NGHIÊN cứu ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG sản XUẤT và đa DẠNG NGUỒN GEN bưởi ở xã cát QUẾ, HOÀI đức, TP hà nội - Pdf 25

1
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ ĐA DẠNG NGUỒN
GEN BƯỞI Ở XÃ CÁT QUẾ, HOÀI ĐỨC, TP. HÀ NỘI Nguyễn Khắc Quỳnh, Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Vũ Văn Tùng
1I. Đặt vấn đề
Bưởi (Citrus Grandis Osbeck) được các nhà khoa học trên thế giới khẳng định có nguồn
gốc ở Châu Á như Ấn Độ, Đông Nam Á và Nam Trung Quốc [1], [2], [5]. Theo số liệu của Tổ
chức Nông Lương của Liên hiệp Quốc (FAO) [7] sản lượng bưởi các loại đạt sản lượng cao nhất
khoảng 5,3 triệu tấn/năm vào năm 2000, sau đó giảm xuống, nay còn khoảng 4,6 triệu tấn năm,
tuy vậy xuất khẩu sản phẩm này không lớn, chủ yếu tiêu dùng nội địa. Ở nước ta có khá nhiều
giống bưởi nổi tiếng như bưởi: Năm Roi, Da xanh, Tân Triều, Phúc Trạch, Thanh Trà, Diễn,
Đoan Hùng trong đó sản phẩm của một số giống bưởi đạt chất lượng khá như Da Xanh, Năm
Roi, Tân Triều đã được xuất khẩu đi nhiều nước ở Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ [4]. Hiện nay
những giống bưởi này đã và đang được nông dân khai thác sử dụng, không những nâng cao thu
nhập cải thiện đời sống, bổ sung một loại sản phẩm hoa quả an toàn, giàu dinh dưỡng cho xã hội
mà còn góp phần giữ gìn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường thông qua khai thác sử dụng.
Mặc dầu vậy, hiện nay việc bảo tồn đa dạng nguồn gen bưởi địa phương chưa thực sự được quan
tâm đúng mức. Một số nơi, việc mở rộng sản xuất hàng hóa chạy theo số ít giống bưởi nổi tiếng
đã và đang không chỉ làm mất đi những nguồn gen địa phương quý mà còn làm giảm năng suất,
chất lượng của chính giống bưởi được cho là nổi tiếng đó, điển hình như bưởi Diễn, bưởi Đoan
Hùng, bưởi Phúc Trạch hiện nay. Chính vì vậy việc đẩy mạnh phát triển sản xuất gắn với việc
bảo tồn đa dạng nguồn gen bưởi, đặc biệt những giống bưới địa phương có tính thích nghi cao
đang là vấn đề cấp bách, rất cần sự quan tâm của các cấp, các bên liên quan.
Gần đây, Trung tâm Tài nguyên thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
khi tiến hành điều tra thu thập nguồn gen bưởi địa phương khu vực sông Đáy thuộc địa phận
Hoài Đức đã phát hiện tại vùng này có sự đa dạng cao về nguồn gen bưởi địa phương, trong đó

