THỰC TRẠNG VIỆC làm, THU NHẬP của LAO ĐỘNG nữ TRÊN địa bàn xã ĐÔNG HOÀNG, HUYỀN TIỀN hải, TỈNH THÁI BÌNH - Pdf 25

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM, THU NHẬP CỦA
LAO ĐỘNG NỮ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG HOÀNG,
HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Tên sinh viên : NGUYỄN XUÂN LUẬN
Chuyên ngành đào tạo : PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Lớp : K56 - PTNTB
Niên khóa : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : CN. NGUYỄN ANH ĐỨC
HÀ NỘI - 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã
được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Xuân Luận
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân dịp này tôi
xin chân thành cảm ơn đến những cá nhân và tập thể đó.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến CN. Nguyễn Anh Đức , người
đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.

lượng lao động khá cao, tuy nhiên hoạt động nông nghiệp vẫn là chủ đạo,.
Lĩnh vực phi nông nghiệp vẫn còn ít lao động nữ tham gia. Lao động nữ hoạt
động nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng có nhiều lao động nữ tham gia
vào nhóm kiêm nông nghiệp và phi nông nghiệp. Lao động nữ tương đối vất
vả trong công viêc khi sự đảm nhận công việc lớn, thời gian lao động nhiều
trong khi thu nhập thấp; (2) Các yếu tố cơ cấu ngành nghề, quan niệm xã hội,
độ tuổi, các nguồn lực nông hộ, trình độ văn hóa và chính sách của Nhà nước
là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và thu nhập của lao động nữ;
(3) Để cải thiện điều kiện việc làm và nâng cao thu nhập các cấp chính quyền
và lao động nữ cần quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển ngành
nghề dịch vụ, mở rộng thị trường, thâm canh, tăng hệ số sử dụng đất, tiến
hành kế hoạch hóa gia đình và nâng cao chất lượng lao động.
iii
MỤC LỤC
20. Luật Minh Khuê (2004). Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao
động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách, 83
Truy cập ngày 07/08/2014 tại />binh-dang-gioi-ve-thu-nhap-cua-nguoi-lao-dong-o-viet-nam-va-mot-so-
goi-y-giai-phap-chinh-sach.aspx 83
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ số Phát triển con người Khu Vực Đông Nam Á 18
Bảng 3.1. Tình hình đất đai của xã Đông Hoàng giai đoạn 2011-2013 28
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã Đông Hoàng (2011- 2013)
30
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Đông Hoàng giai đoạn 2011
-2013 36
Bảng 4.1 Phân loại theo thu nhập của hộ 42
Bảng 4.2 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra tại xã Đông Hoàng 44
Bảng 4.3 Cơ cấu lao động nông hộ phân theo lĩnh vực tham gia 46
50

phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
DS : Dân số
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
KHHGD : Kế hoạch hóa gia đình
LHQ : Liên hợp quốc
NTTS : Nuôi trồng thủy sản
SL : Số lượng
UNDP : Chương trình phát triển Liên hợp quốc
UNBD : Ủy ban nhân dân
TS : Tiến sĩ
viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển, đó là yếu tố
đầu vào không thể thiếu được trong quá trình sản xuất. Mặt khác lao động là
một bộ phận của dân số, đối tượng chính được thừa hưởng lợi ích của chính
sự phát triển ấy. Phát triển kinh tế là quá trình gia tăng về quy mô, sản lượng
từ đó thúc đẩy sự tiến bộ xã hội mà mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho con người. Lao động với tư cách là một trong bốn yếu
tố tác động tới tăng trưởng kinh tế và nó là yếu tố quyết định nhất , bởi vì tất
cả của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó
lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải đó. Chính vì thế Đảng và
Nhà nước ta luôn quan niệm trong bối cảnh kinh tế thị trường chiến lược
nguồn nhân lực là hết sức quan trọng.
Là một bộ phận không thể thiếu của lực lượng lao động, lao động nữ
ngày càng chiếm một vai trò quan trọng trong sự nghiệp Công nghiệp hóa -
Hiện đại hóa của đất nước. Tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế như: dệt
may, cơ khí, xây dựng, điện tử, thủy sản… hàng năm lực lượng lao động nữ
tạo ra hàng ngàn tỷ đồng đóng góp vào ngân sách Nhà nước và cũng có rất

