lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tỉnh yên bái - nguyên nhân và cách chữa - Pdf 24

MỞ ĐẦU
I. Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhchúng ta đã biết, để giao tiếp với người khác bằng ngôn ngữ, ta phải nói
thành lời. Muốn nói thành lời thì trước hết phải nói thành câu. Câu là đơn vị ngôn
ngữ nhỏ nhất thực hiện được chức năng thông báo, nghĩa là trao đổi được nhận
thức, tư tưởng giữa người với người.
Câu là đơn vị dùng để giao tiếp giữa người với người trong xã hội. Vì vậy, khi
nói (hoặc viết), người nói (hoặc người viết) không thể tự do tùy tiện muốn tạo câu
thế nào cũng được. Muốn diễn đạt đúng ý và muốn người khác hiểu đúng ý của
mình, người nói (người viết) phải biết lựa chọn, biết tạo câu sao cho đúng những
quy tắc mà mọi người trong cùng một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận và sử dụng.
Có đặt được câu đúng, câu hay hoạt động giao tiếp mới đạt được hiệu quả.
Chính vỡ lẽ đó, từ nhiều năm nay, khi dạy học môn tiếng Việt ở trường phổ
thông người ta đã rất chú trọng dạy phần ngữ pháp - câu cho học sinh. Câu tiếng
Việt được đưa vào chương trình dạy học môn tiếng Việt ở cả tiểu học, trung học cơ
sở lẫn bậc phổ thông trung học. Câu (tiếng Việt) được chú trọng nh vậy là do hiệu
quả sử dụng của nã trong giao tiếp. Nếu một người không có kỹ năng tạo câu tốt
thì hoạt động tư duy, hoạt động giao tiếp của người đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Ý thức được điều này, các thầy cô giáo giảng dạy ngữ văn ở phổ thông đã cố
gắng cung cấp những kiến thức về câu và rèn luyện kỹ năng đặt câu đúng, đặt câu
hay cho học sinh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc dạy và học
về câu tiếng Việt ở nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này được
biểu hiện trực tiếp qua kết quả học tập của học sinh. Các em được học rất nhiều về
tiếng Việt, được rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt nhưng các em vẫn mắc
nhiều lỗi khi sử dụng tiếng Việt.Các em

học nhiều về đơn vị câu nhưng khi đặt câu, các em vẫn mắc nhiều lỗi về câu.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến hiện trạng đó? Giải pháp nào hạn chế và khắc phục
được việc mắc lỗi đó của học sinh? Đây là những câu hỏi lâu nay các nhà nghiên
cứu, các thầy cô giáo giảng dạy môn Ngữ văn đã đặt ra và đi tìm lời giải đáp. Là
một giáo viên dạy ngữ văn ở một tỉnh miền núi, đứng trước thực trạng học sinh của

nói chung, học sinh Trung học cơ sở ở tỉnh Yên Bái nói riêng, tác giả luận văn
chọn đề tài: " Lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh Trung học cơ sở tỉnh Yên
Bái - nguyên nhân và cách chữa".
II. LỊCH SỬ NGHIấN CỨU
Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, câu cú vai trò rất quan trọng. Câu giúp
cho việc hình thành, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng, tình cảm từ người này sang người
khác. Vì vậy, để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, người tham gia giao tiếp phải đặt
được câu đúng, câu hay. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi tạo câu người nói, người viết
thường hay mắc lỗi. Việc đặt câu sai dễ gây ra sù hiểu lầm làm cản trở đến việc bày tỏ
tình cảm, thái độ, nhận định, đánh giá… của mọi người với nhau. Vì vậy, vấn đề này
nếu không được tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra biện pháp khắc phục thì sẽ ảnh hưởng
đến hiệu quả giao tiếp, tư duy nói chung, ảnh hưởng đến kết quả dạy và học môn
tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nói riêng.
Chính vì thế, vấn đề “lỗi về câu - nguyên nhân và cách chữa”luôn là một vấn
đề "nóng" thu hút sù quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, của các thầy cô giáo
giảng dạy môn Tiếng Việt.
Ngay tõ những năm 60 của thế kỷ XX, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Tưởng -
Nguyễn Thu - Lê Xuân Khoa đã cho ra đời cuốn sách "Sai, đúng, hay trong việc dùng
từ, đặt câu, chấm câu" (Sách dùng cho học sinh cấp 2). Trong cuốn sách này, các tác
giả đã trình bày, giới thiệu cho học sinh cách đặt câu thế nào là đúng và bước đầu chỉ
ra hai loại lỗi học sinh thường mắc phải khi đặt câu là: câu viết