sẵn để phỏng vấn các hộ nông dân tổng cộng 100 phiếu tại thôn: Tháp Thượng (khu
vực 7), Cát Ngòi và Tam Hợp (khu vực 8,9). Kết quả được xử lý trên phầm mềm
EXCEL.
3.2. Điều tra đánh giá phi chính quy:
- Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) với các công cụ chủ yếu như: Sơ đồ
VENN, phân tích SWOT, Lịch sử phát triển nguồn gen vv.
- Phỏng vấn người thạo tin (Key Informant Interview),
- Phỏng vấn nhóm (Group Interview)
- Quan sát đánh giá, đo đếm trực tiếp nguồn gen bưởi và vườn sản xuất
IV. Kết quả và thảo luận
4.1. Tình hình cơ bản xã Cát Quế
Xã Cát Quế nơi thực hiện dự án nằm về phía Tây Bắc huyện Hoài Đức, phía Bắc giáp xã
Dương Liễu, Đông giáp xã Đức giang, Nam giáp xã Yên Sở. Con sông Đáy chảy qua ở phía Tây
là đường phân chia ranh giới giữa xã Cát Quế với hai xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai) và Liên
Hiệp (huyện Phúc Thọ).
Nói đến xã Cát Quế là người ta nghĩ ngay đến một vùng dân cư có nhiều điểm ấn tượng
về di tích văn hoá, lịch sử. Các hiện vật tại Di chỉ Vinh Quang [8] thuộc xã Cát Quế nơi mà các
nhà khảo cổ xác định có niên đại khoảng 3000 năm ± 150 năm đã cho thấy quá trình hình thành
và phát triển lâu đời cư dân xã Cát Quế nói riêng và dân cư trong vùng nói chung. Một xã có
diện tích nhỏ hẹp (410ha) nhưng có tới 4 di tích được Bộ Văn hoá xếp hạng cấp Quốc gia và
một Di chỉ Văn hoá Ngàn năm, một trong những dấu ấn gắn với sự kiện ngàn năm Thăng Long,
Đông Đô, Hà Nội.
Xã Cát Quế được chia làm 2 miền Làng và Bãi, giới hạn bởi đê tả Đáy. Phía miền làng là
thôn Xuân Thắng. Thôn Xuân Thắng được chia làm 6 cụm dân cư hành chính gồm khu vực 1, 2,
3, 4, 5, 6. Ở đây người dân sống chủ yếu bằng nghề chế biến nông sản, chăn nuôi và kinh doanh
dịch vụ. Phía miền bãi có 3 thôn Tháp Thượng, Cát Ngòi, Tam Hợp. Thôn Tam Hợp được chia
làm 2 khu dân cư hành chính là khu vực 8 và khu vực 9. Ở khu vực này người dân chủ yếu sống
3
dựa vào chăn nuôi lợn, chạy chợ và làm vườn. Thôn Cát Ngòi sống dựa vào nghề trồng rau,
trồng cây ăn quả và một phần chăn nuôi lợn. Thôn Tháp Thượng (Khu vực 7) người dân sống

nghèo theo tiêu chuẩn mới là 5%.
Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất lúa hàng năm của xã đều đạt ở mức cao trong
huyện, 11 tấn/ha và có số quay vòng đất 2,75 lần. Tuy vậy tỷ trọng ngành trồng trọt chỉ chiếm
19,1% tổng sản phẩm trong xã. Mấy năm trở lại đây ngành chăn nuôi ở xã Cát Quế phát triển rất
mạnh, đặc biệt chăn nuôi lợn. Cũng theo số liệu của UBND xã Cát Quế số đầu lợn toàn xã đến
cuối năm 2009 đã là 18.000 con. Hiện tại chăn nuôi lợn ở xã Cát Quế được coi trọng như một
nghề mang lại thu nhập cao trong hộ gia đình, nó chiếm tới 32,7% giá trị tổng sản phẩm toàn xã.
Nghề chăn nuôi lợn cộng vơí đàn bò khoảng 900 con trâu bò hằng năm tạo ra một lượng phân
hữu cơ rất lớn không chỉ cung cấp cho sản xuất trồng trọt trong xã mà còn bán đi xã ngoài hàng
trăm tấn. Chúng tôi cho rằng đây là lợi thế lớn cho việc triển khai dự án.
Làng nghề xã Cát Quế hiện nay là sản xuất tinh bột sắn, đậu xanh bóc vỏ, nha thủ công,
miến dong, bánh kẹo. Nghề chế biến nông sản đã giải quyết khá nhiều công ăn việc làm, mang
lại thu nhập khá cao cho các hộ. Tuy vậy ô nhiễm nguồn nước đang là vấn đề thách thức lớn của
các làng nghề chế biến nông sản nói chung, ở vùng miền làng xã Cát Quế nói riêng.
4
4.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi tại địa phương
4.2.1. Đa dạng nguồn gen bưởi tại xã Cát Quế
Khác với những địa phương khác, khi nguồn gen bưởi có xu hướng giảm đi do thâm
canh, áp lực dân số… thì ở xã Cát Quế nguồn gen bưởi địa phương lại được duy trì khá tốt đồng
thời còn bổ sung thêm nhiều nguồn gen tốt từ những nơi khác về. Điều này thể hiện ở bảng 1.
Qua bảng 1 cho thấy, có tới 13 nguồn gen được phát hiện ở một địa phương với diện
tích không lớn. Có thể nói, đây là xã có nhiều nguồn gen bưởi nhất huyện Hoài Đức và GEF tài
trợ để bảo tồn nguồn gen ở xã này là một quyết định đúng đắn. Một số nguồn gen chủ yếu hiện
đang được người dân lưu giữ và khai thác khá hiệu quả tại xã Cát Quế như sau:
Bảng 1: Danh sách nguồn gen bưởi ở xã Cát Quế
TT

