Một vài biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi môn giáo dục công dân - Pdf 25

Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên: Lê Thị Kim Dung
Ngày tháng năm sinh: 18-11-1976
Năm vào ngành: 1998
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng
Trường THCS Tân Ước
Trình độ chuyên môn: Đại học Văn
Bộ môn giảng dạy: Ngữ văn
Khen thưởng (ghi hình thức cao nhất): Danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ
sở.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
1
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
MỤC LỤC
STT Nội dung Trang
1 Sơ yếu lí lịch 1
2 Mục lục 2
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
Lý do chọn đề tài 3
I. Cơ sở và đặt vấn đề 4
II. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. 4
1. Mục đích nghiên cứu 4
2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3. Phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 5
4
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 6
A.Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng HSG. 6
B. Quá trình thực hiện. 6

lượng bộ môn, nâng cao tỷ lệ học sinh khá, giỏi.
Trong giai đoạn đổi mới của đất nước, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hơn
nữa công tác giáo dục, và coi đây là một trong những yếu tố đầu tiên, yếu tố
quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu của giáo dục là: “Nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ của ngành
giáo dục, xem trọng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi ở các trường THCS hiện nay đang được coi trọng và tổ
chức thực hiện trong nhưng năm qua.
Đối với phòng giáo dục và đào tạo huyện Thanh Oai trong những năm
gần đầy với mục tiêu nâng cao chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn. Vì
vậy mà công tác Bồi dưỡng học sinh giỏi trở thành nhiệm vụ trọng tâm của năm
học.
Trường THCS Tân Ước nhận thức được chất lượng học sinh giỏi là tiêu
chí để đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, để đánh giá thi đua, là mong
mỏi của nhân dân và cũng là mục tiêu chung của toàn ngành. Vì thế ngay từ đầu
năm nhà trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi ở 9 môn văn hóa.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
3
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
Tuy nhiên đối với bộ môn GDCD cũng gặp nhiều khó khăn. Học sinh và phụ
huynh luôn cho đó là bộ môn phụ trong nhà trường không thi thì không học.
Là giáo viên đã và đang làm nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi tôi hiểu
rằng: Đối với mỗi thầy cô giáo thì ai cũng muốn “sản phẩm” của mình đạt chất
lượng cao, ai cũng muốn có học sinh giỏi, đặc biệt là với những người tâm huyết
nghề nghiệp, họ luôn dồn hết sức lực và trí tuệ của mình để đạt được những
mong muốn đó. Tuy nhiên, muốn có được như thế đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều
phía chứ không chỉ phía người dạy. Do đó mong muốn chính đáng của người
thầy giáo không chỉ dựa vào sự nỗ lực của chủ quan mà thành hiện thực được và
giáo viên được phân công giảng dạy bộ môn GDCD cũng không phải là ngoại

3. Phạm vi nghiên cứu:
* Bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm cần thiết đối với tất cả các
bộ môn, các khối lớp trong nhà trường THCS, ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong
phạm vi hẹp. Đó là bàn về một số biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh
giỏi, cụ thể là bồi dưỡng học sinh giỏi khối 9 môn Giáo dục công dân ở
trường THCS Tân Ước.
* Đối tượng bồi dưỡng ở đây không phải là học sinh lớp chuyên, trường
chuyên mà là học sinh ở các trường đại trà .
4. Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn, đúc rút kinh
nghiệm thực tiễn chỉ đạo và giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung .

Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
5
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A- Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi .
Như đã nói ở trên, môn GDCD là một trong những môn học có vai trò, vị
trí hết sức quan trọng trong trường Trung học cơ sở .Vì sao lại như vậy? Môn
GDCD cung cấp khá nhiều kiến thức cho các em học sinh trên nhiều lĩnh vực. Ở
chương trình giáo dục công dân chia làm hai phần.
Phần 1: Giáo dục đạo đức: Học sinh được tìm hiểu về những chuẩn mực
vốn có của người Việt Nam để từ đó nhận thức nâng lên thành những giá trị đạo
đức, tư tưởng, chính trị, lối sống của con người Việt nam trong thời kỳ CNH-
HĐH đất nước.
Phần 2: Giáo dục pháp luật: Cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản
chất, vai trò và vị trí của pháp luật nhằm giúp học sinh có thể chủ động, tự giác
điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo
quyền hạn và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

nội dung bài học, không nhận thức được vấn đề hữu ích trong cuộc sống, không
học thuộc bài, không làm bài tập. thậm chí có những học sinh không ghi bài và
không nhớ rằng đã được học. Chính vì vậy ngày càng có nhiều học sinh chưa
ngoan, không biết hành vi của mình là vi phạm chuẩn mực đạo đức và vi phạm
pháp luật.
+ Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc diễn ra thường xuyên hàng
năm, là một công tác trọng tâm ở các nhà trường. Song một khó khăn lớn đối
với các nhà trường là tất cả những học sinh có năng khiếu đều thích thi môn tự
nhiên, các môn học mà các em cho là chính như: Toán, Lý, Hóa, Văn…số còn
lại phần nhiều là học sinh trung bình, học sinh khá còn rất ít. Và với một trường
nhỏ, số lượng học sinh ít như trường THCS Tân Ước thì việc chon học sinh dự
thi HSG môn GDCD càng khó khăn vì phải chọn học sinh cho 9 đội tuyển nên
khó có học sinh khá cho môn GDCD.
+ Mặt khác, do nhận thức của một số phụ huynh lại không muốn cho con
em mình tham gia đội tuyển GDCD cho nên thường thì những học sinh có năng
khiếu cả về tự nhiên và xã hội thì các em lại muốn thử sức ở các bộ môn khác
mà không yêu thích và ham mê học GDCD. Điều này có ảnh hưởng không ít
đến chất lượng của đội tuyển GDCD.
- Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi đó là vấn đề
tài liệu, nhất là phương pháp, hình thức bồi dưỡng. Các đồng chí được phân
công dạy môn GDCD ở trường THCS Tân Ước thường là các đồng chí được
đào tạo môn 2, là giáo viên hợp đồng, mới ra trường kinh nhiệm thì chưa có là
bao mà những bài viết, những chuyên đề về vấn đề này còn qúa ít. Chính từ
những lý do này mà các đồng chí giáo viên rất lo lắng khi được phân công bồi
dưỡng. Đây là tình hình thực tế mà tôi nắm bắt được thông qua trao đổi, gặp gỡ
trực tiếp với một số giáo viên bồi dưỡng đội tuyển ở trường.Thực tế trên đã giúp
tôi nhận thức sâu sắc hơn về công tác này.
+ Người dạy GDCD chưa có phương pháp phù hợp, khai thác bài học
chưa hiệu quả để học sinh nhận thức được môn GDCD không chỉ là một môn
học mà nó còn rất thiết thực trong cuộc sống.

