Mô tả đặc điểm mô bệnh học ung thư biểu mô tuyến của phổi - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) hay ung thư biểu mô phế quản là u ác tính phát sinh
từ phế quản, tiểu phế quản tận, phế nang hoặc từ các tuyến phế quản. Đây là
một loại ung thư gây tử vong hàng đầu ở nhiều nước trên thế giới. Số các
trường hợp UTP đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Năm
2002, ước tính số mắc UTP trên toàn thế giới khoảng 1,35 triệu trường hợp,
chiếm 12,4% tổng số các loại ung thư. Ung thư phổi không còn là bệnh chủ
yếu ở nam giới như những năm 1930 -1950 mà hiện nay cũng là bệnh chủ yếu
ở nữ giới do tỷ lệ hút thuốc ở phụ nữ có xu hướng gia tăng (3). Ở Việt Nam,
tuy chưa có thống kê đầy đủ, nhưng những số liệu trong các báo cáo đã cho
thấy UTP ngày ngày càng tăng. Bệnh thường xảy ra ở người trên 40 tuổi, hơn
80% bệnh nhân UTP có tiền sử hút thuốc lá, UTP là loại ung thư có độ ác tính
cao, tiến triển nhanh, tiên lượng xấu (2).
Theo nhiều nghiên cứu đã công bố trên thế giới , Ung thư biểu mô tuyến
(UTBMT) là một trong 4 týp UTP thường gặp nhất, chiếm 30% UTP, đặc biệt
tăng nhanh ở nữ giới. Trước đây, UTBM vảy là týp UTP hay gặp nhất. Tuy
nhiên, từ khoảng thập niên 80 của thế kỷ 20 tỷ lệ UTBM vảy đã giảm xuống
rõ rệt và hiện nay, UTBMT vươn lên vị trí hàng đầu. Mặc dù UTBMT đã biết
đến từ rất lâu, đã hiện diện trong phân loại mô học UTP ngay từ những phõn
loại đầu tiên công bố trên y văn thế giới, song bản chất bệnh học của nó cũn
đang được nghiên cứu. Týp mô bệnh học (MBH) của UTBMT rất đa dạng và
phức tạp vỡ nú có nhiều phân typ nhỏ, có thể nhầm lẫn. Vì vậy, việc nghiên
cứu đặc điểm MBH cũng như biến đổi gen của UTBMT phổi có ý nghĩa rất
quan trọng trong chẩn đoán xác định và đánh giá tiên lượng bệnh.
Một trong những gen đang được nghiên cứu sõu trong những năm gần
đõy đó là gen ức chế thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (Epidermal growth
1
factor receptor – EGFR). Mục đích nghiên cứu gen này là tỡm ra thuốc ức chế
phát triển biểu mô.
Bộc lộ quá mức gen EGFR ở các khối u nói chung liên quan đến hậu quả
xấu trờn lâm sàng. Các thuốc ức chế EGFR – Tirosine Kinase đã được chứng