Tên nguồn gen Vị trí nguồn gen
Số cây/diện
tích

Nguyễn Duy Đắc còn giữ cây chiết từ cây tổ và hiện vào khoảng 70 năm tuổi. Một cây khác
có tuổi đã 55 năm nhưng vẫn khá xanh tốt và cho quả hàng năm trong vườn anh Nguyễn Bách
Chiến, thuộc khu vực 8. Ngoài ra ở thôn Tháp Thượng còn có 5 cây được đánh giá là những
cây có tuổi trên 45 năm và hiện vẫn cho quả hàng năm.Vừa qua, nhóm chuyên gia tư vấn đã
tiến hành điều tra và xác định được 57 cây ưu tú bưởi Quế Dương (Bảng 2) phục vụ cho việc
chọn cây đầu dòng vào cuối năm 2010. Cũng theo số liệu điều tra, hiện nay số lượng bưởi Quế
Dương có vào khoảng 1400 cây, tương đương khoảng 10 ha, nằm ở cả miền làng và miền bãi,
tuy vậy chủ yếu tập trung ở khu vực 7 (xóm Tháp Thượng).
Bưởi Quế Dương có tán cây hình dù, sinh trưởng và phân cành rất mạnh ở những năm
kiến thiết cơ bản. Bưởi Quế Dương có tán lá xanh đậm khá rậm rạp vì thế quả ít bị cháy xém,
tuy vậy lại hay bị các loại nhện, rệp, đặc biệt rệp sáp đến cư trú hút đường của cây làm cho
quả bị nhạt. Đây là một đặc điểm khá quan trọng cần lưu ý khi xây dựng mô hình bưởi theo
hướng VietGAP và mô hình bưởi phát triển. Theo kết quả điều tra đánh giá cho thấy, bưởi
Quế Dương có ưu điểm sau:
- Năng suất ổn định hơn bưởi Diễn (ít ra quả cách năm)
- Cây phát triển mạnh và cần ít phân bón hơn
- Chịu úng, chịu hạn khá hơn bưởi Diễn
- Chống chịu sâu bệnh khá hơn bưởi Diễn
- Không kén đất (cả làng và bãi đều trồng được)
- Chống chịu sâu bệnh khá (hơn hẳn bưởi Diễn)
- Tốn ít công chăm sóc
- Chín sớm vào lúc còn nắng nóng do vậy dễ bán
Tuy vậy cũng có một số nhược điểm như: Độ ngọt kém bưởi Diễn (Trung bình Brix đạt
10-11% trong khi bưởi Diễn đạt 12-13%), quả để lâu tôm bị nát, cành hay bị chẽ đôi dẫn đến
gãy cành khi quá sai quả.
Qua kết quả điều tra cho thấy, hiện tại các hộ gia đình ở xã Cát Quế trồng khoảng 32%
diện tích bằng giống bưởi Quế Dương, 65% bưởi Diễn và còn khoảng 3% các giống bưởi khác
(Hình 1).
6
65%

Chính do một số trở ngại trên nên hiện người dân đang có xu hướng chuyển sang trồng
những giống bưởi địa phương (Hình 2), đặc biệt giống bưởi Quế Dương do những ưu điểm đã
nêu ở trên.
7
49%
48%
3%
Bưởi Diễn
Bưởi Quế Dương
Bưởi khác

