Thực trạng tình hình thực hiện chính sách và cơ cấu chi tiêu công trong những năm qua của Việt Nam - Pdf 24

ĐỀ TÀI:

Thực trạng tình hình thực hiện chính sách và
cơ cấu chi tiêu công trong những năm qua của
Việt Nam
1
Mục lục
Lời mở đầu
Chi tiêu công đặc biệt là trong quá trình Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá đất
nước có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế cũng như đảm bảo
công bằng xã hội bởi thông qua chi tiêu công hằng năm, vốn đầu tư từ NSNN đóng
vai trò dẫn dắt, lan toả, có tác động trực tiếp và gián tiếp đến đầu tư phát triển, đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến hiệu quả đầu tư tạo điều kiện cho nền
kinh tế tăng trưởng và phát triển.Nhà nước tổ chức đúng đắn nhiệm vụ chi tiêu
công, cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm, hợp lý và đạt hiệu quả cao không những
là động lực thúc dẩy nền kinh tế phát triển mà còn là một trong những biện pháp
phòng ngừa lạm phát, chống tham nhũng một cách hiệu quả. Ngược lại nếu việc tổ
chức chi tiêu công không hợp lý, không dựa vào tình hình thực tiễn thì sẽ gây lãng
phí và kìm hãm sự phát triển nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng rất lớn
đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc sử dụng vai trò tích cực của chi
tiêu công quá trình phát triển kinh tế.
Nước ta hiện nay đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước,
việc nghiên cứu đổi mới chính sách và cơ cấu chi tiêu công có ý nghĩa rất cấp bách
cả về lý luận lẫn thực tiễn.Đối với một nước chậm phát triển như nước ta hiện nay,
muốn đạt được trình độ của một quốc gia phát triển, không bị tụt hậu xa so với các
nước trong khu vực và trên thế giới thì việc xác định cơ cấu chi tiêu công để phục
2
vụ cho sự nghiệp phát triển nước là một việc làm hết sức khó khăn và có ý nghĩa
quan trọng.
Để xác định rõ vai trò của chi tiêu công trong sự nghiệp phát triển đất nước,

vực đầu tư có thể huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu
tư phát triển nhưng có một số lĩnh vực đầu tư không thể trông chờ vào các nhà đầu
tư tư nhân do nhu cầu vốn lớn, khả năng thu hồi chậm, lợi nhuận thấp buộc chính
phủ phải sử dụng nguồn tài chính công để đầu tư. Ngoài ra chính phủ cần thiết phải
chi đầu tư còn nhằm mục tiêu tạo đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền
vững và xử lý những bất ổn khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc.
Chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một phần thu nhập từ quỹ
NSNN và các quỹ ngoài ngân sách mà chủ yếu là quỹ NSNN để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa có tính
chiến lược nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Chi ĐTPT của tài chính công gồm có chi từ ngân sách nhà nước, từ tín dụng nhà
nước, từ một số quỹ ngoài ngân sách. Chi ĐTPT là khoản chi lớn, tạo động lực cho
tăng trưởng kinh tế. Quy mô, kết cấu khoản chi này phụ thuộc vào mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ. Nhìn chung, chi ĐTPT tập
trung vào 1 số lĩnh vực chủ yếu sau:
* Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế - xã hội công cộng
Đây là khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển, bao gồm chi đầu tư xây dựng mới,
cải tạo nâng cấp các công trình không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn
chậm như công trình giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học, nhà văn hóa…
4
Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế công cộng phải tạo điều
kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư mở rộng sản
xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tính chất
“mồi” để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng.
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội thường hướng vào đầu tư phát triển nguồn nhân
lực, phát triển cơ sơ vật chất phục vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn
hóa, bảo vệ môi trường. Nhìn chung khoản chi đầu tư này có vai trò quyết định
trong việc tạo thế cân đối cho nền kinh tế - xã hội, hút vốn của các chủ thể đầu tư
khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
* Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư góp vốn cổ phần vào các