Năm học Số HS thi Đạt cấp Huyện Vào vòng 2 Thithành phố
2010-2011 5 3 1 0
2011- 2012 5 3 1 0
2012- 2013 4 0 0 0
III. Một số biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn GDCD.
1.Biện pháp 1:Chỉ đạo giáo viên thực hiện một số yêu cầu có tính
nguyên tắc trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD
1.1: Giáo viên phải nắm chắc kiến thức, nội dung chương trình và nội
dung thi.
* Trước hết giáo viên dạy bộ môn phải nắm vững chương trình, nội dung
sách giáo khoa, trọng tâm và yêu cầu trong giờ dạy.
- Về chương trình: 35 tiết/ năm học; 26 tiết lý thuyết, 4 tiết kiểm tra, 2 tiết
ôn tập, 3 tiết ngoại khóa/ mỗi khối lớp. Với dung lượng 1 tiết/ 1 tuần ở các lớp
6, 7,8, 9.
- Về nội dung: Ở lớp 6: Nội dung giảng dạy gồm 2 phần (Đạo đức và pháp
luật)
Ở lớp 7: Nội dung giảng dạy gồm 2 phần ( Đạo đức và pháp luật)
Ở lớp 8,9: Nội dung giảng dạy gồm 2 phần ( Đạo đức và pháp luật).
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
8
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
- Mỗi bài dạy gồm 3 phần:
+ Đặt vấn đề
+ Nội dung bài học.
+ Bài tập.
* Đối với những bài học đạo đức cần thực hiện 4 yêu cầu trong giờ dạy
- Cung cấp kiến thức: khái niệm, những biểu hiện đúng, biểu hiện trái với
đạo đức, ý nghĩa, trách nhiệm của nhà nước và công dân.
- Bồi dưỡng ý thức và đạo đức cho học sinh.
- Hình thành tình cảm, đạo đức cho học sinh.

các em đang muốn, giải thích những vướng mắc của các em, tạo nên sự gần gũi
thân thiết với các em .Đây là lứa tuổi đang phát triển nhân cách các em đang
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
9
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
ngày càng hoàn thiện bản thân mình. Các em sẽ thần tượng một ai đó có thể là
giáo viên, trên thực tế có nhiều em không thích học môn học ấy nhưng vì em rất
ấn tượng giáo viên dạy môn đó nên em đã cố gắng học tập thật tốt. Có thể các
em thần tượng giáo viên mình ở một khía cạnh nào đó như khả năng giảng bài
cuốn hút, sự hiểu biết uyên bác hay luôn lắng nghe và thấu hiểu tâm tư học sinh,
luôn giúp đỡ học sinh lúc gặp khó khăn hay một tài năng nào đó chẳng hạn.
Chính vì lẽ ấy ấn tượng ban đầu của học sinh đối với người giáo viên cũng rất
quan trọng ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em. Tại sao em lại thích học
bộ môn này? Tại vì em thích giáo viên dạy môn này cô ấy rất vui, học giờ của
cô em không thấy chán và lớp em cũng vậy rất thích tiết học do cô dạy!
Qua những lời tâm sự của học sinh phần nào thấy được vai trò của việc
tạo hứng thú trong tiết học có sức ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh.
Chính vì vậy người giáo viên phải tạo được tình cảm, ấn tượng cho học sinh và
từ đó tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học.
1.3 Yêu cầu giáo viên kết hợp tốt các phương pháp để học sinh có hứng
thú và nắm chắc kiến thức môn học.
Trước kia hầu như nhiệm vụ của người giáo viên trong tiết học là cung
cấp và giảng giải cho học sinh hiểu những kiến thức của bài học. Sau đó học
sinh sẽ ghi chép theo sự hướng dẫn của giáo viên mà đa số là giáo viên đọc cho
học sinh ghi chép. Lớp học hầu như rất trầm lặng chỉ có tiếng giảng bài của giáo
viên, học sinh ngồi lắng nghe và ghi chép. Do đó mà kết qủa giảng dạy không
cao. Đối với môn GDCD là bộ môn mà kiến thức của nó liên quan tới cuộc
sống, hành vi, suy nghĩ hàng ngày của học sinh. Vì thế việc giảng dạy như trước
kia là không còn phù hợp nữa. Điều đó sẽ tạo nên sự nhàm chán, học sinh dễ
ngủ gật trong tiết học.