sai cú pháp và câu sai logic.
Tiếp theo, trên tạp chí Ngôn ngữ, sè 1 năm 1969, tác giả Trần Phô đăng bài: "
Có thể tìm con đường ngắn nhất để dạy viết đúng câu". Trong năm bài dạy về câu
mà Trần Phô đưa ra có một bài dạy về lỗi câu và cách chữa. Trong bài viết của
mình, Trần Phô bước đầu chỉ ra ba trường hợp câu sai là: thiếu hẳn hạt nhân, thiếu
một vế của hạt nhân và cấu trúc hạt nhân bị phá vỡ rối nát.
Theo tác giả Trần Phô, nguyên nhân dẫn đến câu sai là vì không xác lập được
hạt nhân của câu. Ông đưa ra cách chữa là phải lập nên hạt nhân của câu rồi thêm

việc làm đầu tiên không thể thiếu được. Song nếu chỉ chú ý câu sai trong khuôn
khổ một câu riêng lẻ, chúng ta sẽ bị hạn chế tầm nhìn và đi tới việc phân tích
nguyên nhân không đầy đủ, đề ra cách chữa không sát hợp" [25,42]. Để chữa lỗi về
câu, tác giả Nguyễn Mai Hồng đề xuất: " Việc chữa câu sai có thể được tiến hành ở
một khâu sâu hơn cấu trúc bề mặt của nó: chữa ở quá trình tạo câu, ở nơi sẽ sản
sinh ra hàng loạt câu sai" [25,42].
Nh vậy, trong bài viết này, Nguyễn Mai Hồng đã đề cập đến hướng giải quyết lỗi
về câu của học sinh từ góc độ tư duy của các em. Đây là một đề xuất đúng, tích cực
nhưng rất khó thực hiện để giáo viên có thể chữa lỗi cho học sinh.
Còng bàn về vấn đề dựa vào cấu trúc câu để chữa câu sai, trong bài viết: "
Tìm cách giúp thêm cho học sinh viết đúng câu tiếng Việt", tác giả Diệp Quang
Ban khẳng định: " Việc nghiên cứu câu sai của học sinh dựa vào cấu trúc là một
việc cần thiết, bổ Ých nhưng chưa đủ.Đã đến lúc phải áp dụng vào việc dạy viết
văn, cái bậc nổi hơn bậc cấu trúc thực sự thường dùng hiện nay nhằm trang bị thêm
cho học sinh mét sè kiến thức nữa giúp họ tránh lỗi. Nói cách khác, cần đề cập đến
mét số nhân tố trong việc chuyển từ ngôn ngữ sang lời nói chứ không dừng lại ở
mét sè mô hình tiềm tàng của ngôn ngữ thuần túy"[9,63].

Đề xuất của hai tác giả Nguyễn Mai Hồng và Diệp Quang Banbước đầu đã
tiếp cận với những yêu cầu của việc chữa câu sai ở bình diện chức năng. Tiếc rằng,
những đề nghị này lại chưa được hai tác giả tiếp tục triển khai một cách cụ thể mà
mới chỉ dừng lại ở bước đặt vấn đề.
Cùng nghiên cứu về câu sai của học sinh, tác giả Nguyễn Đức Dân lại xem
xét ở một góc độ khác: góc độ tâm lí và ông đã chỉ ra hiện tượng: " Chập cấu tróc -
mét quá trình tâm lí trong những câu sai của học sinh" (NCGD, sè 7 năm 1982). Có
thể nói, đề xuất của Nguyễn Đức Dân là những gợi ý lí thú trong việc xem xét và
chữa câu sai cho học sinh.
Vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dưới ánh sáng của
quanđiểm ngôn ngữ học hiện đại, lí thuyết ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết hoạt
động giao tiếp dần dần được phổ biến rộng rãi ở nước ta, việc nghiên cứu lỗi