dựng, làm sản lượng của các mặt hàng này tăng lên, tạo công ăn việc làm cho
người lao động tham gia vào các công trình xây dựng và những người trong ngành
sản xuất vật liêu xây dựng, và từ đó kéo theo tăng trưởng của các ngành khác. Đơn
giản như vậy có thể thấy chi đầu tư phát triển đã góp phần đạt được một số mục
tiêu của nền kinh tế.
Khoản chi này có thể ở dưới các hình thức như cấp phát không hoàn lại, có thể chi
theo dự toán kinh phí hoặc cấp phát theo lệnh chi tiền. Chi đầu tư phát triển có mức
độ ưu tiên thấp hơn chi thường xuyên.
2. Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính
công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội.
6
Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, quy mô và
cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Với xu
thế phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước ngày càng gia
tăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng. Xét theo lĩnh vực
chi, chi thường xuyên bao gồm:
-Chi cho các đơn vị sự nghiệp. Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công
lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao
động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cụ thể:
+ Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nước. Các khoản chi
này nhằm đảm bảo hoạt động cho các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ phục vụ
trực tiếp cho các hoạt động kinh tế như đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm,
ngư nghiệp; thủy lợi; khí tượng; thủy văn… mặc dù các đơn vị sự nghiệp kinh tế
có tạo ra sản phẩm và chuyển giao được nhưng không phải là đơn vị kinh doanh
nên các khoản chi tiêu được coi như chi NSNN. Xu hướng ở Việt Nam, nhà nước
chỉ giữ lại một số đơn vị sự nghiệp kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc

đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế là các khoản chi cho đảm bảo sức khỏe cộng
đồng, khám chữa bệnh cho người dân. Trong khuôn khổ nhất định, chi tài chính
công phải đáp ứng kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh của một số đối tượng
như trẻ nhỏ, những người thuộc diện chính sách xã hội. Chi tài chính công tập
8
trung chủ yếu vào chi cho y tế dự phòng, y tế công cộng nhằm đảm bảo sức khỏe
chung của cộng đồng.
Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao là các khoản chi cho hoạt
động văn học, nghệ thuật, bảo tàng, truyền thanh, truyền hình, thể dục, thể thao…
khoản chi này không chỉ nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sức
khỏe về tinh thần cho người dân mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, góp phần khẳng định và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc
tế.
Chi cho hoạt động xã hội là các khoản chi cho đảm bảo xã hội và cứu tế xã hội.
Khoản chi này nhằm đảm bảo cuốc sống của người dân khi gặp khó khăn do ốm
đau, bệnh tật hoặc những người già không nơi nương tựa nhằm ổn định xã hội.
Nhìn chung các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp là mang tính tiêu dùng nhằm
mục đích nâng cao trình dộn dân trí, sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân.
Bên cạnh đó khoản chi này còn tạo động lực gián tiếp để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, đảm bảo trật tự xã hội.
-Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính): là các khoản
chi để đảm bảo hoạt động của hề thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung
ương đến địa phương như chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành
chính, cơ quan chuyên môn các cấp, viện kiểm sát và tòa án. Trong xu hướng phát
triển của xã hội, các khoản chi quản lý hành chính không chỉ dừng lại ở việc duy trì
hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước để cai trị mà còn nhằm mục đich phục vụ
xã hội. Hoạt động này nhằm bảo vệ và hỗ trợ cho các chủ thể và các hoạt động
kinh tế phát triển, chẳng hạn hoạt động cấp phép, công chứng, hộ khẩu…
-Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Khoản chi cho

* Các khoản chi thường xuyên có thể được phân chia thành các nhóm:
+ Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp
lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các
khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định.
+ các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn: chi thanh tóan dịch vụ công cộng,
chi thuê mướn, chi vật tư văn phòng, chi công tác phí, chi các khoản đặc thù,
hi sửa chữa thường xuyên tài sản cố địnhphục vụ công tác chuyên môn, chi
đoàn ra đoàn vào.
+ Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư không theo các
chương trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên.
+ Các khoản chi thường xuyên khác.
+ Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định, bao
gồm: chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí.
2.3 Vai trò của chi thường xuyên
Chi thường xuyên có vai trò trong nhiệm vụ chi của NSNN, chi thường xuyên đã
giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chức
năng QLNN, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia.
Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng.Chi thường xuyên hiệu quả và
tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để chi cho đầu tư phát triển, húc đẩy kinh tế
phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của nhà
nước.
11
2.4Các nguyên tắc quản lý chi thường xuyên của NSNN
Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Dự toán là khâu mở đầu của một chu trình
NSNN.Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và đã
được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt được coi là chi tiêu pháp lệnh.Xét trên
giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong sự toán thể hiện sự cam kết