Hình 2: Tỷ lệ diện tích các giống bưởi người dân mong muốn chuyển đổi
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra chính quy, 2010)
c. Bưởi đường chín sớm
Giống bưởi này được đưa vào trồng tại ba hộ ở xã Cát Quế vào năm 2000 gồm: ông
Nguyễn Bá Toan, Nguyễn Văn Dũng và bà Lê Thị Liên thuộc khu vực 7 (thôn Tháp Thượng).
Các hộ này tiếp nhận nguồn giống của một người thân mua ở vùng Diễn (Từ Liêm) về chia đều
mỗi người 5 cây nhưng sau khi trồng một vài cây bị chết và hiện chỉ còn tổng cộng chỉ còn 12
cây. Gần đây người dân trong xóm đã tự nhân thêm được khoảng 100 cây.
Giống bưởi này có đặc điểm nổi bật đó là tỷ lệ ra hoa đậu qủa rất cao (hơn bưởi Quế
Dương), ít sâu bệnh, quả tuy nhỏ (trung bình 0,8 – 1kg) nhưng rất ngọt (Brix: 12-13), chín sớm
vào giữa tháng 9 nên bán rất đắt hàng, đặc biệt khi chín màu vỏ vẫn xanh. Mặc dầu vậy, giống
này cũng có nhược điểm là nhiều hạt (12-13 hạt/múi), hay rụng khi vào mùa thu hoạch. Hiện tại
hàng năm tư thương về đặt mua với giá 12-13 ngàn đồng/quả. Vào chu kỳ khai thác kinh doanh
ổn định (7 tuổi trở lên) mỗi cây có thể thu khoảng 2-3 triệu đồng, tính ra mỗi sào bắc bộ có thể
thu nhập 25 – 30 triệu đồng.
Đây là giống bưởi tốt cần khuyến khích người dân trong xã, đặc biệt vùng bãi cần phát
triển dần thay thế một phần diện tích bưởi Diễn không ra quả hoặc ra quả cách năm.
d. Bưởi đường Tam Hợp
Giống bưởi này do các cụ của gia đình ông Nguyễn Năng Miện để lại từ cây bưởi mọc

thể. Gần đây, các nhà khoa học Đại học Texas (Mỹ) đã phát hiện ra rằng, ăn nhiều bưởi đào giúp
giảm tỷ lệ tế bào xương bị chết, giúp ngăn ngừa bệnh loãng xương và nhiều bệnh khác nữa.
Những nguồn gen bưởi đào ở Cát Quế rất quý cần được bảo tồn thông qua dự án.
Ngoài giống bưởi đường, ở xã Cát Quế một số hộ vẫn duy trì các dòng thuộc giống bưởi
chua. Các hộ này cho rằng giống bưởi chua của họ ít chua, chín sớm (giữa tháng 9), luôn sai quả
và đặc biệt những cây này không bao giờ phải phun thuốc BVTV. Tuy không mang lại hiệu quả
kinh tế cao như bưởi đường nhưng bưởi chua mang lại giá trị sử dụng riêng mà bưởi đường
không có như chín sớm, giàu vitamin C và thích hợp với phụ nữ. Qua bảng 2 cũng cho thấy
người dân trong vùng có xu thế chọn những giống bưởi đường, đặc biệt bưởi đường chín sớm
hơn là giống bưởi chua. Tuy vậy, theo quan điểm của nhóm chuyên gia, Trong mỗi vườn với số
lượng quần thể bưởi đường nhất định cần có một số cây bưởi chua để tăng cường khả năng đậu
quả của bưởi đường. Chính vì vậy, việc đưa những nguồn gen bưởi chua vào bảo tồn là cần
thiết.
Để bảo tồn lâu dài đa dạng nguồn gen bưởi địa phương ở xã Cát Quế cũng như một số xã
khác trong huyện Hoài Đức rất cần sự quan tâm của Phòng Nông nghiệp huyện Hoài Đức,
Trung tâm Tài nguyên thực vật thuộc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam. Chúng tôi cho
rằng Trung tâm Tài nguyên thực vật nên coi đây là một trong những điểm bảo tồn tại chỗ nguồn
gen bưởi địa phương trong chiến lược bảo tồn tài nguyên cây trồng của quốc gia. Để làm được
việc này, Trung tâm cần tham gia ngay từ đầu như một đối tác quan trọng của dự án và đảm bảo
rằng những nguồn gen này sẽ được bảo tồn một cách an toàn và hiệu quản cho hôm nay và mai
sau.
9
4.2.2. Thực trạng tình hình sản xuất bưởi tại xã Cát Quế
a) Tình hình sản xuất bưởi ở các hộ nông dân ở xã Cát Quế
 Thông tin về hộ trồng bưởi
Kết quả điều tra ở bảng 2 cho thấy, tuổi chủ hộ trồng bưởi ở xã Cát Quế trung bình ở
mức cao xấp xỉ 51 tuổi. Họ là những người có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất cây ăn quả nói
chung và cây bưởi nói riêng. Tuy vậy, họ bị hạn chế về khả năng tiếp cận các kỹ thuật tiến bộ,
cũng như sức khoẻ để thực hiện một số công việc khá nặng nhọc trong vườn như phun thuốc trừ
sâu, đốn cành, đảo gốc vv. Bù lại, các hộ ở xã Cát Quế có khá nhiều lao động (trung bình 3) và

