ĐỀ TÀI:
NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GVHD: ĐINH PHI HỔ
SVTH : PANG POHOUR
LỚP : NGOẠI THƯƠNG-3 KHOÁ-32
TP. HỒ CHÍ MINH-2008
MỤC LỤC
A. LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1
II. PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1
B. THỰC TIỄN 2
1. Nông nghiệp: 3
2. Công nghiệp: 5
3. Xuất – Nhập khẩu: 6
4. Sự nghiệp giáo dục: 7
5. Môi trường sinh thái Đồng bằng Sông Cửu Long: 10
6. Tình hình an ninh- xã hội: 12
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta luôn không ngưng tăng
trưởng và phát triển. Đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới gia
nhập WTO tốc độ phát triển kinh tế của nước ta ngày càng nhanh, chính phủ và
quốc hội đã tổ chức rất nhiều cuộc hộp để thảo luận và đưa ra các giải pháp, chiến
lược sao cho thật phù hợp với tốc độ phát triển như hiện nay.
Căn cứ vào kết quả thống kê của sở kế hoạch đầu tư cho thấy tốc độ phát
triển kinh tế của nước ta năm 2007 là 8,2%-8,5%. Nhưng thực tế thì tốc độ phát
triển kinh tế của các vùng miền thì khác nhau mà cụ thể là tốc độ phát triển lớn hơn
tốc độ tăng trưởng của cả quốc gia.
Vấn đề này sẽ được trình bài một cách cụ thể trong đề tài “Nguyên nhân và
Giải pháp tăng trưởng kinh tế Đồng Bằng Sông Cửu Long”
Đề tài được bố cục như sau:
• Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn. Đây là điều kiện tiền đề để
thực hiện các mục tiêu khác của quá trình phát triển. Nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân
sách nhà nước ngày càng mở rộng, thu nhập dân cư cũng nâng lên và như vậy có điều
kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần cho người dân ( thông qua
tăng cường ngân sách cho đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, chăm sóc y tế, xoá đói giảm
nghèo,…).
• Trong quá trình phát triển kinh tế phải làm thay đổi được cơ cấu nền kinh tế.
Thay đổi cơ cấu nền kinh tế gồm nhiều vấn đề rộng lớn, bao gồm những thay đổi về cấu
trúc tỷ lệ trong tổng sản lượng quốc gia của các ngành kinh tế… Những thay đổi cơ cấu
này phải theo xu hướng được đánh giá là ngày càng tiến bộ. Thực chất là chuyển dịch từ
một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế có công nghiệp hiện đại và
các ngành dịch vụ được phát triển.
• Trong quá trình phát triển kinh tế phải cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ
phận dân cư bao gồm mức hưởng thụ vật chất( điện, nước sạch,thông tin liên lạc, dinh
dưỡng…). Tinh thần (giải trí, du lịch, văn hoá- nghệ thuật…), quyền con người, dân chủ,
mức độ công bằng xã hội, an ninh, an toàn được đảm bảo. Ở đây muôn nhấn mạnh là đại
bộ phận dân cư phải được hưởng lợitừ kết quả của quá trình phát triển.
• Trong quá trình phát triển kinh tế phải đảm bảo giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái tự
nhiên.
Như vậy, phát triển kinh tế Khác với tăng trưởng kinh tế, nó còn đề cập đến sự thay đổi
cơ cấu kinh tế, khía cạnh xã hội, môi trường chứ không chỉ dừng lại duy nhất là mục tiêu
tăng trưởng kinh tế mà thôi.
B. THỰC TIỂN:
Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2007:
Kinh tế -Xã hội:
Năm 2007 là năm thứ hai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 và là
năm đầu tiên thực hiện cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), 11 tỉnh thành
ở vùng Tây Nam Bộ thuộc ĐBSCL đã phấn đấu phát huy mọi nguồn lực, khắc phục mọi
khó khăn, thách thức, đưa tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển cao. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế toàn vùng (GDP) ước tăng bình quân trên 13%, Tp.Cần Thơ có mức tăng
nhưng do có những bảo hộ bằng hàng rào thuế quan và phi quan thuế nên đã có thể trụ
vững. Tuy nhiên, sau khi thực hiện lộ trình giảm thuế (trong phạm vi AFTA cần giảm
thuế suất xuống 0-5%) và chuyển đổi các hàng rào phi thuế sang hàng rào thuế quan sẽ
làm cho sự cạnh tranh càng thêm quyết liệt. Trong xu hướng chung về cánh kéo giá cả
giữa hàng nông sản và hàng công nghệp thì thách đố này lại thêm gay gắt.
