LỜI MỞ ĐẦU
Trong nhiều năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển quan
trọng, các doanh nghiệp Việt Nam đã dần khẳng định được vị trí của mình trên trường
quốc tế. Một trong những yếu tố tạo nên thành công đó là việc các doanh nghiệp đã xây
dựng cho mình một nét văn hóa riêng trong hoạt động kinh doanh của công ty.
Nếu như trước đây yếu tố văn hóa chưa được chú trọng trong kinh doanh, thì hiện
nay, khi xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, việc có văn hóa kinh
doanh, sẽ mang một ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh
doanh . Áp dụng có hiệu quả lý thuyết văn hóa doanh nghiệp đó vào thực tế, nhiều
doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong hoạt động kinh doanh.
Là sinh viên chuyên ngành quản trị kinh doanh chúng ta cần hiểu và nắm vững
vai trò văn hoá kinh doanh cũng như phương hướng hoạt động của các doanh nghiệp
trong thời đại hiện nay. Đây chính là lý do em thực hiện đề tài “ Phân tích thực trạng
văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Cổ Phần Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”
Do trình độ tiếp thu học tập của bản thân còn nhiều hạn chế, thời gian nghiên
cứu có hạn nên trong quá trình tìm hiểu, phân tích và đánh giá không thể tránh khỏi
những sai sót nhất định. Kính mong sự góp ý kiến giáo viên hướng dẫn để bài báo cáo
của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
1
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA
DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Nhờ có
văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những
con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay
khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” …
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa đề cập
đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Như vậy, khái niệm
văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần làm nền tảng cho lối sống, đạo
đức, chuẩn mực, hành vi, quan điểm, cách nghĩ và hành động của mỗi dân tộc và các thành
viên để vươn tới cái Chân, Thiện, Mỹ trong quan hệ giữa người với người, giữa người với
tự nhiên và xã hội. Theo đó, có thể rút ra khái niệm chung về văn hóa như sau: văn hóa là
toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người đã tạo ra trong quá trình lịch sử.
1.1.2. Văn hóa doanh nghiệp
Đề cập đến khái niệm “Văn hóa doanh nghiệp” đã có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Trước khi hai khái niệm “Văn hóa” và “doanh nghiệp” được ghép lại với nhau, đã có
hàng chục định nghĩa khác nhau về văn hóa. Khi kết hợp “Văn hóa” với “doanh nghiệp”
thì nghĩa của nó đã được thu hẹp đi rất nhiều. Tuy nhiên cụm từ “Văn hóa doanh nghiệp”
vẫn có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Cụ thể là:
Theo Jaques (1952): Văn hóa của một doanh nghiệp là cách tư duy và hành động
hàng ngày của các thành viên. Đó là điều mà các thành viên phải học và ít nhiều phải
tuân theo để được chấp nhận vào doanh nghiệp đó. Văn hóa theo nghĩa này bao gồm một
loạt các hành vi ứng xử, các phương thức sản xuất, kỹ năng và kiến thức kỹ thuật, quan
điểm về kỷ luật, các thông lệ và thói quen quản lý, các mục tiêu của những người liên
3
quan, cách trả lương, quan điểm về các công việc khác nhau, niềm tin vào tính dân chủ
trong các buổi thảo luận và những quy ước, những điều cấm kỵ.
Theo Denison (1990): văn hóa doanh nghiệp chỉ những giá trị, tín ngưỡng và nguyên tắc
bên trong tạo thành nền tảng của hệ thống quản lý doanh nghiệp, cũng như một loạt các
thủ tục quản lý và hành vi ứng xử minh chứng và củng cố cho những nguyên tắc cơ bản
này.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc
biệt của các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ
nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất với một tổ chức đã biết.
Là một khái niệm trừu tượng và có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên có thể
đó đều có thể làm nên đặc trưng cho DN. Thực tế cho thấy, cấu trúc và diện mạo có ảnh
hưởng đến tâm lý trong quá trình làm việc của người lao động.