8214,29

9916,08

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra chính quy, 2010
Trong năm 2009, thu nhập của các hộ điều tra đạt bình quân 53,51 triệu đồng/hộ trong
đó có tới 34,82% thu nhập từ trồng bưởi. Thu nhập bình quân hộ cao nhất ở thôn Cát Ngòi sau
đó đến thôn Tháp Thượng và sau cùng là thôn Tam Hợp. Nhìn chung, các hộ điều tra đều thuộc
loại kinh tế hộ ở mức trung bình trở lên, không có hộ nghèo theo tiêu chí mới của chính phủ.
Đây là yếu tố thuận lợi để các mô hình dự án thực hiện tốt các tiêu chí kỹ thuật đặt ra.
 Đầu tư sản xuất bưởi bưởi Quế Dương và bưởi Diễn ở xã Cát Quế

10
Việc xác định các yếu tố đầu tư chi phí trong sản xuất bưởi tại địa phương cho biết tình
hình, khả năng đầu tư cũng như kết quả đạt được từ đó xây dựng các định mức hỗ trợ thích hợp
cho mỗi mô hình trong dự án. Kết quả điều tra thể hiện ở Bảng 3
Bảng 3 : So sánh mức đầu tư chi phí và kết quả giữa bưởi Diễn
với bưởi Quế Dương tại xã Cát Quế ().
ĐVT: Sào BB
Chỉ tiêu ĐVT Bưởi Diễn
Bưởi Quế
Dương
So sánh (%)
Phân chuồng kg 414,00 294,29 140,68
Urê kg 4,49 3,99 112,63
Lân kg 41,05 29,72 138,15
Kali kg 36,41 23,94 152,12
Tổng hợp kg 37,55 24,95 150,50
Thuốc BVTV Ngàn đ 486,50 159,29 305,41
Năng suất kg 770,34 1367,12 56,35