• Vấn đề tiếp cận thị trường
Trong một thời gian dài trước đây, thị trường tiêu thụ nông sản chủ yếu là trong nước,
còn phần xuất khẩu lại thông qua hệ thống trung gian khá phức tạp, làm cho người sản
xuất không nắm bắt được nhu cầu thị trường, bị ép giá, gây ra tâm lý không an tâm sản
xuất ổn định. Trong những năm qua, việc đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu
nông sản nói riêng lại chủ yếu dựa vào những khả năng "hiện có" là chính, tức là đẩy
mạnh sản xuất và sử dụng phương thức chuyển dần từ thị trường nội địa ra thị trường khu
vực và quốc tế. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp chúng ta chưa tổ chức nghiên cứu kỹ
thị trường, do đó mấy năm gần đây đã xẩy ra ngày càng nhiều tình trạng khi sản xuất tăng
lên thì nẩy sinh tình trạng "thừa" do sản phẩm làm ra chưa đáp ứng tốt nhu cầu thị
trường, cả về giá cả, cũng như những tiêu chuẩn (vệ sinh, kiểm dịch, ).
Chẳng hạn, trong điều kiện sản xuất lương thực và thuỷ sản đã đủ và có khả năng đẩy
mạnh xuất khẩu, Việt nam có nhiều khả năng đẩy mạnh chăn nuôi gia súc (gà, lợn). Tuy
nhiên, cho đến nay, giới hạn về thị trường trong nước và xuất khẩu đã hạn chế khả năng
đẩy mạnh chăn nuôi. Lý do chủ yếu là trong chăn nuôi chúng ta chưa chọn lọc được
những giống gia súc vừa có năng suất cao,vừa có chất lượng thịt đáp ứng nhu cầu (ví dụ
lơn nạc cao), có những trại chăn nuôi đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh, thức ăn gia súc hợp tiêu
chuẩn, và hệ thống giết mổ, chế biến đáp ứng yêu cầu. Thêm vào đó, hiện nay nhiều
trại chăn nuôi được xây dựng nhỏ lẻ, không đạt tiêu chuẩn sau đó được thu gom vào chế
biến thực phẩm nên đã làm giảm lòng tin của người tiêu dùng.
Việc gia nhập WTO bên cạnh những lợi ích mang lại thì Việt Nam cần phải tiến hành
những bước đi quan trọng hơn nhằm tự do hoá thương mại và trên hết là điều chỉnh
khung chiến lược phát triển theo hướng tăng cường tính cạnh tranh và hội nhập vào khu
vực cho ngành nông nghiệp. Về chính sách, cần chú trọng hơn nữa đến việc khuyến
khích sự phát triển những ngành hàng nào có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và
- Đẩy nhanh việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng, môi trường tiên tiến (ISO
9000, ISO 14000 ) vì đây chính là tấm giấy thông hành để đi vào các thị trường mới.
- Phát triển hình thức thương mại điện tử (E- commerce); đẩy mạnh sử dụng dịch vụ
Internet để tìm kiếm thông tin thị trường, quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp mình, tìm
kiếm cơ hội kinh doanh.
- Coi trọng các biện pháp như hỗ trợ bán hàng truyền thống như quảng cáo, hội chợ, triển
lãm, các hình thức khuyến mại v.v.
- Để mở rộng thị trường, thâm nhập các thị trường mới, phải đặc biệt chú ý các vấn đề
như tiêu chuẩn hàng hoá, bao gói, tiến độ giao hàng, dịch vụ hậu mãi, phong tục tập quán
của từng nước v.v
* Đối với các cơ quan:
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cơ chế, chính sách nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho
doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường, chống hàng lậu, hàng giả, hàng nhái nhãn
mác
- Tổ chức tốt công tác thông tin thị trường, xúc tiến thương mại.