bày về câu sai, những loại câu sai. Trong sách, Nguyễn Đức Dân đưa ra 6 loại lỗi
về câu là: câu sai do sai chính tả, những câu sai về từ ngữ, những câu sai về ngữ
pháp, sai logic, sai phong cách và sai trong liên kết câu.
Ở mỗi loại lỗi, tác giả đưa ra ví dụ cụ thể, phân tích nguyên nhân dẫn đến vi
phạm lỗi và đề ra cách sửa cho mỗi loại câu sai.
Trong cuốn: " Tiếng Việt thực hành" của Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) và
Nguyễn Văn Hiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, các tác giả dành chương
II để trình bày về câu, trong đó có viết về lỗi câu. Ở phần này, hai tác giả quy lỗi về
câu về ba loại: các lỗi về cấu tạo câu, các lỗi về dấu câu và các lỗi về liên kết câu.
Đồng thời với việc phân loại lỗi, các tác giả của sách còn đưa ra mét hệ thống
bài tập thực hành chữa lỗi về câu khá phong phó.
Năm 1997, nhóm tác giả Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng cũng xuất
bản cuốn giáo trình mang tên: " Tiếng Việt thực hành" (NXB Giáo dục,

1997). Trong cuốn sách, phần chữa các lỗi về câu, các tác giả phân loại câu
mắc lỗi thành 5 loại: lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu, lỗi về quan hệ ngữ nghĩa
trong câu, lỗi về câu thiếu thông tin, lỗi về dấu câu và lỗi về phong cách.
Trong sách, các tác giả đưa ra hệ thống bài tập đa dạng, tiêu biểu cho từng
loại lỗi nhằm rèn luyện kỹ năng nhận diện, phân tích và nắm được cách chữa câu
sai cho sinh viên. Cuốn giáo trình biên soạn bám sát chương trình thực hành do Bé
Giáo dục - Đào tạo ban hành nên đáp ứng phần nào nhu cầu dạy học môn tiếng
Việt, nhu cầu dạy - học câu, chữa lỗi về câu tiếng Việt chosinh viên cũng như cho
học sinh trong nhà trường phổ thông.
Cùng năm 1997, tác giả Trần Chí Dõi còng cho ra mắt độc giả cuốn sách "
Tiếng Việt thực hành" (NXB Giáo dục, 1997). Trong sách, Trần Chí Dõi đã xây
dựng các bài tập về câu khá công phu, đưa ra các lỗi về câu rất đa dạng và phức tạp
khiến người học muốn sửa được các lỗi đó phải có kiến thức khá chắc về lí thuyết
câu.
Gần đây nhất phải kể đến cuốn giáo trình " Tiếng Việt thực hành” do hai tác
giả Bùi Minh Toán và Nguyễn Quanh Ninh biên soạn. Giáo trình này được biên

nhận diện và chữa lỗi câu.
Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên, khi khảo sát lỗi về câu,
các tác giả chủ yếu khảo sát các lỗi trên sách, báo hoặc trên bài viết của học sinh
Trung học phổ thông, sinh viên ở mét sè trường đại học mà chưa có công trình nào
đi sâu vào nghiên cứu lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh THCS để đưa ra
phương hướng chữa câu cho phù hợp với các em. Vì vậy, vấn đề " lỗi về câu -
nguyên nhân và cách chữa" vẫn là một vấn đề ngỏ, tiếp tục thu hút sù quan tâm của
các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo giảng dạy tiếng Việt.