cổ phần, liên doanh vào các
DN thuộc lĩnh vực cần thiết có
sự tham gia của Nhà nước; Chi
bổ sung dự trữ nhà nước; Các
khoản chi khác theo quy định
của pháp luật.
công nghệ, môi trường, các hoạt động sự
nghiệp khác; Quốc phòng, an ninh và trật
tự, an toàn xã hội; Hoạt động của các cơ
quan Nhà nước, ĐCS và các TCCTXH;
Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
Các chương trình quốc gia; Hỗ trợ quỹ
bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính
phủ; Trợ cấp cho các đối tượng chính
sách xã hội; Hỗ trợ cho các TCXH nghề
nghiệp theo quy định của pháp luật; Các
khoản chi khác theo quy định của pháp
luật.
Tính chất
của khoản
chi
Là khoản chi có tính tích luỹ
không để tiêu dùng hiện tại có
tác dụng tăng trưởng kinh tế,
khoản chi không mang tính phí
tổn – có khả năng hoàn vốn.
Là khoản chi có tính chất tiêu dùng hiện
tại bảo đảm duy trì hoạt động bình
thường của cơ quan nhà nước, bảo đảm
sự ổn định xã hội, là khoản chi có tính phí

13
tiên
Phần 2: Liên hệ với Việt Nam
I.THỰC TRẠNG CHI TIÊU CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.Chi đầu tư phát triển
1.1 Nội dung
Chi đầu tư phát triển của nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi đầu tư
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chi đầu tư phát triển của nhà nước bao
gồm: đầu tư xây dựng cơ bản, hỗ trợ phát triển kinh tế, đầu tư các chương trình
không mang tính chất đầu tư xây dựng cơ bản(chi cấp vốn ban đầu, vốn bổ sung
pháp định hoặc vốn điều lệ cho các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá,
chi trợ cấp, trợ giá cho các doanh nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ công ích). Trong
đó, đại bộ phận là đầu tư xây dựng cơ bản (gần 90%)
Đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản giữ vị trí quan trọng
trong đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội nói riêng, và trong phát triển kinh tế xã
hội nói chung. Tầm quan trọng đó không chỉ vì nguồn đầu tư của nhà nước chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư xây dựng cơ bản, mà cũng vỡ nguồn đầu tư này đã
hình thành nên những công trình làm chuyển dịch cơ cấu, thúc đẩy phát triển kinh
tế và cải thiện đời sống dân cư một cách căn bản. Loại công trình này không thu
hút được vốn đầu tư của các chủ thể kinh tế vì nhiều lý do, hoặc là do vốn đầu tư
quá lớn so với khả năng đầu tư của các nhà đầu tư tư nhân, hoặc do thời hạn thu
hồi vốn quá dài, thậm chí không thể thu hồi vốn một cách trực tiếp, hoặc vì lý do
chính trị - an ninh - quốc phòng mà các nhà đầu tư tư nhân không được phép đầu
tư. Do vậy, trong lĩnh vực này đẩu tư của nhà nước được xem là nguồn vốn đầu tư
duy nhất.
* Quyết toán ngân sách nhà nước về chi đầu tư phát triển:
Năm 2006 2007 2008 2009
Chi ĐTPT(tỷ đồng) 88.341 104.302 119.462 181.363
14
(số liệu theo Bộ tài chính)