Câu hỏi: Trình bày quan điểm về các trường hợp trên?
Trong bài: Tệ nạn xã hội. Giáo viên có thể sử dụng phương pháp động
não, xử lý tình huống, phân tích thông tin, trình bày 1 phút
Khi dạy đén phần tác hại của tên nạn xã hội giáo viên cho trình chiếu các
đoạn băng hình hoặc giáo viên yêu cầu trình bày các sản phẩm tự sưu tầm được
(yêu cầu học sinh chuẩn bị trước) về tình hình tệ nạn xã hội ở địa phương va ở
Việt Nam.
Ví dụ 1: Phóng sự tệ nạn xã hội đã biến một làng văn hóa trở nên tiêu điều
bởi tệ nạn xã hội
Ví dụ 2: Video về những con nghiện
Ví dụ 3: Clip đau lòng và những điều bạn không muốn biết về HIV/AIDS
(ngày 01/12/2011)
Câu hỏi: Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và phát biểu các em biết gì
về những vấn đề này?
Ví dụ 4: Giáo viên yêu cầu đại diện các nhóm trình bày các sản phẩm tự
sưu tầm được về tình hình tệ nạn xã hội ở địa phương. Các nhóm khác chất vấn,
nhận xét, bổ sung, sau đó giáo viên kết luận.
Trong bài: Trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là bài học hhướng dẫn học thêm song lại có ý
nghĩa rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng,đạo đức cho học sinh. Muốn bài dạy
có hiệu quả giáo viên dùng phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp động
não với phương pháp này giáo viên có thể tập hợp nhiều ý kiến khác nhau
trong một thời gian ngắn, tạo không khí học tập sôi nổi, học sinh sẽ chủ động,
tích cực, tự tin.
Khi dạy mục. Trách nhiệm của thanh niên? Giáo viên cho học sinh
nghiên cứu 2 mẫu chuyện sau đây để tích hợp vào bài:
Mẫu chuyện 1: Anh Lê Hồng Sơn – Sinh năm 1979, nhà ở vùng 3, xã Phú
Gia, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, bị tật nguyền từ bé, cả hai tay anh đều
không vận động, cử động được. Với nghị lực vươn lên, anh đã tự chọn một nghề
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước

nhất nào mà phải biết linh hoạt phối hợp nhuần nhiễn các phương pháp với nhau
mới tạo nên sự hứng thú tiết học sẽ trở nên sinh động không bị nhàm chán.Cụ
thể như sau:
Khi sử dụng phương pháp dạy học cần phối hợp một cách linh hoạt, hợp
lý các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại phù hợp với đặc trng bộ
môn GDCD như thuyết trình, đàm thoại, thảo luận, phân tích xử lý tình huống,
giải quyết vấn đề, sắm vai, tổ chức trò chơi cụ thể. Làm được điều đó giờ học sẽ
sinh động, hấp dẫn giàu cảm xúc và hướng vào việc tổ chức cho học sinh hoạt
động, tích cực nhận thức và hành động, tự phát hiện và giải quyết vấn đề do bài
học đặt ra. Khắc phục tính chất áp đặt đơn điệu, thụ động, hình thức trong việc
vận dụng các phơng pháp dạy học.
Cần tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan, thiết bị dạy học như tranh
ảnh, băng hình,máychiếu. Cần khắc phục tình trạng thầy nói trò nghe, thầy đọc
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
12
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
trò chép. Phải tích cực phát huy tính độc lập suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện, khám
phá của học sinh trong mỗi giờ dạy.
Tóm lại, để đạt mục đích ấy, giáo viên phải chú trọng từ khâu soạn bài,
chuẩn bị bài ở nhà của học sinh. Nội dung chuẩn bị bài rất đa dạng: trả lời câu
hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa. Đến lớp, giáo viên phải dành thời gian,
tranh thủ kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em. Trên cơ sở đó, học sinh sẽ có tâm
thế tốt hơn trong học tập. Đồng thời với đó là bài giảng của giáo viên với hệ
thống câu hỏi hợp lí, khoa học: phát hiện, gợi mở, phân tích. để đạt tới mục đích
cuối cùng là yêu cầu, hiệu quả của giờ dạy.
Giáoviên trong quá trình giảng dạy cần phải biết kết hợp hài hoà các
phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại. Sau mỗi giờ học cần làm chuyển
biến ở học sinh tình cảm
2.Biện pháp 2: Chỉ đạo và hướng dẫn giáo viên một số biện pháp bồi
dưỡng học sinh giỏi môn GDCD

