởng bởi các sông nhánh và chế độ thủy triều. Do đó mức độ ô
nhiễm trên sông Đáy bị ảnh hưởng không đồng đều và mang tính cục bộ. Nếu xét
theo không gian và thời gian thì mức độ ô nhiễm của từng đoạn sông, từng nhánh
sông, từng khu vực rất khác nhau, phụ thuộc vào nguồn thải của từng sông nhánh,
vào chế độ lấy nước tưới tiêu và chế độ thủy văn trên từng đoạn sông.
Chất lượng nước sông Đáy có diễn biến phức tạp, nếu xét cả về thời gian và
không gian thì mức độ ô nhiễm thấp hơn sông Nhuệ và mức độ ô nhiễm của từng
đoạn sông khác nhau. Tuy nhiên chất lượng nước sông Đáy đã bị suy giảm trong
những năm gần đây.
Nguyên nhân gây ô nhiễm [22]
Có nhiều nguồn nước thải gây ô nhiễm lưu vực sông Đáy. Các nguồn gây ô
nhiễm gồm: nước thải sinh hoạt, nước thải y tế, nước thải công nghiệp, nước thải
nông nghiệp và nước thải của các làng nghề… Hình 1.2 biểu diễn phần trăm đóng
góp của các nguồn nước thải vào lưu vực sông Đáy

Hình 1.2. Phần trăm lượng nước thải của các ngành vào lưu vực sông Đáy
* Nước thải sinh hoạt
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 9


3
/ngày).
* Nước thải công nghiệp
Theo thống kê, đến năm 2004, trong lưu vực sông Đáy có 4.113 khu công
nghiệp (trong đó Hà Nội chiếm 67%); các khu vực sản xuất công nghiệp đóng góp
83.382 tỷ (Ban Thống kê, 2005). Các hoạt động sản xuất đã thải ra một lượng lớn
chất thải (chất thải rắn, nước thải, khí thải), đó là những yếu tố gây ô nhiễm và gây
ảnh hưởng lớn đến môi trường lưu vực sông Đáy. Ô nhiễm môi trường là một yếu
tố quan trọng làm cạn kiệt chất lượng nước mặt của người dân trong khu vực.
Bảng 1.2. Thống kê lượng chất thải của các ngành sản xuất công nghiệp của các
tỉnh thành trong lưu vực sông Đáy

* Nước thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Khoảng 60 – 70% dân số trong lưu vực sông Đáy tham gia vào các hoạt động
sản xuất nông nghiệp.
Trồng trọt: Những con sông trong lưu vực sông Đáy phục vụ như một hệ
thống thủy lợi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong toàn khu vực. Việc sử
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 11

dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu không đúng cách trong các hoạt động sản
xuất nông nghiệp cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng nước.
Chăn nuôi: hoạt động chăn nuôi được khuyến khích ở các địa phương trong
lưu vực sông Đáy, số lượng vật nuôi tiếp tục tăng lên nhiều lần dẫn đến việc tăng
lượng nước thải. Hiện nay, ngay cả trong các cơ sở chăn nuôi lớn, đầu tư cho việc
xử lý ô nhiễm môi trường vẫn còn hạn chế. Vì vậy, hầu hết chất thải, đặc biệt là
nước thải đều được xả vào nguồn nước mặt, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng.
*Nước thải từ các làng nghề

nhiễm nước bề mặt. Hiện nay, việc thu gom và di chuyển chất thải rắn của đô thị và
công nghiệp không đáp ứng được yêu cầu. Ngoài bãi chôn lấp rác Nam Sơn ở Hà
Nội, những bãi rác khác trong lưu vực sông Đáy đều đang sử dụng những công
nghệ chôn lấp lạc hậu dẫn đến ô nhiễm nước mặt và nước ngầm trong khu vực lưu
vực này.
1.2. Hệ số phân bố của các kim loại nặng
Trong quá trình vận chuyển của kim loại trong nước tự nhiên, có nhiều quá
trình vật lý, hóa học và sinh học xảy ra như sự hòa tan, kết tủa, hấp thụ và giải hấp
khỏi chất lơ lửng, tạo phức với các tác nhân hữu cơ cũng như vô cơ, đi vào trong cơ
thể các sinh vật trong nước hoặc thoát ra khỏi môi trường nước qua quá trình kết
tủa/ sa lắng của các chất lơ lửng. Do đó hàm lượng kim loại nặng trong nước tự
nhiên luôn bị ảnh hưởng chủ yếu của quá trình vận chuyển này.[37]
Trong nước, kim loại nặng tồn tại ở hai pha là pha rắn và pha lỏng. Người ta
thường sử dụng hệ số phân bố K
d
để biểu diễn sự phân bố giữa hai pha: pha rắn và
pha lỏng.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng biến đổi của hàm lượng kim loại trong
nước mặt chịu ảnh hưởng bởi quá trình hấp thu lên chất rắn lơ lửng. Trong điều kiện
sông nước đồng bằng ở Việt Nam – nơi có hàm lượng phù sa cao thì vai trò của chất
rắn lơ lửng (phù sa) đến biến đổi của kim loại nặng trong cột nước là cực kỳ quan
trọng. Quá trình sa lắng và bồi lấp của các chất hòa tan bị hấp thu lên trầm tích và
các quá trình chính hình thành việc loại bỏ các kim loại nặng khỏi cột nước, còn các
quá trình tái lắng (resuspension) của trầm tích bị ô nhiễm đi cùng với quá trình giải
hấp là những quá trình chính làm tăng hàm lượng kim loại nặng trong nước[23]
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 13

Theo nhiều nghiên cứu đã được công bố thì hệ số phân bố chịu ảnh hưởng
1
5E
5
70
30
10
9E
4