III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tìm hiểu lỗi về câu trong bài làm văn của học sinh
THCS tỉnh Yên Bái, tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi và đưa ra cách chữa phù hợp
nhằm rèn luyện cho học sinh biết phát hiện lỗi, biết cách chữa lỗi trong bài văn của
mình cũng như của người khác. Đồng thời giúp các em tránh được các lỗi về câu
khi tạo lập văn bản. Lỗi về câu là lỗi thường gặp trong bài làm của học sinh. Để
chữa được lỗi, học sinhphải có kiến thức về ngữ pháp, về câu tiếng Việt. Việc cung
cấp kiến thức đó không phải là nhiệm vụ của đề tài. Song, khi tìm hiểu lỗi về câu,
những kiến thức về ngữ pháp - câu và ngữ pháp văn bản… sẽ là cơ sở giúp nhận
diện ra lỗi và chữa lỗi. Vì vậy, chúng tôi đã xây dựng mét hệ thống lý thuyết đáng
tin cậy nhằm hệ thống lại những kiến thức tiếng Việt có liên quan phục vụ cho việc
chữa lỗi về câu.
YênBái là một tỉnh miền nói xa xôi, đời sống của học sinh và của giáo viên
còn nghèo, các tài liệu phục vụ cho giảng dạy thiếu, tài liệu tham khảo dùng để
chữa lỗi về câu cho học sinh THCS của tỉnh hầu như không có, vì vậy chúng tôi hi
vọng rằng luận văn này giúp giáo viên THCS Yên Bái có thêm tài liệu tham khảo
để chữa lỗi về câu cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã trình bày ở trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm
vụ sau:

1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu thực tiễn mắc lỗi và

chữa lỗi về câu trong nhà trường THCS tỉnh Yên Bái. Để tìm ra các loại lỗi về
câu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát mét sè bài làm văn của học sinh THCS để tìm
hiểu những lỗi về câu mà các em đã mắc phải. Đồng thời, tác giả luận văn còn dự
giờ, khảo sát các tiết dạy, phỏng vấn giáo viên, soạn phiếu điều tra dành cho giáo
viên giảng dạy môn ngữ văn ởcác trường THCS trong tỉnh Yên Bái về các vấn đề
có liên quan đến đề tài.
2. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê nhằm xác định, phân loại các loại lỗi về câu cú trong
bài làm văn của học sinh làm cơ sở để có thể chữa lỗi câu cho các em. Bên cạnh
đó, phương pháp thống kê còn được sử dụng để xử lí các kết quả thu được sau khi
tiến hành thực nghiệm sư phạm.
3. Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng trong việc phân tích câu nhằm
xác định câu đúng, phát hiện câu sai phân tích tìm nguyên nhân dẫn đến việc viết
câu saicủa học sinh THCS tỉnh Yên Báiđể từ đó đưa ra cách chữa phù hợp.
4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được dùng để xem xét, xác nhận tính
đúng đắn, tính hợp lí vàtính khả thi của vấn đề mà luận văn đưa ra. Đó là tổ chức
kiểm tra (có sự đánh giá) khả năng làm các bài tập nhận diện, sửa chữa lỗi về câu
của học sinh ở mét sè trường THCStỉnh Yên Bái, từ đó có kết luận về quy trình
chữa lỗi, các dạng bài tập luyện kỹ năng chữa lỗi về câu mà tác giả luận văn đã đề
xuất.
VI: ĐểNG GểP CỦA LUẬN VĂN
Tác giả luận văn thực hiện đề tài với mong muốn:
-Xây dựngcơ sở lí luậnvà thực tiễn cho vấn đề chữa lỗi về câu cho HS THCS
Yên Bái
-Khảo sát, thống kê và đưa ra những đánh giá có ý nghĩa khoa học về