1.2.1.2. Lễ kỷ niệm, lễ nghi và các sinh hoạt văn hóa
Đây là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và được chuẩn bị kỹ lưỡng. Lễ
nghi theo từ điển tiếng Việt là toàn thể những cách làm thông thường theo phong tục, áp
dụng khi tiến hành một cuộc lễ. Theo đó, lễ nghi là những nghi thức đã trở thành thói
quen, được mặc định sẽ được thực hiện khi tiến hành một hoạt động nào đó, nó thể hiện
trong đời sống hàng ngày chứ không chỉ trong những dịp đặc biệt. Lễ nghi tạo nên đặc
trưng về văn hóa, với mỗi nền VH khác nhau các lễ nghi cũng có hình thức khác nhau.
Một ví dụ cụ thể về lễ nghi trong phục vụ bàn: có sự khác nhau cơ bản giữa Việt Nam và
các nước châu Âu. Do bữa ăn của người Việt mang tính cộng đồng cao, tất cả mọi người
đều ăn chung một món ăn, nên ở Việt Nam khi phục vụ thức ăn thường có bát, nồi to đặt
ở giữa bàn, mỗi thực khách có một bộ bát, đĩa, thìa, đũa để lấy thức ăn từ bát lớn và nồi.
Ngược lại, ở phương Tây phục vụ bàn đem từng suất ăn ra phục vụ cho từng khách
hàng, cùng một món mà đặt bao nhiêu suất thì sẽ mang ra bấy nhiêu bát, đĩa.0
Lễ kỷ niệm là hoạt động được tổ chức nhằm nhắc nhở mọi người trong DN ghi nhớ
những giá trị của DN và là dịp tôn vinh DN, tăng cường sự tự hào của mọi người về DN.
Đây là hoạt động quan trọng được tổ chức sống động nhất.
5
Các sinh hoạt văn hóa như các chương trình ca nhạc, thể thao, các cuộc thi trong các
dịp đặc biệt,…là hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hóa. Các hoạt động này
được tổ chức tạo cơ hội cho các thành viên nâng cao sức khoẻ, làm phong phú thêm đời
sống tinh thần, tăng cường sự giao lưu, chia sẻ và hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên.
1.2.1.3. Ngôn ngữ, khẩu hiệu
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong đời sống hàng ngày, do cách ứng xử, giao
tiếp giữ các thành viên trong DN quyết định. Những người sống và làm việc trong cùng
một môi trường có xu hướng dùng chung một thứ ngôn ngữ. Các thành viên trong DN để
làm việc được với nhau cần có sự hiểu biết lẫn nhau thông qua việc sử dụng chung một
ngôn ngữ, tiếng “lóng” đặc trưng của DN. Những từ như "dịch vụ hoàn hảo", "khách
hàng là thượng đế",...được hiểu rất khác nhau tùy theo VH của từng DN.
trách nhiệm mà tự thân DN đặt ra. Sứ mệnh và các giá trị cơ bản cũng giúp cho việc xác
định con đường, cách thức và các giai đoạn để đi tới tầm nhìn mà DN đã xác định.
1.2.2.3. Mục tiêu chiến lược
Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, DN luôn chịu các tác động cả khách
quan và chủ quan. Những tác động này có thể tạo điều kiện thuận lợi hay thách thức cho
DN. Mỗi tổ chức cần xây dựng những kế hoạch chiến lược để xác định “lộ trình” và
chương trình hành động ,tận dụng được các cơ hội, vượt qua các thách thức để đi tới
tương lai, hoàn thành sứ mệnh của DN. Mối quan hệ giữa chiến lược và VHDN có thể
được giải thích như sau: Khi xây dựng chiến lược cần thu thập thông tin về môi trường.
Các thông tin thu thập được lại được diễn đạt và xử lý theo cách thức, ngôn ngữ thịnh
7
hành trong DN nên chúng chịu ảnh hưởng của VHDN. VH cũng là công cụ thống nhất
mọi người về nhận thức, cách thức hành động trong quá trình triển khai các chương trình
hành động.