50
50
100
2E
4

30
70
1000
3E
3

24
76

Cadimi

1
4E

1
3E
6
25
75
10
4E
5

20
80
100
5E
4

27
83
1000
5E
3

25
85

Đồng 1
1E
6

2E
5

30
70
100
1E
5

10
90
1000
9E
4

1
99

Thủy ngân 1
3E
6

25
75
10
2E
5

4E
4

20
80
1000
9E
3

10
90

Kẽm 1
1E
6

40
60
10
2E
5
30
70
100
5E
4


Giữa chất hữu cơ và nồng độ kim loại có sự tương hỗ với nhau. Chất hữu cơ
hòa tan trong nước có thể giúp giải phóng các ion kim loại đang hấp thụ trên trầm
tích đáy và ngược lại, các chất hữu cơ hấp thụ trên trầm tích có thể thu hồi các ion
kim loại đang nằm trong dung dịch.[15]

1.3. Độc tính kim loại nặng
Kim loại nặng là những kim loại có phân tử lượng lớn hơn 52 bao gồm một
số kim loại như: As, Hg, Cu, Cr, Cd, Co, Pb, Zn, Sb, Mn…Những kim loại nặng
nguy hiểm nhất về phương diện gây ô nhiễm môi trường nước là Zn, Cu, Pb, Cd,
Hg, Ni, As và Cr. Trong số những kim loại này có Cu, Ni, Cr và Zn là những
nguyên tố vi lượng cần thiết cho sinh vật thủy sinh, chúng chỉ gây độc ở nồng độ
cao.
Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng:
- Nguồn tự nhiên: kim loại nặng phát hiện ở mọi nơi, trong đá, đất và xâm
nhập vào thủy vực qua các quá trình tự nhiên, phong hóa, xói mòn, rửa trôi.
-Nguồn nhân tạo:các quá trình sản xuất công nghiệp (như khai khoáng, chế
biến quặng kim loại, chế biến sơn, thuốc nhuộm,…), nước thải sinh hoạt, nông
nghiệp (phân bón,…).
Nguyễn Kim Thùy Hóa phân tích

Luận văn tốt nghiệp 16

Một số kim loại nặng rất cần thiết cho cơ thể sống và con người. Chúng là
các nguyên tố vi lượng không thể thiếu, sự mất cân bằng các nguyên tố vi lượng này
có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người. Sắt giúp ngăn ngừa bệnh thiếu
máu, kẽm là tác nhân quan trọng trong hơn 100 loại enzyme. Trên nhãn của các lọ
thuốc vitamin, thuốc bổ xung khoáng chất thường có Cr, Cu, Fe, Mn, Mg, K, Zn,
chúng có hàm lượng thấp và được biết đến như lượng vết. Lượng nhỏ các kim loai
này có trong khẩu phần ăn của con người vì chúng là thành phần quan trọng trong
các phân tử sinh học như hemoglobin, hợp chất sinh hóa cần thiết khác. Nhưng nếu

ngộ độc thủy ngân có thể qua thức ăn, nguồn nước, đôi khi cũng có thể do những
chất thải công nghiệp hoặc đốt than đá.
- Mangan (Mn): là kim loại có trong tự nhiên, mọi người đều bị nhiễm hàm
lượng nhỏ Mn có trong không khí, thức ăn, nước uống. Mn là kim loại vết cần thiết
cho sức khỏe người. Mn có thể tìm thấy trong một số loại thức ăn, ngũ cốc, trong
một số loài thực vật như cây chè [38]. Người bị nhiễm Mn trong một thời gian dài
thường mắc các bệnh thần kinh, rối loạn vận động, nhiễm độc mức hàm lượng cao
kim loại này sẽ gây các bệnh về hô hấp và suy giảm chức năng tình dục.
- Đồng (Cu): được dùng nhiều trong sơn chống thấm nước trên tàu thuyền,
các thiết bị điện tử, ống nước. Nước thải sinh hoạt là nguồn chính đưa Cu vào nước.
Cu tồn tại ở hai dạng là: dạng hòa tan và dạng chất rắn lơ lửng [16]. Cu cần thiết
cho chức năng hô hấp của nhiều sinh vật sống và các chức năng enzym khác. Cu
được lưu giữ trong gan tủy sống của người. Cu với hàm lượng quá cao sẽ gây hư hại
gan, thận, hạ huyết áp, hôn mê, đau dạ dày, thậm chí tử vong. Trai, ốc thường tích tụ
lượng lớn Cu trong cơ thể của chúng.[26]
- Kẽm (Zn): là nguyên tố cần thiết cho tất cả cơ thể sống, với con người
hàng ngày cần 9 mg Zn cho các chức năng thông thường của cơ thể [17]. Nếu thiếu
Zn sẽ dẫn đến suy giảm khứu giác, vị giác và suy giảm chức năng miễn dịch của cơ
thể. Nguồn ô nhiễm kẽm chính là công nghiệp luyện kim, công nghiệp pin, các nhà
máy rác, các sản phẩm chống ăn mòn, sơn, nhựa, cao su. Cơ thể con người có thể
tích tụ Zn và nếu Zn tích tụ với hàm lượng quá cao thì chỉ trong thời gian ngắn sẽ
gây bệnh nôn mửa, đau dạ dày. Nước chứa hàm lượng Zn cao rất độc đối sinh vật.
Trai, ốc cũng tích tụ một lượng lớn Zn trong cơ thể chúng [16].

Trích đoạn Xử lý thống kê số liệu phân tích Phân tích thành phần chính (PCA) Khái niệm GIS Phƣơng pháp xử lý mẫu trầm tích
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status