giống nhau trong suốt chiều dài cây phế quản. Tuy nhiên, các phế quản từ lớn
đến nhỏ đều có cấu tạo đại cương giống nhau. Thành phế quản từ trong ra
ngoài gồm 4 lớp:
* Niêm mạc: Gồm có lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển. Các
phế quản lớn có cấu trúc giống khí quản.
* Lớp đệm được tạo bởi mô liên kết thưa.
3
* Lớp cơ trơn được gọi là cơ Reissessen.
* Lớp sụn và tuyến: Các mảnh sụn bé dần theo đường kính phế quản
và mất khi đường kính phế quản < 1mm. Các tuyến phế quản thuộc loại tuyến
nhày và tuyến pha. Các tiểu phế quản có biểu mô phủ loại trụ đơn có lông
chuyển nhưng ở đoạn cuối lại là biểu mụ vuụng đơn có hoặc không có lông
chuyển. Tiểu phế quản tận cũng có biểu mô phủ là biểu mụ vuụng đơn. Tiểu
phế quản hô hấp có biểu mô phủ là biểu mụ vuụng đơn tựa trên màng đáy,
gồm các tế bào có lông chuyển, tế bào Clara. Các phế nang được lót bởi lớp
biểu mô rất mỏng được gọi là biểu mô hô hấp. Biểu mô hô hấp lợp vách phế
nang gồm hai loại: Tế bào phế nang loại I (chiếm đa số, hình dẹt) và tế bào
phế nang loại II ( tế bào này lớn hơn loại I, cú hỡnh cầu). Vách phế nang có
một mạng lưới mao mạch dày đặc. Trong vách gian phế nang cũn cú một số tế
bào mà số lượng của nó phụ thuộc vào tuổi tác cũng như sự mỏng đi của
thành phế nang (tế bào chứa mỡ, đại thực bào bụi)
1.1.2. Các loại tế bào chủ yếu.
Tế bào có lông có ở cỏc vỏch phế quản và tiểu phế quản; tế bào hình đài
có nhiều ở các phế quản lớn, cú ớt ở tiểu phế quản; tế bào đáy có nhiều ở phế
quản, ít gặp ở tiểu phế quản; tế bào Kulchitsky có nhiều ở phế quản hiếm gặp
ở tiểu phế quản; tế bào vảy ở phế quản và tiểu phế quản; tế bào lớn ưa axit ở
tuyến dưới niêm mạc; tế bào Clara chủ yếu ở tiểu phế quản; tế bào phế nang
loại I có ở phế nang; tế bào phế nang loại II có ở phế nang.
Một số tế bào khác ở phổi: tế bào nội mô, tế bào quanh mạch, tế bào xơ,
đại thực bào, dưỡng bào lymphụ bào, tế bào trung tâm biểu mô ở màng phổi,

5
phân loại mới về một số u của phổi dựa trên các công trình nghiên cứu sâu
của họ về u thần kinh nội tiết của phổi như sau [3]:
- U carcinoid
- Ung thư TKNT rất biệt hoá
- Ung thư TKNT ít biệt hoá
- Ung thư TKNT tế bào nhỏ và các týp khác của TKNT bao gồm:
+ UTBM tế bào lớn typ TKNT
+ UTBM tế bào nhỏ hỗn hợp tế bào lớn
+ UTBM tế bào nhỏ tổ hợp
Năm 1985, nhóm tác giả Teplitz R.L, Paladugu R.R, Benfield J.R, Pak
H.Y, Ross P.K cũng đã đề nghị áp dụng một phân loại mới cho các khối u
carcinoid điển hình và không điển hình .
Vào những năm 80 của thế kỷ 20 bắt đầu xuất hiện quan niệm chia
UTP thành 2 nhóm lớn: UTBM tế bào nhỏ và UTBM tế bào không nhỏ.
Năm 2003, Debra Hawes, Clive R.Taylor, Richard J.Cote đã đưa ra
một phân loại các UTBM TKNT như sau :
Typ u Tên cũ Biến thể mô học
UTBM
TKNT biệt
hoá tốt
U cacxinoit Dạng cơ quan; Thể bè; vi
nang (giả hoa hồng); Giả
tuyến; Nhú; Tế bào hình
thoi; tế bào lớn ưa axit với
xương và sụn
UTBM
TKNT biệt
hoá vừa
Uccxinoit không điển hình Dạng cơ quan với ổ hoại