1.2.3. Các giá trị ngầm định
Các giá trị ngầm định là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, tình cảm đã ăn sâu trong tiềm
thức mỗi thành viên trong doanh nghiệp. Các ngầm định là cơ sở cho các hành động,
định hướng sự hình thành các giá trong nhận thức cho các cá nhân.
1.3. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp với sự phát triển của doanh nghiệp
1.3.1. Thu hút và gìn giữ nhân tài cho doanh nghiệp
Một môi trường văn hóa mạnh có tác dụng thu hút và gìn giữ nhân tài cho tổ chức.
Địa vị, tiền lương, cơ hội thăng tiến,…chỉ thực sự có tác dụng lâu dài khi đi liền với nó
là một môi trường làm việc tạo được hứng thú, nhân viên cảm nhận được bầu không khí
thân thiện và có cơ hội khẳng định mình. Một tổ chức xây dựng được một nền văn hóa
mạnh sẽ quy tụ được sự nhất trí cao giữa các thành viên về những gì mà tổ chức đề ra.
Sự nhất trí đó sẽ tạo ra sự liên kết, củng cố lòng trung thành và sự cam kết bền vững với
tổ chức. Như vậy sẽ giảm được xu hướng rời bỏ tổ chức.
1.3.2. VHDN tăng tính nhất quán của hành vi
VHDN có vai trò gắn kết các thành viên, giảm xung đột. Muốn tồn tại và phát triển
DN cần tìm được sự thống nhất để thích ứng với môi trường cả bên trong và bên ngoài.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN MAI LINH NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN
2.1. Giới thiệu chung về công ty
2.1.1. Tập đoàn Mai Linh
9
Tên công ty : Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Mai linh
Tên giao dịch: MAILINH GROUP
Tên viết tắt: MLG
Tổng giám đốc: HỒ HUY
Địa chỉ: 64 - 68 Hai Bà Trưng, Phường Bến Nghé, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: +84 (8) 8298888
Fax: +84 (8) 8225999
Email : [email protected]
Website: www.mailinh.vn
Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Thành lập ngày 12.7.1993 với số vốn ban đầu chỉ là 300 triệu đồng, 2 chiếc xe du
lịch 4 chỗ và 25 nhân viên, 15 năm qua, Công ty TNHH Mai Linh – tiền thân của Công
ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh (Mai Linh Group – MLG) đã tạo được những bước đi
vững chắc, liên tiếp gặt hái thành công trên nhiều lĩnh vực.
- Năm 2002, chuyển thành Công ty cổ phần có vốn điều lệ là 68 tỷ đồng, tổng giá
trị tài sản 200 tỷ đồng, trong đó gồm 2 nghìn xe các loại.
- Năm 2006, đạt mức tăng trưởng vượt bậc, vốn điều lệ đã là 380 tỷ đồng, tổng
giá trị tài sản là 1 nghìn tỷ đồng, trong đó gồm 4 nghìn xe taxi các loại, 250 xe tốc hành
16 chỗ ngồi, 250 xe cho thuê.
- Đến năm 2007, vốn điều lệ của MLG đã tăng lên 980 tỷ đồng, phát hành được
32.716.427 cổ phần, nâng tổng vốn lên 707.164.270.000 (tương đương 70.716.427 cổ
phần); Doanh thu đạt trên 2.400 tỷ đồng, tăng 100,08% so với năm 2006. Cũng trong
năm 2007, MLG đã đầu tư vào các công ty 100% vốn của Công ty tại Mỹ, Campuchia,
Lào.
Với các cổ đông chiến lược hiện có như nhóm cổ đông Indochina Capital, Công
Fax: (84.58)6 254.999
Tóm tắt quá trình hình thành
11
-Tập đoàn Mai Linh Nam Trung Bộ & Tây Nguyên tiền thân là Công ty Cổ phần
Mai Linh Nha Trang chính thức được thành lập vào ngày 23/06/2003, với 100% vồn
trong nước.