- Dấu chấm phẩy là dấu dùng trong câu. Nó được dùng để ngăn cách các bộ
phận của câu khi các bộ phận này về mặt ngữ pháp có thể tồn tại độc lập như một
câu, nhưng về mặt ý nghĩa thì vẫn có quan hệ rõ rệt với bộ phận đi trước.
- Dấu phẩylà dấu dùng trong câu. Nó dùng để ngăn cách các thành phần cùng
loại, ngăn cách các vế trong câu ghép hoặc ngăn cách các thành phần phụ, thành
phầnbiệt lập với các thành phần chính của câu.
- Dấu gạch ngang là dấu dùng để phân cách thành phần chú thích ở trong câu
hoặc đặt ở đầu dòng trước các ý liệt kê hoặc đặt trước các lời đối thoại
- Dấu ngoặc đơn là dấu dùng để tách biệt các thành phần biệt lập hay bổ sung
hoặc các phần chỉ nguồn gốc, xuất xứ
- Dấu ngoặc kép là dấu dùng để đánh dấu các tõ, côm tõ, câu hoặc cả một
đoạn trích dẫn nguyên văn của người khác; đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật,
đánh dấu từ ngữ với ý mỉa mai hoặc dùng để ghi tên tác phẩm, tên sách trong mét
câu văn đề cập đến chóng.
Trên đây là mét sè chức năng, công dụng cơ bản của các dấu câu tiếng Việt.
Trong thực tế sử dụng, các dấu câucòn có thểcó những công dụng khác.Những vấn
đề về dấu câu vừa trình bày ở trênlà cơ sở lí thuyết để chúng tôi dựa vào đónhận
diện và lí giảinhững lỗi dùng dấu câu cú trong bài làm văn của học sinh.
3.4. Các câu cần liên kết chặt chẽ trong văn bản
Văn bản là một đơn vị ngôn ngữ được tổ chức từ các câu, thường bao gồm
nhiều câu. Để văn bản là một thể thống nhất, các câu phải có sự liên kết chặt chẽ
với nhau. Sù liên kết của các câu trong văn bản thể hiện ở hai phương diện:

3.4.1. Liên kết nội dung
Các câu khi đi vào văn bản đã mất đi phần nào tính độc lập so với khi

hoạch giảng dạy, phấn đấu dạy đủ số môn, số tiết, tăng cường chấn chỉnh kỉ
cương, nền nếp trong trường học. Trong những năm qua, chất lượng giáo dục có
nhiều chuyển biến, tiến bộ. Tuy nhiên, giống nh các tỉnh miền núi khác, giáo dục

với thành phần nòng cốt của câu, hướng dẫn cách sử dụng dấu câu, cách tách
câu cho các em.
Ở ví dụ trên, ta có thể chữa lại bằng cách xác lập cho câu một thành phần
nòng cốt.
Trong khổ thơ, chỉ bằng hình ảnh dòng sông xanh, bông hoa tím biếc,
tiếnghút của chim chiền chiện, những hình ảnh rất đẹp, âm thanh rộn rã, Thanh Hải
đã đặc tả được cảnh sắc vào xuân. Đó là một mùa xuân xứ Huế đầm Êm, thơ
mộng, tươi vui và tràn đầy sức sống.
* Luyện tập
Bài tập:
Khi phân tích khổ thơ
"Mùa xuân người cầm
sóng
Lộc giắt đầy trên
lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ”
Một học sinh viết nh sau: " tõ những người nông dân đang ngày đêm làm
lụng vất vả để làm ra hạt thóc, cân ngô đến những anh bộ đội đang ngày đêm cầm
súng bảo vệ tổ quốc".
Theo em,câu văn trên mắc phải lỗi nào trong những lỗi sau:
A. Thiếu chủ ngữ
B. Thiếu vị ngữ
C. Thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ
Bài tập 2: Trong số những câu cú ở đoạn văn dưới đây, câu nào viết sai? Vì
sao sai? Hãy chữa lại cho đúng.
(1) Qua văn bản " cuộc chia tay của những con búp bê", một văn bản rất cảm
động. (2) Văn bản nói về cuộc chia tay giữa hai anh em Thành và Thủy. Ở đó, ta
có thể cảm nhận được tình cảm đau đớn, xót xa khi phải chia xa với người thân
của mình.