PHÂN LOẠI MBH CÁC UTBM PHỔI CỦA
TCYTTG(1999) [38]
Týp mô học Mã hình thái học
1.Ung thư biểu mô tế bào vảy
Biến thể
8070/3
Nhú. 8052/3
Tế bào sáng 8084/3
Tế bào nhỏ 8073/3
Dạng đáy 8083/3
II.Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
Biến thể
8041/3
Ung thư biểu mô tể bào nhỏ tổ hợp 8045/3
III.Ung thư biểu mô tuyến 8140/3
Chùm nang 8550/3
Nhú 8269/3
UTBM tiểu phế quản phế nang 8250/3
+ Không chế nhày 8252/3
+ Chế nhày 8253/3
+ Týp hỗn hợp nhầy và không nhày hay týp tế bào
trung gian
8254/3
7
Ung thư biểu mô tuyến đặc với chất nhày 8230/3
UTBMT với các thứ nhóm hỗn hợp 8255/3
Biến thể
UTBM tuyến thai biệt hoá cao 8333/3
UTBM tuyến nhày “ dạng keo” 8480/3
UTBM tuyến nang nhày 8470/3

cũng có những phân loại mang tớnh chuyờn sõu về mọi nhóm hoặc một týp u
8
riêng biệt. Dựa trên các tiến bộ về hoỏ mụ miễn dịch, hoá miễn dịch tế bào,
siêu cấu trúc và nuôi cấy tế bào, Warren W.H và cộng sự ( 1985 ), đã đề nghị
một phân loại mới về u thần kinh nội tiết của phổi như sau [3]:
- U carcinoid
- UTBM thần kinh nội tiết rất biệt hoá
- UTBM thần kinh nội tiết ít biệt hoá
- UTBM thần kinh nội tiết týp tế bào nhỏ và các týp khác của u thần
kinh nội tiết bao gồm:
+UTBM tế bào lớn
+UTBM tế bào nhỏ cùng với tế bào lớn
+UTBM tế bào nhỏ hỗn hợp
9
1.2.2. Đặc điểm MBH các phõn týp và các biến thể của UTBMT của phổi
1.2.2.1. Chùm nang
Mô u được tạo bởi cỏc túi tuyến và ống thường được cấu tạo bởi các tế
bào chế nhầy giống các tế bào biểu mô tuyến phế quản hay biểu mụ lút phế
quản. Các cấu trúc nang hoặc ống tuyến chiếm ưu thế cú kốm hay không kốm
cỏc vựng nhỳ hay đặc.
1.2.2.2.Nhú
U cú các cấu trúc nhú chiếm ưu thế và thay thế cấu trúc phế nang
nằm dưới và xâm lấn nhu mô phổi. Tế bào u có hoặc không chế nhày, hình
khối hoặc trụ thấp, đôi khi là hình chốt phủ lên cỏc lừi liên kết, thay thế các tế
bào lút vỏch phế nang và hình thành những nhỏnh nhỳ bậc 2, bậc 3 phức tạp
1.2.2.3.Tiểu phế quản phế nang
Đây là UTBM có một mẫu u tiểu phế quản phế nang thuần khiết và
không có bằng chứng xâm nhập mô đệm mạch hay màng phổi. Typ này được
chia thành ba nhóm:
a. Không chế nhày: các tế bào Clara hay tế bào typ II phát triển dọc theo