cơ bản hiện nay đang có xu hướng giảm so với những năm 2008- 2010.Điều này
được lý giải, trong những năm 2008-2010, nền kinh tế nước ta đang phải chịu sự
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.Chính vì vậy mà việc chi cho
đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng nhằm phục hồi nền kinh tế, tránh sự ảnh
hưởng nặng nề của khủng hoảng.Sau những sự nổ lực của Chính phủ và nhân dân,
nền kinh tế đã có những khởi sắc nhất định. Điều này khiến cho Chính phủ chuyển
hướng chi tiêu, cụ thể là : giảm chi cho XDCB và tăng các khoản chi thường
xuyên.
* Chi NSNN cho xây dựng hệ thống giao thông
NSNN có vai trò rất lớn đối với việc xây dựng hệ thống giao thông hiện nay. Nhờ
có sự chỉ đạo của Chính phủ mà hệ thống giao thông hiện nay đã được cải thiện:
các đường quốc lộ liện tỉnh được xây dựng và đi vào hoạt động hiệu quả như dự án
Cầu Giẽ - Ninh Bình - đường cao tốc đầu tiên của khu vực phía Bắc sau nhiều năm
triển khai với không ít khó khăn về vốn cũng được đưa vào khai thác; nhiều tuyến
cao tốc lớn sắp được hoàn thành và đưa vào khai thác như: Nội Bài - Lào Cai, Hà
Nội - Thái Nguyên, TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, tăng cường qui hoạch các
trục đường chính ở các thành phố lớn nhằm giảm sự ùn tắt giao thông trong các giờ
cao điểm Những tuyến đường này có ý nghĩa kinh tế rất lớn, đó là cầu nối giúp
việc giao thương giữa các tỉnh thuận tiện hơn, giúp cho các doanh nghiệp có xu
hướng mở rộng địa bàn đầu tư, sản xuất. Đồng thời cũng không thể không nhắc
đến ý nghĩa xã hội của nó: việc đi lại, tham gia giao thông được thuận tiện hơn rất
nhiều, vấn đề quản lý giao thông của nhà nước cũng dễ dàng hơn.
Ngoài ra, NSNN còn chú trọng đến công tác xây dựng hệ thống giao thông liên xã,
liên huyện ở các cùng nông thôn. Thực hiện chính sách bê tông hóa đường xá ở
nông thôn giúp cho việc đi lại, sản xuất, buôn bán của bà con thuận tiện hơn rất
nhiều. Cho đến ngày 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98, % tổng số xã cả
nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2, % so với năm 2006), trong đó đi
lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97, % (tăng 3, % so với năm 2006); xã có đường
ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87, % (tăng
17, % so với năm 2006). Một điều đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm

Tất cả, đều nhờ một phần không nhỏ của các chính sách chi ngân sách Nhà nước,
mà cụ thể ở đây là chi dự trữ Nhà nước. Năm 2008, Thủ tướng đã quyết định trích
310 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương giúp các địa phương khắc
phục hậu quả đợt mưa lũ đầu tháng 11. 18 địa phương được hỗ trợ về dân sinh,
mua giống khôi phục sản xuất và cơ sở hạ tầng thiết yếu như trường học, trạm y tế,
thủy lợi, giao thông nông thôn, vệ sinh môi trường và phòng, chống dịch bệnh.
Vào năm 2010, cũng trong việc giúp đỡ các địa phương và nhân dân khẩn trương
khắc phục hậu quả mưa lũ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết
định số 1917/QĐ-TTg về việc hỗ trợ kinh phí, gạo cho một số tỉnh miền Trung.
Theo đó, trích 660 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách Trung ương năm 2010;
xuất cấp không thu tiền 11.000 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để khắc phục hậu
quả mưa lũ: Cứu đói cho dân, hỗ trợ dân sinh, khôi phục cơ sở hạ tầng thiết yếu
(trường học, trạm y tế, bệnh viện, các công trình giao thông, thủy lợi)
Xét trên khía cạnh khác, về thực tế, nhiều hiện trạng đáng được quan tâm.Đó là
việc nhiều địa phương đã kê khống, nâng khống thiệt hại vật chất để xin hỗ trợ từ
ngân sách nhà nước, các tổ chức từ thiện rồi bằng các thủ đoạn như lập khống giấy
tờ, hóa đơn để chiếm đoạt tiền, tài sản. Hiện trạng trên là rất phổ biến, gây thất
thoát một khoản không nhỏ ngân sách nhà nước, tuy nhiên, đến nay, nó vẫn chưa
được giải quyết triệt để.Lúc này đây, hồi chuông báo động trong công tác quản lí
chi ngân sách đã thực sự vang lên.
 Tích cực
Nguồn vốn đầu tư phát triển phong phú, dồi dào, tin cậy: các nguồn như: ngân sách
nhà nước (trên 100 nghìn tỷ đồng), trái phiếu chính phủ(trên 1600 tỷ đồng), nguồn
vốn ODA(trên 3 triệu USD), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (13 tỷ USD)… (theo
số liệu báo cáo năm 2007).Theo nhận xét chung của các doanh nghiệp, về mặt kiến
thức chuyên môn sinh viên hiện nay được trang bị khá tốt, tốt hơn trước nhiều.
 Hạn chế
a, Thưc trạng chuẩn bị nguồn vốn đầu tư:
Việc giải ngân vốn NSNH và vốn trái phiếu chính phủ còn chậm trễ, công tác chỉ
đạo, điều hành và quản lý thực hiện dự án của các Bộ, ngành, địa phương còn