2.2.1 Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh.
Sở dĩ phải có bước này bởi một yêu cầu đối với học sinh giỏi là phải nắm
vững kiến thức cơ bản cái gọi là phần nền, rồi mới mở rộng kiến thức và những
hiểu biết ngoài xã hội. Đây là biện pháp có tính phương pháp, thậm chí gần như
một nguyên tắc trong dạy học cho học sinh giỏi. Muốn kiểm tra, đánh giá việc
nắm bắt kiến thức cơ bản của học sinh, giáo viên thông qua kiểm tra miệng,
kiểm tra củng cố sau khi kết thúc bài; thông qua việc làm bài tập trong sách giáo
khoa và các bài tập tinh huống giáo viên sưu tầm phục vụ cho bài dạy.
VD: Sau khi học bài “ chí công vô tư” giáo viên có thể kiểm tra việc nắm
bắt kiến thúc của học sinh qua các câu hỏi sau:
Câu 1. Thế nào là chí công vô tư? Hãy nêu ví dụ về một việc làm thể hiện
chí công vô tư.
Trả lời
- Chí công vô tư là phẩm chất đạo đức của con người, thể hiện ở sự công
bằng, không thiên vị, giải quyết công việc theo lẽ phải, xuất phát từ lợi ích
chung và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
- Nêu một ví dụ, có thể là: Một người cán bộ lãnh đạo biết lắng nghe và
tiếp thu ý kiến phê bình của cán bộ cấp dưới để cải tiến công tác lãnh đạo được
tốt hơn; một học sinh không vì cảm tình riêng mà bỏ qua hoặc che dấu khuyết
điểm cho bạn; một người dân hiến đất của gia đình để xây trường học cho trẻ
em;
Câu 2. Chí công vô tư có ý nghĩa như thế nào đối với mỗi cá nhân, cộng
đồng, xã hội ?
Trả lời
- Người chí công vô tư sẽ luôn sống thanh thản, được mọi người vị nể,
kính trọng.
- Đem lại lợi ích cho tập thể, cộng đồng, xã hội, đất nước.
Câu 3. Có ý kiến cho rằng chỉ người lớn, nhất là những người có chức có
quyền mới phải rèn luyện phẩm chất chí công vô tư, học sinh còn nhỏ không có
điều kiện để rèn luyện phẩm chất đó.

bài khi kiểm tra.
Câu 6. Những biểu hiện dưới đây là chí công vô tư hay không chí công
vô tư ? (đánh dấu X vào ô tương ứng)
Biểu hiện Chí công
vô tư
Không chí
công vô tư
A. Không vì tình cảm riêng hoặc vì danh lợi mà đối xử
thiên lệch.
B. Có thái độ vô tư, khách quan khi đánh giá người khác.
C. Ba phải, ai nói thế nào, làm thế nào cũng cho là đúng,
là được.
D. Đấu tranh chống những biểu hiện cá nhân, thu vén cho
riêng mình.
E. Lợi dụng chức quyền để thu lợi cho cá nhân mình.
G. Coi trọng lợi ích chung hơn lợi ích cá nhân mình.
H. Bỏ qua cho những việc làm sai trái để được lợi.
ĐÁP ÁN:
- Chí công vô tư: A, B, D, G
- Không chí công vô tư: C, E, H
Trên đây là những câu hỏi kiểm tra, đánh giá học sinh ở các mức độ: nhận
biết; thông hiểu; vận dung; phân tích, đánh giá nếu học sinh trả lời tốt các câu
hỏi như trên thì có thể đánh giá học sinh có kiến thức cơ bản và có khả năng để
thi học sinh giỏi bộ môn GDCD
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
15
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
2.2.2 Cung cấp những kiến thức về pháp luật và hiểu biết xã hội.
* Kiến thức về pháp luật.
Qua một số năm giảng dạy, tôi nhận thấy, ở lớp 8 và lớp 9 học sinh được