- Tạo ra bước chuyển biến căn bản trong việc cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ nhanh
chóng, kịp thời mọi vướng mắc cho doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm.
3. Xuất - Nhập khẩu :
a. Thành tựu đạt được:
Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 4,176 tỷ USD, tăng 29,86% so với năm 2006. Tổng thu
ngân sách (thu nội địa) toàn vùng đạt trên 12.700 tỷ đồng, tăng 2,87% so với năm 2006.
Tổng vốn đầu tư xã hội toàn vùng đạt trên 86.000 tỷ đồng, tăng 34,40% so cùng kỳ,
chiếm 44,36% GDP.
b. Các chính sách Xuất – Nhập khẩu:
Để đẩy mạnh xuất nhập khẩu dịch vụ nhằm giảm dần nhập siêu và tiến tới cải thiện cán
cân dịch vụ trong thập niên này. Về phương diện quản lý phải xây dựng một chiến lược
phát triển tổng thể về dịch vụ nói chung và xuất nhập khẩu dịch vụ nói riêng để nâng cao
tầm nhận thức của dịch vụ và vai trò của nó trong chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về
phát triển kinh tế-xã hội và hợp tác quốc tế.
Qua phân tích các kết quả, hoạt động kinh doanh và tổng hợp các báo cáo của một số các
quyết liệt.
PGS-TS Lê Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ÐH Cần Thơ, nhấn mạnh tới yêu cầu
thành lập trường CÐ cộng đồng, vì loại hình trường này là chính sách thích hợp trong bối
cảnh nguồn nhân lực có trình độ thấp như hiện nay.
Muốn thay đổi diện mạo một nền giáo dục cần có thời gian và những bước đi thích hợp,
quan trọng là có cơ chế, chính sách thỏa đáng. ĐH Cần Thơ tiến hành thực hiện đề án gửi
1.300 học sinh đi du học nước ngoài để làm nòng cốt cho trí thức ÐBSCL trong tương
lai.
Tại hội nghị phát triển giáo dục và đào tạo ÐBSCL đến năm 2010 và định hướng năm
2020, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhấn mạnh tới trách nhiệm trước hết của lãnh
đạo các cấp ủy đảng, chính quyền. Theo nguyên Thủ tướng, cần có cuộc cách mạng thật
sự trong chỉ đạo điều hành chứ không thể điều hành chỉ đạo theo kiểu chung chung.
Về đội ngũ giáo viên, cần phát động một phong trào như là chiến dịch đi B thời kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, chi viện kịp thời cho ÐBSCL. Xóa bỏ cơ chế xin cho, giao
quyền chủ động nhiều hơn cho từng địa phương để họ chịu trách nhiệm và có đủ quyền
chủ động huy động nguồn lực phát triển.
Ở vùng đồng bằng này, do ảnh hưởng lâu đời của nông nghiệp, nông thôn, nên chưa tạo
ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong học tập. Thói quen thỏa mãn trình độ của nhiều
người, kể cả đội ngũ cán bộ công chức còn lớn.
b. Các chính sách và giải pháp phát triển giáo dục:
Cũng con người đó ở địa phương chỉ dừng lại ở trình độ đại học, nhưng cũng con người
đó, lên TP.HCM không bao lâu sẽ có bằng sau ĐH, ngoại ngữ cũng tốt hơn. Môi trường
học tập sẽ tạo sự cạnh tranh lành mạnh để mọi cá nhân phấn đấu vươn lên. Bởi vậy, các
tỉnh ÐBSCL cần bổ sung hoàn thiện một số chính sách, quy định thông thoáng hơn để thu
hút các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động GD-ÐT.
Khuyến khích và nhân rộng các loại hình trường dân lập, tư thục để tạo phong trào xã hội
hóa giáo dục sâu rộng, có hiệu quả. Hình thành ý thức xã hội học tập trên cơ sở đề cao ý
thức tự học của người dân. Sức mạnh của tập thể chỉ có thể có được từ ý thức và sáng tạo
của mỗi cá nhân trong tập thể ấy.