trước tập thể…
Vấn đề đào tạo nghề: Tính đến nay, nguồn nhân lực được đào tạo khoảng 8 triệu
người chiếm 21%. Đó là một tỷ lệ còn rất thấp so với yêu cầu. Cũng có nghĩa là, số
người chưa qua đào tạo, làm lao động thủ công cũng quỏ lớn, xấp xỉ 80%. Số
19
người chưa qua đào tạo tập trung ở nông thôn nhiều (gần 88% nguồn nhân lực ở
nông thôn)
Chuẩn bị kế hoạch vốn đầu tư cho thời kỳ đầu tư kéo dài
Các công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư rất dài, nhiều công trình có vốn
nằm khê đọng trong quá trình thực hiện đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí
vốn và các nguồn lưc tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình,
khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn. Và quan trọng là chuẩn bị tốt một kế
hoạch vốn đầu tư, phải quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư như:
1. Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây
dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự
án đã được phê duyệt.
2. Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến
độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn, tháng, quý, năm.
3. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng
chi tiết, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù
hợp với tổng tiến độ của dự án.
4. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên có liên quan
có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều
chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo
dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án.
Chú ý: Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải
báo cáo người quyết định đầu tư để quyết định việc điều chỉnh tổng tiến độ của dự
án.
5. Khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng trên cơ sở đảm bảo chất lượng
công trình.

hiệu quả trong thực hiện dự án đầu tư. Nhưng sự thiếu hiệu quả trong khâu chuẩn
bị thực hiện dự án không chỉ xuất phát từ nguyên nhân chủ quan.
Thứ hai, khó khăn trong khâu xin giấy phép XD và các giấy tờ liên quan. Hiện nay
các quy định đầu tư xây dựng của Nhà nước nhiều nhưng vẫn còn sơ hở, không
phải là một hệ thống ban hành đồng bộ, thường xuyên bị thay đổi, chủ quan duy ý
21
chí và tạo kẽ hở cho người thi hành vi phạm định chế vì lợi ích cá nhân. NN đã ban
hành bộ luật Xây dựng nhưng cũng chưa quy định rõ nguyên tắc đầu tư dẫn đến
tình trạng phổ biến là tất cả các khâu tham gia trong một công trình đều do một cơ
quan quản lý và theo dõi. Việc tổ chức thực hiện đều theo một chu trình khép kín
từ khâu thiết kế thi công, đến giám sát đấu thầu, nghiệm thu đều do một bộ một cơ
quan quản lý, trọng tài là người cùng đơn vị, hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi
còi” thế làm sao đảm bảo khách quan, trung thực được.Cơ chế quản lý phân công
công việc chồng chéo, không quy rõ trách nhiệm, thủ tục phiền hà đã tạo nên môi
trường cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị, khép kín, hạch sách NĐT.
Thứ ba, công tác đền bù giải phóng mặt bằng là khâu chủ đạo nhưng cũng không
tránh khỏi tình trạng không hiệu quả. Cơ chế chính sách của NN còn nhiều bất cập
đã gây trở ngại không nhỏ cho quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng. Giải phóng
mặt bằng là vấn đề khó khăn nhất đối với các dự án, chứ không phải là thiếu vốn, 2
nhân tố đảm bảo cho công tác này có hiệu quả là nâng cao nhận thức của người
dân trong việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế; tiếp đó là hoạt động của
chính quyền địa phương khi thực thi phải đúng luật, nghiêm chỉnh. Nếu làm tốt
những việc này thì mới có thể giải quyết được những vấn đề rất nan giải, vướng
mắc hiện nay liên quan đến đất đai.
Nhưng từ phía NĐT cũng góp phần làm chậm quá trình nảy bởi sự non nớt về kinh
nghiệm thực hiện. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng rất cần sự phối hợp nhịp
nhàng của nhà ĐT và chính quyền, UBND sở tạị. Sự chủ động phối hợp của chính
quyền địa phương là chìa khóa mở cánh cửa thúc đẩy tiến độ đền bù giải phóng
mặt bằng. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu cho các nhà đầu tư khi bắt tay chuẩn
bị thực hiện dự án.