thích sự tăng sinh, biệt hoá của tế vào bình thường và các tế bào ác tính . Khi
phối tử là yếu tố phát triển biểu mô (Epidermal Growth Factor: EGF) gắn với
EGFR sẽ gây nên sự phân cực thụ thể và sự tự phosphoryl hoỏ vựng cú hoạt
tính enzym của thụ thể. Điều này khởi đầu cho một loạt phản ứng tế bào dẫn
đến sự tăng sinh và tiến triển ác tính của khối u: tăng sinh mạch máu, di căn
và ức chế quá trình chết theo chương trình (apotosis) [1].
11
Các phối tử của EGFR là gia đình protein EGF gồm tám thành viờn bao
gồm Epidermal growth factor (EGF), Transformin growth factor (TGFα),
Epiregulins (ER), heparin binding EGF like growth factor (HB – EGF),
Epigen (EPGN, EPG), Amphiregulin (AR), Betacellulin (BTC) và
Neuregulins 1-4 EGF là chuỗi đơn acid polypeptid có 53 acid amin có chứa
ba liên kết disulfua nội phân tử để đảm bảo cấu trúc bậc ba của phân tử EGF.
Đặc tính quan trọng của EGF chính là truyền vào trong tế bào các tín hiệu từ
ngoài tế bào thông qua việc kết nối với các EGFR.
Phần ngoài màng của EGFR có trọng lượng khoảng 100 kDa có hai vùng
giàu cystein là nơi để gắn kết các phối tử EGF. Vựng xuyờn màng trọng
lượng nhỏ, chỉ 3 kDa, tập trung tại vùng phân cực phospholipid màng. Phần
trong tế bào trọng lượng khoảng 60 kDa là protein kinase với đuôi tận cùng
carboxyl nơi xảy ra phản ứng tự phosphoryl hoá của EGFR. Cấu trúc phần
ngoài màng của các thành viên trong gia đình EGFR giống nhau khoảng từ 36
– 40%, phần xuyên màng khoảng 60 – 82%, trong khi phần trong màng của
các thành viên gia đình EGFR chỉ giống nhau khoảng 24-32%.
Có 4 thành viên trong gia đình EGFR: HER1 (EGFr, ErbB1), HER2
(neu, ErbB2), HER3 (ErbB3), và HER4 (ErbB4). ErbB receptor ở dạng cặp
đôi với chính nó hay với ErbB khác (ErbB2) khi gắn kết với các phối tử EGF,
chúng hoạt hoá phần trong bào tương của EGFR, mang các gốc phosphat của
tyrosin kinase bằng các phản ứng tự phosphoryl hoá. Phần tyrosin kinase này
được hoạt hoá, kết quả làm phân cực để lộ các gốc phosphat, bằng cách đó
làm tăng hoạt tính vùng tyrosin kinase của EGFR. Phản ứng tự phosphoryl

không xảy ra sự sao chép từ acid amin -273. EGFRvIII khác EGFRvI ở chỗ,
EGFRvI làm thay đổi liên kết của thụ thể với các phối tử còn EGFRvIII làm
13
vùng liên kết với phối tử bị mất hoàn toàn. Chính vì vậy EGFRvIII kích thích
tăng sinh và tăng phát triển khối u ác tính không phụ thuộc tương tác của các
phối tư. Phản ứng tự phosphoryl của thụ thể TK ở EGFRvIII thấp hơn EGFR
thể tự nhiên (wildtypEGFR: wtEGFR). Vì thế, hoạt tính các phối tử TK trong
tế bào của EGFRvIII khác khi so với hoạt tính các phối tử wtEGFR.
EGFRvIII bền vững và hiện diện trên bề mặt tế bào hơn là phần trong tế bào
của thụ thể.
Đột biến cấu trúc phần trong bào tương EGFR ít thấy hơn vùng cấu trúc
phần ngoài màng. Chưa có nghiên cứu nào thấy sự đột biến xảy ra tại vựng cú
hoạt tính tyrosin kinase trong tế bào của thụ thể EGF [1].
1.4. CÁC KỸ THUẬT PHÁT HIỆN ĐỘT BIẾN EGFR.
1.4.1. Kỹ thuật hoá mô miễn dịch (HMMD)
Kỹ thuật HMMD đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Đây là bước
đột phá trong nghiên cứu bệnh học phân tử góp phần định tính hoặc bán định
lượng các phân tử kháng nguyên. Kỹ thuật này là phương pháp áp dụng các
nguyên lý và kỹ thuật miễn dịch để nghiên cứu tế bào và mô. Dựa trên sự biểu
lộ mang tính đặc hiệu kháng nguyên trên bề mặt tế bào hay tại khu vực gian
bào, các kháng thể đặc hiệu sẽ giúp cho việc nhận ra và phân loại các tế bào
hay mụ trờn cỏc lát cắt tổ chức.
Phương pháp sử dụng phức hợp avidin – biotin được hầu hết cỏc phũng
xét nghiệm hoá miễn dịch sử dụng trong nghiên cứu tế bào và mô. Với kỹ
thuật này, ái lực cao của avidin đối với biotin được sử dụng để gắn chất đánh
dấu peroxidase.
14
B
B
é