- Tài sản ban đầu chỉ có 15 đầu xe taxi thuê từ Tập đoàn Mai Linh (Mai Linh Group)
và 35 lao động, hoạt động giới hạn trong thành phố Nha Trang với các lĩnh vực kinh
doanh: Dịch vụ Taxi, dịch vụ du lịch. Đến nay Tập đoàn đã phát triển có tổng số vốn đầu
tư lên đến 368 tỷ đồng, nâng tổng số đầu xe và các phương tiện khác lên tới hơn 800
chiếc, tạo công ăn việc làm cho hơn 1.800 lao động, mở rộng ra khu vực Nam Trung Bộ
& Tây Nguyên và thị trường Nam Lào (tỉnh Champasack) với 01 Trung tâm trực thuộc;
01 Ban quản lý dự án; 19 Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (18 công ty trong
nước và 01 công ty tại Nam Lào - tỉnh Champasack); 01 công ty tham gia góp vốn.
- Đầu năm 2003, do nhu cầu về phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường Tập đoàn
Mai Linh đã cử đoàn cán bộ đi nghiên cứu thị trường tại khu vực duyên hải Miền Trung
– Tây Nguyên, vùng đất hứa hẹn rất nhiều tiềm năng và cơ hội để đầu tư kinh doanh.
Sau khi nghiên cứu khảo sát nhu cầu và thị hiếu khách hàng, Mai Linh đã chọn Nha
Trang và Đà Lạt là điểm đến với nhiều lý do: là những thành phố du lịch nổi tiếng, số
lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến ngày càng đông, người dân địa phương
thì đã quen với cách đi lại bằng taxi.
- Tháng 06/2003, các Công ty Mai Linh Nha Trang và Đà Lạt được thành lập với số
lượng xe đưa vào hoạt động ở mỗi đơn vị là 15 chiếc taxi, cán bộ nhân viên mỗi công ty
lúc bấy giờ khoảng 35 người kể cả nhân viên văn phòng và lái xe. Mặc dầu đầu tư trong
một thị trường năng động và giàu tiềm năng, thế nhưng Mai Linh cũng gặp không ít khó
khăn, nhiều hãng taxi địa phương hoạt động lâu năm, chiếm lĩnh thị trường và khách
hàng ổn định. Tuy nhiên, với lòng nhiệt thành, nỗ lực phấn đấu của CBNV, thương hiệu
Mai Linh với nét văn hóa doanh nghiệp đặc trưng mang phong cách hiện đại, màu xanh
áo lính, màu xanh môi trường, với phương châm “Tất cả vì khách hàng” chính vì vậy
dịch vụ taxi của Mai Linh ngày càng có nhiều thuận lợi, được bà con cô bác gần xa biết
mới với nhiều chủng loại hiện đại nhằn đáp ứng tốt nhất nhu cầu và mong đợi của khách
13
hàng: Toyota Vios Limo, Toyota Zace, Toyota Innova, Mitsubishi Joile, Suzuki Wagon,
Daewoo Matiz, Isuzu Hilander…với hệ thống đồng hồ tính tiền chuẩn xác và kỹ thuật
phương tiện bảo đảm yêu cầu hoạt động, được kiểm định định kỳ bởi các Trung tâm
Tiêu chuẩn Đo Lường Chất Lượng thuộc Sở Khoa Học Công Nghệ các tỉnh trong khu
vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên.
- Trong kinh doanh vận tải, bên cạnh dịch vụ taxi và xe cho thuê, Tập đoàn Mai Linh Nam
Trung Bộ & Tây Nguyên cũng đã cho ra đời một loại hình dịch vụ mới, đó là dịch vụ
vận chuyển hành khách theo tuyến cố định – Mai Linh Express.
- Vào ngày khai trương, 18/01/2005, chỉ có 12 chiếc xe Ford Transit (16 chỗ ngồi) hoạt
động ở hai tuyến. Trong vòng 10 tháng đã nâng tổng số đầu xe lên 50 chiếc, hoạt động
tại 10 tuyến khách nhau, với phong cách phục vụ chu đáo và chuyên nghiệp đã mang lại
sự hài lòng cho khách hàng gần xa nhãn hiệu Mai Linh Express.