hoạt động các kết quả đầu tư.
Thực tế có rất nhiều công trình xây dựng cơ bản, từ một vài tỷ đồng đến hàng
nghìn tỷ đồng, sau khi hoàn thiện thi công thì không thể đưa vào khai thác ngay chỉ
vì thiếu đồng bộ của quy trình đầu tư. Đó là một thực tế yếu kém của về năng lực
quản lý ở Việt Nam. Ta có thể đưa ra một vài ví dụ về những trường hợp cụ thể:
+ Dự án cầu Thanh Trì hiện nay được ghi nhận là dự án cầu lớn nhất Đông Dương,
với chiều dài 3084m, rộng 33, m và 6 làn xe chạy (trong đó có 4 làn xe cao tốc với
23
tốc độ cho phép 100km/h). Tổng mức dự toán đầu tư ban đầu 410 triệu USD được
khởi công vào năm 2002, theo kế hoạch đến tháng 11 năm 2006 là hoàn tất và
thông xe. Nhưng phải đến tận 02/02/2007 bộ Giao Thông vận tải mới chính thức
làm lễ “thông xe phần chính của cầu”. Còn các phần khác vẫn nằm trong tình trạng
dở dang do còn vướng nhiều nút cỏ trai chưa được giải tỏa không bàn giao mặt
bằng đúng tiến độ.Theo đánh giá sơ bộ, với kinh phí đầu tư 410 triệu USD xấp xỉ
6600 tỷVNĐ. Mặc dù nguồn vốn vay chính là ODA của Nhật với lãi suất ưu đãi
nhưng cái giá phải trả cho nó là không nhỏ. Nếu lấy lãi suất huy động trái phiếu
chính phủ 8%, ước tính con số 6600 tỷ VNĐ sẽ cho số tiền lãi phát sinh là 525 tỷ
VNĐ mỗi năm hay tương đương 1 tỷ VNĐ mỗi ngày vốn đã giải ngân. Cầu đã xây
xong, chưa đưa vào sử dụng có nghĩa là chưa sinh ra một đồng lợi nhuận nào
nhưng sau mỗi ngày lại lãng phí mất 1 tỷ VNĐ. Đó là riêng lẻ một công trình trong
khi thực tế thỡ cú hàng trăm công trình khác với tổng số vốn đầu tư hàng nghìn tỷ
VNĐ khi hoàn thành không được đưa vào sử dụng ngay.Có thể nói cho dù các
công trình với quy mô khác nhau, thời gian đắp chiếu dài ngắn khác nhau nhưng
tất cả đều có chung một nguyên nhân là: Sự không đồng bộ trong quá trình triển
khai dự án, sự ách tắc trong quá trình giải tỏa bàn giao mặt bằng và sự bất cập của
quản lý hành chính. Sự lãng phí thể hiện rõ nhất khi hàng loạt công trình xây dựng
đưa vào sử dụng không đạt hiệu quả kinh tế xã hội do không khai thác hết công
suất, thiếu nguyên liệu mà chủ yếu là do quy hoạch kém, không đồng bộ, không
gắn kết với quy hoạch phát triển ngành, vùng.Như thực trạng nhà máy xay xát lúa
gạo cầu Nguyễn, nhà máy chế biếnthủy sản đông lạnh Diêm Điền sau khi đầu tư

Tuy nhiên do quá trình quản lý và kiểm soát chi không được chặt chẽ nên tình
trạng làm thất thoát lãng phí nguồn vốn của Nhà nước hiện vẫn còn tồn tại phổ
biến đáng kể là các khoản chi để tu sửa cơ sở hạ tầng trong thời gian vừa qua.
* Chi cho hoạt động an sinh xã hội
Năm 2008 2009 2010 2011 2012
Chi dân số và kế hoạch hóa gia đình 615 710 770 900 970
Chi lương hưu và bảo đảm xã hội 32683 50266 64218 82660 95664
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status