II
g
g
¾
¾
n biotin
n biotin
Kh
Kh
¸
¸
ng th
ng th
Ó
Ó
I
I
Kh
Kh
¸
¸
ng nguy
ng nguy
ª
ª
n
n
Biotin
Biotin
Avidin

ngoại ở bước sóng 260 nm của các purin và pyrimidin. Giá trị mật độ quang ở
bước sóng 260 nm (OD
260 nm
– Optical Densit
260 nm
) của các mẫu đo cho phép
xác định nồng độ acid nucleic trong mẫu dựa vào tương quan sau:
Một đơn vị OD
260 nm
tương ứng với nồng độ là:
- 50 g/ ml cho một dung dịch DNA sợi đôi.
- 40 .ml cho một dung dịch RNA hay DNA sợi đơn.
Tuy nhiên, cỏch tớnh này chỉ đỳng vúi cỏc dung dịch acid nucleic sach.
Để kiểm tra độ sạch của dung dịch, người ta đo thêm giá trị OD ở 280 nm
(OD
280 nm
). Các protein có mức hấp thụ cao nhất ở bước sóng 280 nm, nhưng
cũng hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 260 nm như các acid nucleic. Do đó, làm
sai lệch giá trị thật của nồng độ acid nucleic. Một dung dịch acid nucleic đạt
15
tiêu chuẩn về độ sạch ( không tạp nhiễm protein) khi tỷ số OD
260 nm
/ OD
280
nằm trong khoảng 1,8 – 2 [2], [17].
Các mẫu RNA và c DNA trong nghiên cứu được pha loãng ở nồng độ
100 lần và tiến hành đo OD ở bước sóng 260 nm và 280 nm.
1.4.3. Phương pháp điện di acid nucleic.
Nguyên lý của phương pháp điện di: dựa vào các đặc tính cấu trúc của
các acid nucleic là các đại phân tử tích điện âm đồng đều trên khắp bề mẳt

(2.5 mM).
Để ở nhiệt độ 25
0
C trong vòng 10 phút. Sau đó, đặt trờn đỏ một phút.
Bước 3: Giai đoạn tổng hợp cDNA (extention).
thêm vào 7µl/ ống hỗn hợp sau: 4µl 5 x first strand PCR buffer; 1µl DTT
(ức chế protein); 1µl HPRI (ức chế Rnase); 1µl MMLV –RT (enzym tổng
hợp). Để ở nhiệt độ 37-
0
C trong 55 phút và 70
0
c trong 15 phút 4
0
C ~ . cDNA
được giữ ở nhiệt độ – 20
0
C cho đến khi sử dụng cho PCR.
1.4.4.2. PCR.
Sau khi tổng hợp cDNA, chúng tôi sử dụng phương pháp PCR bán định
lượng để đánh giá mức độ sao chép HIP và EGFR.
Nguyên tắc của phản ứng PCR: Dựa vào hoạt tính của các DNA
polymerase khi hoạt động tổng hợp một mạch DNA mới từ mạch DNA
khuôn, với nguyên liệu là bốn loại nucleotid. Phản ứng này đòi hỏi sự có mặt
của những mồi xuôi và mồi ngượi có trình tự bổ sung với hai đầu của trình tự
DNA khuôn. Phản ứng PCR là mọt chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau, mỗi chu
kỳ gồm ba bước như sau:
Bước 1: Giai đoạn biến tính. Phân tử DNA được biến tính ở nhiệt độ cao
hơn Tm (nhiệt độ nóng chảy) của phân tử, thường là 95
0
C – 95