- Trên cơ sở Trung tâm vận tải tốc hành Express, ngày 01/10/2007, Tập đoàn Mai Linh
Nam Trung Bộ & Tây Nguyên đã chính thức thành lập ra mắt một đơn vị mới là Công ty
TNHH một thành viên vận tải tốc hành Mai Linh Nha Trang, công ty có văn phòng trụ
sở đặt tại 40 Thái Nguyên, Nha Trang.
- Hiện nay, công ty đang kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách trên các tuyến:
· Từ Nha Trang đi Tp.HCM và ngược lại một ngày 20 chuyến
(Xe phục vụ: Huyndai Noble 47 chỗ ngồi, đời 2007 hiện đại nhất Việt Nam hiện nay)
· Từ Nha Trang đi Đà Lạt và ngược lại một ngày 04 chuyến
· Từ Nha Trang đi Qui Nhơn và ngược lại một ngày 04 chuyến
· Từ Nha Trang đi TX. Cam Ranh và ngược lại một ngày 06 chuyến
· Từ Nha Trang đi Vạn Ninh và ngược lại một ngày 08 chuyến
· Từ Qui Nhơn đi Gia Lai và ngược lại một ngày 04 chuyến
· Từ Gia Lai đi Đà Nẵng và ngược lại một ngày 04 chuyến
· Từ Buôn Ma Thuột đi Đà Lạt và ngược lại một ngày 04 chuyến
· Từ Đà Lạt đi Tp.HCM và ngược lại một ngày 14 chuyến
· Từ Bảo Lộc đi Tp.HCM và ngược lại một ngày 06 chuyến
các chuyên gia, các lãnh đạo của các đơn vị thành viên trong tập đoàn nhằm khảo sát thị
trường và mở các hoạt động kinh doanh vận tải liên vận quốc tế du lịch.
- Từ ngày 07/01/2008 – 12/01/2008, tập đoàn tổ chức khảo sát lần 02 thị trường
Lào – Thái nhằm chuẩn bị tiến hành các dự án đầu tư về kinh doanh liên vận quốc tế, du
lịch sinh thái, thủy điện tại tỉnh Champasak (Lào).
- Ngày 29/02/2008, Tập đoàn Mai Linh Nam Trung Bộ & Tây Nguyên đã có buổi
làm việc và báo cáo đề xuất phương án hợp tác công trình “Hầm đèo cả” với lãnh đạo 02
tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Là một tập đoàn kinh tế lớn hoạt động trên nhiều lĩnh vực,
Mai Linh tham gia dự án này với vai trò là nhà đầu tư chiến lược. Việc Mai Linh tham
gia đầu tư vào dự án này thể hiện tinh thần trách nhiệm là góp tay cùng cộng đồng xã hội
xây dựng các công trình giao thông công cộng trong cả nước, trong đó Hầm Đèo Cả, với
mong muốn giảm áp lực giao thông trên đoạn đường này, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế của khu vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên.
- Ngày 31/03/2008, Tập đoàn Mai Linh Nam Trung Bộ & Tây Nguyên chính thức
được trao giấy phép thành lập Công ty Mai Linh Champasack (Lào). Công ty Mai Linh
Champasak sẽ có các ngành nghề kinh doanh là vận tải hành khách và du lịch; trong đó
vận tải hành khách bao gồm cả vận tải hành khách theo tuyến cố định nội địa Lào, vận
tải hành khách theo tuyến cố định quốc tế và vận tải hành khách bằng phương tiện taxi.
Về du lịch cũng bao gồm du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Với tổng mức vốn đầu tư là
2.500.000 đô-la Mỹ, vốn pháp định 930.000 đô-la Mỹ
- Ngày 1.4.2008 tại Attapeu, đại diện lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Attapeu
cũng đã trao quyết định cho phép Tập đoàn Mai Linh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên kết
hợp với công ty Khăm Tịnh (Lào) được phép khảo sát và lập dự án thuỷ điện ở Attapeu.
- Hợp tác Quốc tế trong đào tạo là một hoạt động được Mai Linh đặc biệt chú
trọng.
Cơ cấu tổ chức
16