có khả năng viết tốt, nhưng không có kỹ năng làm bài thi theo đặc trưng bộ môn
nên bài làm mất nhiều thời gian, viết dài mà không hiệu quả. Vì vậy mà giáo
viên phải dành một khoảng thời gian nhất định hướng dẫn học sinh cách làm bài.
VD trong đề thi hỏi câu hỏi: Thế nào là tệ nạn xã hội? Chúng có tác hại
như thế nào? Theo em những nguyên nhân nào khiến con người sa vào tệ nạn xã
hội? Hãy nêu những quy định cơ bản của pháp luật về phòng chống tệ nạn xã
hội?
Học sinh chỉ cần trả lời đầy đủ các ý sau:
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
16
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
* Tệ nạn xã hội:
Là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội,
vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu đến mọi mặt đối với đời sống xã
hội.
* Tác hại:
- Làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần và đạo đức con người.
- Làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
- Gây rối loạn trật tự xã hội, suy thoái giống nòi dân tộc.
- Là nguyên nhân dẫn tới căn bệnh thế kỉ HIV/ AIDS.
* Nguyên nhân:
- Chủ quan:
+ Lười lao động, ham chơi, đua đòi với bạn bè xấu.
+ Do tò mò, thiếu hiểu biết về tác hại của tệ nạn xã hội.
- Khách quan:
+ Do hoàn cảnh éo le, cha mẹ nuông chiều, buông lỏng việc giáo dục con
cái.
+ Do các tiêu cực trong xã hội, bị dụ dỗ, bị ép buộc hoặc khống chế.
+ Do bị bạn bè xấu lôi kéo, rủ rê mà không biết tự chủ.
* Những qui định của pháp luật:

+ Quyền khiếu nại, tố cáo là gì ? Em sẽ làm gì khi biết bạn em bị bọn
người xấu dụ dỗ, ép buộc ăn trộm tiền của bố mẹ, để theo chúng ăn chơi, cờ bạc ?
+ Hợp tác là gì? Trong cuộc sống, hợp tác có lợi như thế nào? Trong giờ
kiểm tra, do ngồi cạnh nhau nên Tùng và Tú đã giúp đỡ, hỗ trợ nhau hết mình
để hoàn thành đề bài. Theo em, điều đó có được coi là hợp tác hay không? Tại
sao?
* Dạng bài tập tình huống
VD:
+ Khi phát hiện thấy Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với chị Lam vượt quá thẩm quyền, ông Lân (hàng
xóm nhà chị Lam) đã viết đơn khiếu nại Quyết định trên của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện.
a. Theo em trong trường hợp trên ông Lân khiếu nại là đúng hay sai? Vì
sao?
b. Em hãy cho biết thế nào là quyền khiếu nại, quyền tố cáo?
+ Hậu lười học nên thường xuyên bị điểm kém. Mỗi lần nhận bài kiểm tra,
cậu ta lại tỏ ý bực tức và oán trách cô giáo quá khắt khe. Thấy vậy, bạn Lan
cùng tổ nói: “Cậu hãy chú ý nghe cô giáo giảng và chăm chỉ làm bài tập, cô sẽ
cho cậu điểm tốt ngay thôi. Cô nghiêm khắc thì cậu mới tiến bộ được chứ!”
Hỏi:
a. Em hãy nhận xét thái độ và việc làm của Hậu ?
b. Em có tán thành ý kiến của Lan không? Vì sao?
* Dạng bài tập điền khuyết
Hãy điền từ thích hợp vào chỗ trống dưới đây:
Hiến pháp năm 1992:
Điều 54: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ… trở lên đều có
quyền……và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền……vào Quốc hội, Hội
đồng nhân dân theo quy định của……”
* Dạng bài phân tích, chứng minh