– GCT TAT GGT GCA GAC ATGG – 3

HIP – G: 5

– CAG AGA CTA CTC TGA AGC – 3

GAPDH – R: 5

– ACA TCC AAT ATG ATT CC – 3

GAPDH – R: 5’ – TGG ACT CCA CGA CGT ACT CA – 3


EGFR – F: 5

– GCT TAT GGT GCA ATG G – 3

EGFR – R: 5

– CGA AGT CTC ATA AGA GAC – 3

Thành phần phản ứng PCR: được tiến hành với tổng thể tích 10 gồm:
150 ng cDNA với cặp mồi HIP, 400 ng cDNA với cặp mồi EGFR và 1200 ng
với cặp mồi GAPDH; 1 x Ex – Tap Plymerase (takara Bio Inc. Kyoto, japan).
Chu trình nhiệt của phản ứng PCR đối với cặp mồi HIP và GAPDH như
sau: 94
0
C /5 phút, 35 chu kỳ [94
0
C / 50 giây, 58

bởi máy Agilent 2100 Bianalyzer. Đậm độ vạch các băng HIP và EGFR bởi
thạch agarose (nhuộm ethidium bromide) sẽ được so sánh với nồng độ HIP và
EGFR được đo trờn mỏy Agilent 2100 Bioanalyzer.
Agilent 2100 Bioanalyzer là công cụ phân tích mẫu acid nucleic cũng
như protein đạt các tiêu chuẩn công nghiệp thay thế cho phương pháp điện di
trên thạch agarose vốn đòi hỏi nhiều công sức. Đặc trưng của Agilent 2100
Bioanalyzer là nó có thể được sử dụng cả trong phân tách điện di ( ví dụ: tỏch
cỏc đoạn DNA) và phân tích các chỉ số huỳnh quang tế bào trong phương
pháp đếm tế bào dòng chảy (flow cytometry). Nhờ vậy, phân tích kết quả điện
di DNA có thể cho biết đồng thời cả kích thước và nồng độ đoạn DNA được
phân tách. Kể từ khi được đưa vào sử dụng năm 1999 Agilent 2100
Bioanalyzer được các nhà nghiên cứu ưa chuộng nhờ kết quả chính xác, thời
gian phân tích ngắn, lượng mẫu nhỏ (1 -4///) và khả năng tự động hoá cao
Trong phản ứng xác định nồng độ gen HIP và EGFR trong các mẫu mô
ung thư, khi điện di sản phẩm PCR được khuếch đại bởi các cặp mồi đặc hiệu
của hai gen HIP và EGFR, kết quả được thể hiện ở hình 2.2.
19
1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỘT BIẾN EGFR TRấN THẾ GIỚI
Hiện nay cùng với các phương pháp đang được áp dụng trong chẩn đoán
và điều trị ung thư, các nhà khoa học đã và đang đi sâu vào nghiên cứu các
gen , các marker ung thư đặc hiệu trong đó cú nhúm cỏc protein màng tế bào
nhằm góp phần chẩn đoán sớm ở mức độ sinh học phân tử.
Nhúm các protein màng có vai trò trong việc dẫn truyền tín hiệu tế bào -
tế bào hay khoảng gian bào - tế bào và có chức năng trong việc chưởng thành,
phát triển và biệt hoá của tế bào. Trong nhúm cỏc protein màng có một
protein màng tham gia vào việc dẫn truyền tín hiệu tế bào là thụ thể của yếu
tố phát triển biểu mô (Epidermal Growth Factor Receptor: EGFR). Một số
nghiên cứu đã thấy rằng hoạt động của yếu tố phát triển biểu mô (EGF) và thụ
thể của nó (EGFR) đóng vai trò quan tọng đối với quá trình phát triển và tái
tạo của tế bào. EGFR tăng cao trong tế bào ung thư là một yếu tố quan trọng