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động
nữ trên địa bàn xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao
thu nhập của lao động nữ trên địa bàn xã Đông Hoàng trong thời gian tới.
2
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan
đến việc làm và thu nhập của lao động nữ.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu việc làm và thu nhập của lao động nữ trên
địa bàn xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
1.3.2.2. Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu trên phạm vi địa bàn xã Đông Hoàng,
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
1.3.2.3. Phạm vi thời gian
Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 – 2013. Số liệu điều tra
được thực hiện trong năm 2014. Thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2014
đến tháng 11 năm 2014.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
1. Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nữ trên địa bàn xã Đông
Hoàng diễn ra như thế nào?
2. Người lao động nữ gặp phải những vấn đề gì trong tham gia các hoạt
động kinh tế?
3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của lao động nữ
trên địa bàn xã Đông Hoàng?
4. Những giải pháp nào cần đề xuất để nhằm cải thiện điều kiện làm việc và
nâng cao thu nhập của lao động nữ trên địa bàn xã Đông Hoàng trong thời gian tới?
3

thời đóng góp một phần cho xã hội.
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản
xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người
lao động có việc làm khi người ấy chiếm được một vị trí nhất định trong hệ
thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm để người ấy thực hiện quá
trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người ấy.
Tạo việc làm theo nghĩa rộng bao gồm những vấn đề liên quan đến việc
phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Quá trình đó diễn ra từ giáo
dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho người lao động bước vào
cuộc đời lao động, đến tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng với những giá
trị lao động mà mình tạo ra.
Tạo ra việc làm theo nghĩa hẹp chủ yếu hướng vào đối tượng thất
nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm việc làm cho
người lao động và duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp.
Người có việc làm:
Người có việc làm là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt
động kinh tế:
- Đang làm việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền
hay hiện vật.
- Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi
nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình nhưng
không được trả công cho công việc đó.
- Đã có công việc trước đó song tại thời điểm điều tra tạm thời không
làm việc và sẽ trở lại làm việc ngay sau thời gian nghỉ việc.
5
Người thất nghiệp:
Là những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng chưa có
việc làm, đang có nhu cầu việc làm nhưng chưa tìm được việc làm (theo định
nghĩa Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam).
Đối lập với việc làm, thật nghiệp là một tình trong có tính tự nhiên của

nào đó chúng ta phải nói rằng: Lao động đã tạo ra chính bản thân con người
(Chu Thanh Hưởng & ctv, 2004).
Theo Bộ luật Lao động năm 1994, lao động là hoạt động quan trọng
nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự
phát triển của đất nước.
Lực lượng lao động: là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm
những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa
có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc (Wattpad, 2012).
Lao động nông thôn: Theo Đồng Văn Tuấn (2004), lao động nông thôn
là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong lĩnh vực kinh tế
nông thôn. Lao động nông thôn có những đặc điểm sau:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp.
Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị
trường thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của
lao động.
- Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu
nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.
7
2.1.2 Vai trò và đặc điểm của lao động nữ khu vực nông thôn.
2.1.2.1 Vai trò của lao động nữ
Phụ nữ nông thôn là những người sinh sống và làm việc ở khu vực
nông thôn. Trong cơ cấu dân số, trên 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn.
Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng gồm những
dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau và sinh sống ở những
vùng nông thôn khác nhau. Họ hoạt động ở mọi ngành nghề - kể cả những
ngành nghề nặng nhọc và độc hại. Theo số liệu từ Báo cáo điều tra lao động
việc làm của Tổng cục thống kê năm 2013, trong tổng lực lượng lao động nữ
có 68% là hoạt động trong nông nghiệp và được đánh giá làm ra 60% sản

năm qua; vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội rợ trong
gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng;
là người sinh đẻ chăm sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình
độ học vấn thấp, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp
cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ; ít có
điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới
trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình,
cũng không phải là người quyết định các vấn đề quan trong trong gia đình.
Lao động nữ nông thôn là dạng lao động đa năng (có thể đồng thời làm
tốt ở nhiều lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc
người già, người ốm, tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội và cộng đồng,…); có
mặt ở mọi loại hình lao động trong đời sống xã hội nông thôn; lao động nữ
vượt trội về sự dẻo dai, bền bỉ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn; nhiều sáng tạo,
năng động, khéo léo và luôn tuân thủ, phục tùng các nguyên tắc, các quy định
của người sử dụng lao động và của đặc trưng ngành nghề; phù hợp với những
việc làm ổn định, có thu nhập chắc chắn, đều đặn,
9
Lao động nữ nông thôn có nhiều bất lợi không chỉ so với lao động nam
giới mà cả lao động nữ ở các khu đô thị, các vùng công nghiệp. Mặc dù đối
với lao động nữ thời gian lao động kéo dài, cường độ lao động cao, môi
trường lao động ô nhiễm, môi trường văn hóa thấp kém, nhưng nhìn chung
thu nhập của họ thường thấp, không ổn định, bị phân biệt đối xử, chịu nhiều
áp lực và thường không được bảo hiểm. Hơn thế trong điều kiện mở của và
hội nhập, do tính chất thường phải gắn liền với gia đình của lao động nữ nông
thôn nên hộ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời điểm tìm kiếm việc làm có thu nhập
cao hơn ở các đô thị hay các thị trường lao động quốc tế.
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm của lao động nữ
2.1.3.1 Dân số
Dân số là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội, khả
năng tìm kiếm việc làm của lao động nữ. Trong một nền kinh tế thị trường biến

đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng con.
Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định
đoạt gì kể cả đối với bản thân. Đặc biệt đối với các nước Châu Á, có quan
niệm trọng nam khinh nữ: nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, điều đó thể hiện
sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị
nữ giới. Chính vì thế phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề tìm cho
mình công việc phù hợp với bản thân.
2.1.3.4 Các yếu tố về con người
Các yếu tố về con người bao gồm: sức khỏe, trình độ học vấn, độ tuổi và
giới tính. Hiển nhiên các yếu tố về con người sẽ đóng vai trò quan trọng trong
khả năng có việc làm của lao động. Đối với mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực
kinh tế đều yêu cầu người lao động đáp ứng được các chỉ tiêu đề ra để có
năng suất lao động lớn nhất. Khi mà một người xin việc có sức khỏe tốt, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn cao, ở trong độ tuổi phù hợp lại có trách
11
nhiệm trong công việc thì họ sẽ có rất nhiều khả năng tìm kiếm được việc làm
cho bản thân. Tuy nhiên nếu không thể đáp ứng được các yêu cầu về con
người thì người tím kiếm việc làm sẽ rất khó tìm được công việc.
2.1.3.5 Kênh thông tin về việc làm
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm đó là kênh
thông tin về việc làm. Hiện nay để tìm kiến hay tạo cho mình cơ hội để có
việc làm thì sự hiểu biết, sự nhạy bén về công việc, các mối quan hệ sẽ tạo
cho người tìm kiếm việc làm một lợi thế trong quá trình đi xin việc. Khi càng
có nhiều kênh thông tin về việc làm đồng nghĩa người xin việc sẽ nắm bắt
được yêu cầu của nơi tuyển dụng, tính chất công việc, từ đó sẽ có nhiều kinh
nhiệm hơn khi xin việc.
2.1.3.6 Các chính sách về lao động và việc làm của nhà nước
Đối với mỗi quốc gia không thể tránh khỏi được vấn đề thất nghiệp, đặc
biệt là với những nước đang phát triển. Khi mà quy mô dân số quá lớn sẽ làm
cho tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, các vấn đề về xã hội, y tế, giáo dục cũng sẽ rất

môn nào đó ,có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên
môn nhất định. Sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo
nghề càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được
rút ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động.
Trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đối với
năng suất lao động của con người. Trình độ văn hoá tạo khả năng tiếp thu và
vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Còn sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ sảo nghề
càng thành thạo bao nhiêu thì thời gian hao phí của lao động càng được rút
ngắn từ đó góp phần nâng cao năng suất. Trình độ văn hoá và chuyên môn
của người lao động không chỉ giúp cho người lao động thực hiện công việc
nhanh mà góp phần nâng cao chất lượng thực hiện công việc. Điều này sẽ
khiến năng cao vai trò của người lao động trong công việc được nâng lên và
ứng với nó sẽ là mức đã ngộ cao hơn hay mức thu nhập lớn hơn và ngược lại.
13
2.1.3.4 Độ tuổi
Độ tuổi cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
lao động nữ. Tùy vào tính chất, đặc thù công việc mà lại yêu cầu một độ tuổi
nhất định và có mức đãi ngộ nhất định. Nói cách khác độ tuổi sẽ quyết định
đến khả năng có việc làm và mức lương được hưởng từ công việc đó. Theo bộ
luật lao động thì tuổi lao động là từ 15 – đến 55 tuổi đố với nữ và từ 15 đến
60 tuổi đối với nam dĩ nhiên điều này sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập
của người lao động.
2.1.3.5 Các chính sách của Nhà nước
Thu nhập của lao động, nhất là lao động nữ chịu nhiều ảnh hưởng từ
chính sách của Nhà nước. Dựa vào những biến động và phát triển của nền
kinh tế mà nhà nước sẽ có những điều chỉnh nhất định về mức lương tối thiểu
dành cho công việc của người lao động.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì: Lương tối thiểu là một mức
lương thấp nhất theo quy định của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban

cái. Thu nhập của phụ nữ tính theo lương cũng chi đạt được khoảng 3/4 của nam
giới. Số lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo cũng rất thấp so với nam giới. Họ chỉ
chiếm khoảng 10% số ghế tại nghị viện và 6% trong chính phủ. Ở các nước đang
phát triển, phụ nữ chỉ chiếm dưới 7% trong số các nhà quản lí. Ở các nước khá
giàu như Hàn Quốc, Singapore, Hy lạp và rất giàu như Kuwait, phụ nữ chỉ
chiếm dưới 5% số ghế trong Nghị viện. Theo nhận định của LHQ trong thập kỉ
Phụ nữ 1975-1985 thì Phụ nữ chiếm hơn 1/2 dân số thế giới; lao động 2/3 thời
gian lao động của thế giới; sản xuất hơn 1/2 sản lượng nông nghiệp của thế giới;
chiếm 2/3 lực lượng mù chữ của thế giới; làm chủ 1/10 tài sản của thế giới. Lao
động hằng năm của Phụ nữ bị bỏ quên không được tính công là 11 tỷ USD.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status