c. 5 dấu chấm

Chọn câu đúng và đánh dấu x vào một trong các chữa, b, c, d.
Truyện ngắn " Buổi học cuối cùng" của nhà văn Pháp An - phông - xơ Đô -
đê (Ngữ văn 6, tập 2) có khá đầy đủ các yếu tố của tác phẩm truyện nh cốt truyện
tình huống nhân vật ngườikể chuyện lời đối thoại và lờiđộc thoại. Vìvậy khi tìm
hiểu tác phẩm ta cần bám sát các yếu tố nghệ thuật tù sự của truyện.
Câu văn này thiếu: a. 5 dấu phẩy
b. 6 dấu phẩy
c. 7 dấu phẩy
Bài tập 2:
Tìmnhững dấu câu người viết đã dùng sai ở trong đoạn văn sau. Giảithích
vìsao sai và chữa lại cho đúng.
Ngày 15-5-1941, Đảng ta đã ra chỉ thị cho Đoàn,thành lập Đội thiếu niên
tiền phong và Hộinhiđồngcứu vong; tổ chức thí điểm ngay tại Pắc Bã (Cao Bằng).
Sùkiệnnày,có ýnghĩa lịchsử đối với công tác thiếu nhi vànhi đồng ở nước ta.
2.3.3. Lẫn lộn chức năng của các dấu câu
Lẫn lộn chức năng của các dấu câu là loại lỗi học sinh THCS Yên Bái cũng
thường hay mắc phải khi tạo lập văn bản.
*Miờu tả lỗi
Khi sử dụng các dấu câu, học sinh thường hay lẫn lộn giữa các dấu câu
nhưđặt dấu hỏi vào sau những câu không phải là câu nghi vấn hoặc đặt dấu
chấmsau những câu hỏi, câu cầu khiến hay dùng dấu ngoặc đơn ở vị trí phải dùng
dấu ngoặc kép và ngược lại v.v
Ví dụ trong bài làm văn phân tích bài thơ " Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh
Hải, một học sinh lớp 9 viết:
(1)Tầmquansátcủanhàthơtừcảnhvậtthiênnhiên"đoạnthơđầu"đếnxãhội“đoạnthơ
thứhai"rồithunhỏlạitrongcái"ta".(2)Mỗibônghoa,

người viết nêu ra ba loại cây:mận, đào, nhãn còn ở câu (2) người viết sử dụng

+ Làm gì? (đẻ)
+ Kết luận: câu đủ thành phần CN và VN
Câu c. +Ai? (Bác Tiều)
+ Làm sao? (già rồi chết)
+ Kết luận: câu đủ thành phần CN và VN

Bài tập 2: Nhận diện câu mắc lỗi và chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi.
Giáo viên Học sinh
Giao nhiệm vụ: trong số các câu a, b,
c, d câu nào mắc lỗi?
Nguyên nhân mắc lỗi? chữa lại câu
mắc lỗi cho đúng.
- Giáo viên hướng dẫn: để xác
địnhđâu là câu sai, đâu là câu đúng
cần đặt câu hỏi xác định CN và VN
cho câu.
- Nhận nhiệm vụ - làm việc theo
nhóm, ghi lại kết quả thảo luận - đại
diện nhóm trình bày.
Học sinh đặt câu hỏi để tìm CN và
VN của câu rồi đưa ra kết luận và
cách chữa.
*a. Chủ ngữ: cái gì? (Kết quả của
năm học đầu tiên ở trường THCS)
+Vị ngữ: nh thế nào? (đã động viên
em rất nhiều)
+ Kết luận: câu đúng.
*b. - Chủ ngữ: cái gì? (không có)
+ Vị ngữ: nh thế nào? (đã động
viênem rất nhiều)