tính EGFR trong UTP hiện vẫn chưa được biết [3]. Sự bộc lộ ưu thế có liên
quan tới tiên lượng xấu của bệnh [3].
1.6. ĐIỀU TRỊ ĐÍCH ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN UTP LOẠI TUYẾN Cể
ĐỘT BIẾN EGFR
Ở những bệnh nhân ung thư khu trú và chưa di căn qua hạch, phẫu thuật
có thể mang lại tỷ lệ thời gian sống còn trong thời gian 5 năm là khoảng 40%.
Kể từ khi ghi nhận có bộc lộ quá mức EGFR ở các khối u ở người và có liên
quan đến hậu quả sấu trên lâm sàng, các thuốc ức chế EGFR – Tyrosine
Kinase (EGFR – TKI) đã được phát triển và chứng minh hiệu quả trong điều
trị ở những bệnh nhân NSCLC đã thất bại với hoá trị trước đó .
Paez và cộng sự đã khảo sát gen EGFR từ exon 2 đến exon 25 trên 119
mẫu khối u NSCLC
(16)
. Phân tích trình tự DNA cho thấy các đột biến mất
đoạn và đột biến (missense) ở tổng số 16 mẫu mô. Tất cả các đột biến được
biểu hiện trong các exon 18 – 21 của vùng kinase. Theo các nghiên cứu trước
đó, bệnh nhân bị đột biến EGFR và có đáp ứng tốt với EGFR – TKI cú cỏc
đột biến chủ yếu ở exon 18,19 và 21; trong khi những bệnh nhân bị đột biến
21
exon 20 có đáp ứng kém
(7,8)
. Người ta thường ghi nhận có sự thay thế xảy ra
ở exon 18 và 21, và có sự mất đoạn ở exon 19
(9)
. Đột biến mất đoạn (in frame)
hoặc đột biến thay thế tác động đến các acid amin chuyên biệt; do đó nó có
thể làm thay đổi vị trí gắn vào vùng tyrosine kinase. Do đó, sự thay thế này
ảnh hưởng đến hiệu quả của EGFR – TKI. Hơn nữa, người ta ghi nhận có mối
liên quan giữa tình trạng đột biến EGFR và tỉ lệ đáp ứng với điều trị bằng
EGFR – TKI ở bệnh nhân NSCLC. 38,6% trong số những bệnh nhân nghiên

- BN có đủ hồ sơ bệnh án, u nguyờn phỏt, được mổ lần đầu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các khối u di căn
- Mô bệnh học không phải UTBMT
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu
2.2.2. Tính cỡ mẫu
04,96
)2,0.5,0(
)5,01(5,0
.96,1
).(
)1(
.
2
2
2
)2/1(
2
=

=

=

ε
α
p
pp

quang học, phân loại MBH theo phân loại UTBMT của TCYTTG 1999
+ phân loại MBH UTBMT phổi theo TCYTTG 1999:
- Chùm nang
- Nhú
- UTBM tiểu phế quản phế nang:
Không chế nhày
Chế nhày
Typ hỗn hợp nhày và không nhày hay typ tế bào trung gian
- UTBMT đặc với chất nhày
- UTBMT với các thứ nhóm hỗn hợp
- Biến thể:
UTBMT thai biệt hoá cao
UTBMT nhày “dạng keo”
UTBMT nang nhày
UTBMT tế bào nhẫn
UTBMT tế bào sáng
24
• Các kết quả được kiểm duyệt lại bởi PGS.TS Tạ Văn Tờ.
+ Kỹ thuật nhuộm HE được thực hiện tại Khoa GPB - Tế bào Bệnh viện K
theo quy trình sau:
- Tẩy paraffin trong 3 bể toluen (hoặc xylen, xylon), mỗi bể 5 phút.
- Qua 4 bể cồn: 100º – 95º – 80º – 70º, mỗi bể nhúng 15 lần.
- Rửa nước cất: nhúng 15 lần.
- Nhuộm nhân bằng Hematoxylin Harris: 3 -5 phút hoặc lâu hơn.
- Rửa nước chảy: 5-10 phút.
- Kiểm tra màu của nhân qua kính hiển vi, nếu đậm, tẩy nhệ bằng cồn- axit.
- Rửa nước chảy: 1 phút.
- Nhuộm Eosin 1%: 1 – 2 phút.
- Rửa nước chảy: 1 phút.
- Biệt hoá trong 2 bể cồn 95º -100º , mỗi bể 15 lần nhúng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status