Không tán
thành
A. Lao động là một sự bắt buộc và nhàm chán.
B. Không có công việc nào là thấp hèn, chỉ những
người lười nhác, không chịu lao động mới đáng
xấu hổ.
C. Lao động chân tay thì không có gì đáng tự hào.
D. Người ta không thể sống mà không có lao
động.
E. Nên chọn hình thức lao động nào nhàn hạ mà
có thu nhập cao.
G. Trẻ em có quyền học tập, vui chơi, không phải
lao động.
H. Trẻ em con nhà nghèo mới phải lao động.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
19
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
* Dạng bài chọn và nối cột A- B
Hãy chọn nội dung ở cột A tương ứng với cột B.
A B
A.Dù ai nói ngã nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
1. Dân chủ
B. Bề trên ở chẳng kỉ cương
Để cho kẻ dưới lập đường mây
mưa.
2. Chí công vô tư
C. Quan sơn muôn dặm một nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em
3. Tình hữu nghị và hợp tác

- Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành theo chuyên đề, hệ thống câu
hỏi.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
20
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
Từ những chuyên đề, chủ đề trên giáo viên tổ chức cho học sinh thực
hành dưới hình thức ra đề bài yêu cầu học sinh thực hành, sau đó chấm chữa,
nhận xét, đánh giá những ưu khuyết điểm của từng học sinh, giúp học sinh nhận
ra được những lỗi sai của mình, những thiếu sót phải bổ sung. Đồng thời hướng
dẫn học sinh cách làm bài một cách tỉ mỉ .
Lưu ý khi ra đề ôn tập cũng như thi chọn, giáo viên phải ra theo ma trận
để học sinh có kỹ năng làm các dạng bài cũng như kiểm tra, đánh giá chính xác
khả năng học sinh và việc chọn học sinh đi thi cũng chắc chắn hơn.

Ma trận
KHUNG MA TRẬN ĐỀ THI HSG CẤP HUYỆN
MÔN: GDCD 9
Thời gian: 150 phút

Nội dung
kiến
thức
Mức độ nhận thức
Cộng
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
T
N
TL TN TL TN TL
Nội dung
1: pháp

Hiểu biết
những kiến
thức cơ
bản, phân
tích qua
một nhân
vật cụ thể
hoặc ở địa
phương
-Vận dụng
trong thực
tế.
- Làm bài
tập, giải
quyết tình
huống
Số câu:
Số điểm:
Số câu: 1
Số điểm:

Số câu:1
Số điểm: 4
đ
Số câu: 1
Số điểm:

Số
câu: 3
Số

điểm:
2
Tổng số
câu: 6
Tổngsốđi
ểm:20
0
1

0 2

1
2d
2

6
20đ
0
Tổngsố
điểm các
mức độ
nhận thức
4đ 8đ 8đ 20đ

* Lưu ý: Vì thời gian thi cấp huyện chương trình mới dạy ở học kỳ I lớp
9 nên đề thi chỉ ra ở kiến thức học kỳ II lớp 8 và học kỳ I lớp 9. Còn đề thi thành
phố sẽ có cả kiến thức học kỳ II lớp 9 ( khoảng 2 câu như vậy phần luật lớp 8 và
đạo đức lớp 9 mỗi phần bớt 1 câu)
2.2.6 Thảo luận trao đổi, giải đáp thắc mắc
Sau khi đã sử dụng các hình thức trên, giáo viên dành một thời gian nhất