Thiết kế bài học
Hoạt động 1: Chữa lỗi câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ
Giáo viên Học sinh
- Giao nhiệm vụ:
Cho hai đoạn văn sau trong đó có
Nhận nhiệm vụ:những câu người viết đã viết sai,
em hãy tìm những câu viết sai đó.
a,(1) Mỗi khi đi qua cầu Long
Biên.(2) Cầu Long Biên do kiến
trúc sư nổi tiếng người Pháp Ðp-
phen thiết kế.
b, (1) Bằng khối óc sáng tạo và

bằng bàn tay lao động của mình,
chỉ trong vòng 6 tháng. (2) Bức
tượng đó vô cùng đẹp và sinh
động.
+ Xác định thành phần CN và
thành phần VN trong các câu a
và b ở mục I
Giáo viên dự kiến cách chữa.
VD: a. Mỗi khi đi qua cầu Long
Biên, tôi đều thấy lòng mình bồi
hồi xúc động.
b. Bằng khối óc sáng tạo và bàn
tay lao động của mình chỉ trong
vòng 6 tháng, nhà điêu khắc biến

Ví dụ: a. Giữa hồ, nơi có một tòa tháp
cổ kính.
+ Lỗi: thiếu CN, VN.
+ Cách sửa: thêm nòng cốt C- V:
Giữa hồ, nơi có một toà tháp cổ
kính,đànthiênngađangbơilộitungtăng.
b. Trải qua mấy nghìn năm đấu tranh
chống ngoại xâm của dân tộc ta, một
dân tộc anh hùng.
+ Lỗi: thiếu CN, VN.
+ Sửa: Trải qua anh hùng, chúng ta
đã bảo vệ vững chắc nền độc lập của
mình.
c. Nhằm ghi lại những chiến công
lịch sử của quân và dân Hà Nội bảo
thiếu CN và VN.
- Chữa câu sai thành câu đúng


tiếng Việt, người viết còn phải chú ý

Xếp loại C: học sinh làm đúng dưới 50% yêu cầu
2. Kết quả thực nghiệm
Sau khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi thu được kết quả nh sau:

Bài tập thực
nghiệm
Trườn
g
Lớp
Loại
THCS Quang Trung THCS Tân Thịnh Phổ thông cơ sở Văn
Tiến
C(ĐC) D(TN) B (TN) C (ĐC) A (TN) B (ĐC)
1
A 17/ 33 bài % 21/ 32 bài %
16/ 37 bài
%
11/ 37 bài
%
13/ 33 bài
%
11/ 32 bài
%
B 16/ 33 bài % 11/ 32 bài %
17/ 37 bài
%
19/ 37 bài
%

%
7/ 32 bài
%

Bảng tổng kết kết quả điểm hai bài thực nghiệm
Đơn vị tham
gia
Tổng số bài
Loại A Loại B Loại C
Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ
Nhóm thực
nghiệm
102 104 50,98% 83 40,68% 17 8,33%
Nhóm đối
chứng
102 79 38,72% 94 46,07% 31 15, 196%Nhìn vào bảng xếp loại, chúng tôi nhận thấy đa số học sinh đã biết vận dụng
những vấn đề lí thuyết về chữa lỗi câu (ở đây là chữa lỗi câu thiếu CN và VN, câu
sai nội dung logic - ngữ nghĩa) vào việc chữa lỗi trong các bài tập cụ thể. Tuy
nhiên, ở mét sè lớp, số học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu cũng còn không Ýt.
Đánh giá cụ thể:
Hai lớp ở trường THCS Quang Trung có số bài xếp loại A khá cao, sè bài xếp
loại C rất Ýt. Điều này cũng dễ lí giải, bởi vì HS ở hai lớp này đều có lực học tõ
trung bình trở lên; sống ở thành phố, năng lực tư duy và kĩ năng sử dụng tiếng Việt
đã khá tốt.
Bèn lớp ở hai trường còn lại có số bài xếp loại B cao hơn loại A và tỉ lệ bài
dưới trung bình còng cao. Điều này cũng khó tránh khỏi khi tiến hành thực
nghiệm. Bởi vì, đa số học sinh sống ở vùng nông thôn, phần nhiều là người dân tộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status