Theo tinh thần của Bộ GD-ĐT, đến năm 2010, giáo dục ÐBSCL đạt chỉ số phát triển của
4.060.400ha có bờ biển từ Đông sang Tây dài gần 740km với hại phận trên biển
360.000km
2
. Đây là vung đất ngập nước của quốc gia với chế độ ngập lũ, ngập mặn và
hệ thống kênh rạch chằng chịt, có hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rừng tràm và
các hệ sinh nông nghiệp rất phát triển…
Những tiềm năng đó mở ra nhiều triển vọng để Đông bằng Sông Cửu Long phát triển
nhanh trở thành vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Tuy nhiên, những năm qua, tình
trạng dan số tăng nhanh, tài nguyên suy giảm, môi trường ô nhiểm… đã gây áp lực ngày
càng lớnđến phát triển kinh tế - xã hội, đến tài nguyên, môi trường và ảnh hưởng đến đời
sông, và sức khoẻ của nhiều người dân trong vùng
Kiến nghị một số giải pháp
Để đảm bảo sự phát triển bền vững trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại
hóa ĐBSCL, trên cơ sở của đặc điểm địa hình tự nhiên, kinh tế-xã hội và phân vùng sinh
thái thiết nghĩ, chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng cần tập trung thực hiện
tốt một số vấn đề cơ bản sau đây.
Quy hoạch phát triển nông- lâm- ngư đảm bảo an ninh lương thực và bảo vệ hệ sinh thái
đất ngập nước đặc thù ở ĐBSCL. Phát triển sản xuất công nghiệp, các khu, cụm công
nghiệp phải gắn liền với quy hoạch môi trường trong mối quan hệ chiến lược phát triển
vùng ĐBSCL.
Quy hoạch phát triển đô thị và các khu dân cư, cụm dân cư gắn liền với quy hoạch cấp
nước sạch và vệ sinh môi trường. Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái gắn liền với đặc
điểm vùng đất ngập nước đặc thù của các hệ sinh thái trong mối quan tâm bảo vệ môi
trường. Phát triển giao thông vận tải đường bộ, đường thủy để tạo cơ sở hạ tầng thuận
lợi cho phát triển kinh tế- xã hội và giải quyết hài hòa các vấn đề ngập mặn, ngập lũ- đặc
biệt là đối phó với tình trạng nước biển dâng cao ở khu vực ven biển ĐBSCL.
Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho các cấp chính quyền và
các ngành chức năng trong việc thực thi Luật Bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề
môi trường đặt ra. Giám sát chặt chẽ quy trình lập và thẩm định đánh giá tác động môi
nên giá trị tăng thêm còn nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch chưa thật vững chắc, hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, nên chưa tạo được
thế đột phá để tăng tốc. Hạ tầng kinh tế - xã hội vốn đã yếu kém lạc hậu so với cả nước
đến hay vẫn phát triển chậm và thiếu đồng bộ, nhất là giao thông, thủy lợi, giáo dục đào
tạo nguồn nhân lực là ba khâu then chốt nhằm phá thế bị cô lập và trì trệ của nền kinh tế.
Nhiều công trình trọng điểm quốc gia như cầu Cần Thơ, sân bay quốc tế Cần Thơ, Phú
Quốc, cảng biển, các tuyến đường quốc lộ 1A, N1, N2, đường cao tốc Tp.HCM - Cần
Thơ… khó hoàn thành theo kế hoạch đề ra nên chưa tạo được sức bật cả vùng, chưa đủ
sức hấp dẫn đầu tư trong và ngoài nước.
Nhiều vấn đề xã hội còn bất cập, gay gắt, thu nhập bình quân đầu người tuy có tăng,
nhưng thấp hơn mức bình quân cả nước. Đặc biệt là nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, hộ nghèo còn cao, có nơi trên 30 - 40%. Cơ
cấu lao động và nguồn nhân lực được đào tạo kỹ thuật đạt thấp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh tế phát triển- nhà xuất bản thống kê năm 2006
2. www.cucthongke.vn
3. www.bothuongmai.vn
4. www.tuoitreonline.com
5. www.mpi.gov.vn
NHẬN XÉT