được phụ huynh ủng hộ một cách nhiệt tình, nhà trường sẽ có thêm động lực để
tổ chức công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả cao.
3.3 Các điều kiện bổ trợ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi .
- Tài liệu học tập: Các em trong đội tuyển học sinh giỏi có thẻ thư viện
đặc biệt ưu tiên; có thể mượn tài liệu học tập và tham khảo ở thư viện theo
hướng dẫn của giáo viên bồi dưỡng về nhà để tự học.
- Cơ sở vật chất: Để đáp ứng phòng học cho các đội tuyển ôn tập. Nhà
trường có lịch bồi dưỡng cụ thể cho các bộ môn. Các đội tuyển ôn tập theo lịch
và có sự kiểm tra, giám sát của nhà trường.
- Tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh giỏi. Kế hoạch của nhà
trường: mỗi năm học tổ chức hai buổi ngoại khoá cho học sinh. Hoạt động ngoại
khoá trong trường học là cánh tay nối dài của chính khoá, phải có tính định
hướng rõ và cao. Với suy nghĩ như vậy, chúng tôi đã tổ chức đố vui để học; hoạt
động ngoại khoá, tham gia các cuộc thi tìm hiểu với cách ấy, học sinh yêu thích
học bộ môn bồi dưỡng hơn.
- Tổ chức chuyên đề - hội thảo về phương pháp giảng dạy.
+ Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả đầu năm học nhà
trường giao chỉ tiêu cho từng tổ bộ môn và từng nhóm lại giao chỉ tiêu cho từng
cá nhân trong nhóm.
+ Tổ chức các đợt thao giảng sau mỗi giờ dạy tổ bộ môn rút kinh nghiệm
chỉ rõ những ưu nhược điểm để cùng nhau học tập và khắc phục.
+Tổ chức các chuyên đề, các buổi hội thảo ở từng tổ chuyên môn, những
đồng chí có kinh nghiệm bồi dưỡng sẽ báo cáo trình bày những sáng kiến kinh
nghiệm, đưa ra những vấn đề cụ thể để cùng trao đổi và học tập lẫn nhau.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
23
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
3.4 Tổ chức bồi dưỡng:
Căn cứ vào điều kiện, cơ sở vật chất của nhà trường. Căn cứ vào nội
dung, khối lượng kiến thức của từng bộ môn nhà trường bố trí thời gian học cho

thành tích ( Giáo viên, học sinh) trước toàn trường và đưa về Hội khuyến học
các thôn.
Việc động viên khen thưởng kịp thời sẽ có ảnh hưởng tốt đến tâm lý, do đó giáo
viên và học sinh ngày càng cố gắng vươn lên.
Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước
24
Sáng kiến kinh nghiệm Năm học: 2013 – 2014
III - KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÓ SO SÁNH ĐỐI CHỨNG
Khi chưa thực hiện đề tài học sinh còn lười học, giáo viên chưa đầu tư
thời gian cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, chính quyền địa phương và phụ
huynh chưa quan tâm giúp đỡ do đó kết quả còn hạn chế.
Từ khi thực hiện đề tài giáo viên đã đầu tư nhiều thời gian cho công tác
giảng dạy và bồi dưỡng học sinh. Nhiều khi giáo viên còn dạy bồi dưỡng cho
học sinh cả ngày chủ nhật. Ban giám hiệu nhà trường lên lịch bồi dưỡng cụ thể
cho từng bộ môn và giao khoán chỉ tiêu cho từng tổ bộ môn. Bên cạnh đó lại
được chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh quan tâm giúp đỡ. Vì vậy
năm học 2013-2014 số học sinh giỏi tăng lên cả về số lượng và chất lượng cụ
thể là:
Năm học Số HS thi Đạt cấp Huyện Vào vòng 2 Đạtthành phố
2011-2012 5 3 1 0
2012- 2013 4 0 0 0
2013- 2014 11 11 9 1

Vì điều kiện ở xa, phương tiện khó khăn, một số em do sức khỏe yếu nên
chỉ có 1 em đi học đội tuyển vòng 2. Một em được tham dự học sinh giỏi thành
phố và một em đạt học sinh giỏi thành phố.
Như vậy, qua kết quả trên có thể thấy rất rõ số học sinh đạt học sinh giỏi
các môn, đặc biệt là môn GDCD, ngày càng tăng.

Người thực hiện: Lê Thị Kim Dung Trường THCS Tân Ước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status