không trong khi bưởi Quế Dương cho thu nhập hằng năm. Điều này cho thấy vì sao bưởi Quế
Dương thì người dân Cát Quế không chặt đi mà đang trồng thêm trong khi bưởi Diễn đang bị
chặt dần do hiệu quả thấp
Hiện nay đối với thị hiếu tiêu dùng ở người Hà Nội và các vùng lân cận muốn mua bưởi
đường có độ đường cao, vì vậy nâng cao độ đường của bưởi có ý nghĩa rất quan trọng. Kết quả
điều tra cho thấy độ đường bưởi Quế Dương và bưởi Diễn ở vùng bãi xã Cát Quế đều thấp. Điều
đó cũng cho thấy một tồn tại đáng chú ý là lượng Kali các hộ bón cho bưởi còn thấp. Qua điều
tra ở các hộ có chất lượng bưởi cao đều thường bón Kali từ 50-70kg/sào Bắc bộ. Vì thế Dự án
khuyến cáo, vùng đất bãi cát pha như ở Cát Quế hịên nay để tăng độ đường của quả bưởi các hộ
có thể tăng lượng kali lên khoảng 60-80 kg/sào bắc bộ.
 Kỹ thuật nhân giống
Hiện nay các hộ trồng bưởi ở xã Cát Quế nhân giống bưởi chủ yếu vẫn bằng phương
pháp chiết cành (100% số hộ), chỉ có rất ít người có khả năng tự ghép cành (khoảng 4-5 người).
Kỹ thuật chiết cành của nhiều người dân cũng còn hạn chế vì thế tỷ lệ cành chiết được đem đi
trồng còn sống thấp. Để người dân chủ động nhân nhanh những nguồn gen hiện có thì việc nâng
cao trình độ hiểu biết về kỹ thuật nhân giống bưởi là rất cần thiết và cần được quan tâm khi xây
dựng kế hoạch tập huấn trong quá trình triển khai dự án.
Để đảm bảo chất lượng giống cho các hộ tham gia dự án thì việc tập huấn kỹ thuật nhân
giống bưởi là rất cần thiết. Tuy vậy, để đảm bảo có một mô hình chuẩn về nhân giống bưởi, đặc
biệt các giống bưởi địa phương còn ít cây đầu dòng thì cần phải xây dựng một vườn ươm tại địa
phương để nhân giống và cung cấp giống đạt tiêu chuẩn cho các hộ tham gia dự án. Thêm vào
đó, đây cũng là điểm trình diễn kỹ thuật nhân giống để các hộ trồng bưởi đến tham quan học tập.
 Chăm sóc vườn bưởi
Sản xuất bưởi ở xã Cát Quế thuộc loại thâm canh khá của huyện Hoài Đức. Một số hộ
thâm canh đạt trình độ cao đã được Trạm khuyến nông, Hội Nông dân chọn đi thi tại các triển
lãm, hội chợ trong tỉnh Hà Tây cũ. Tuy vậy, qua điều tra cho thấy trình độ thâm canh giữa các
hộ chưa đồng đều, có rất ít vườn đạt năng suất cũng như thu nhập ốn định từ hoạt động này.
Mức độ đầu tư phân bón cho bưởi nói chung hiện còn ở mức thấp so với nhu cầu, thiếu cân đối,
đặc biệt phân Kali. Thêm vào đó phần lớn các vườn người dân còn chưa quan tâm đến tỉa cành
tạo tán nên đã ảnh hưởng nhiều đến năng suất, chất lượng bưởi dẫn đến thu nhập còn hạn chế.

triển của các loại sâu bệnh (Bảng 5) để có kế hoạch phòng trừ kịp thời. Làm được điều này cũng
góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sử dụng các loại thuốc BVTV gây ra. 13
Bảng 5: Lịch diễn biến sâu bệnh hại chính trên bưởi tại địa phương
Sâu bệnh T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11

T12
Vẽ bùa
Nhện đỏ
Rệp mềm
Bệnh loét
quả

Sâu đục
gốc, đục
cành

Nguồn; Số liệu điều tra đánh giá PRA, 2010
4.2.3. Tiêu thụ sản phẩm
Ở Cát Quế, bưởi quả đến mùa thu hoạch hầu hết các hộ bán cho tư thương trong vùng
hoặc ngay trong xã. Nhìn chung, những giống bưởi chín sớm như bưởi Quế Dương, bưởi đường
da xanh thi tiêu thụ khá dễ dàng, trong khi bưởi Diễn còn phải tuỳ vào chất lượng. Năm 2008 có

Yếu
- Chưa khai thác hợp lý nguồn gen bưởi địa
phương;
- Hiểu biết về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây
bưởi còn hạn chế;
- Chưa tận dụng nguồn phân hữu cơ sẵn có;
- Chưa có thương hiệu cho bưởi đường
Quế Dương.
- Cơ sở hạ tầng giao thông khó khăn
Cơ hội
- Được chính quyền địa phương quan
tâm khuyến khích phát triển bưởi địa
phương;
- Hệ thống khuyến nông, Hội Nông dân,
HTX hằng năm tổ chức các lớp tập
huấn kỹ thuật;
- Gần thị trường Hà Nội;
- Có dự án (hiện nay).

Thách thức
- Thời tiết thất thường do biến đổi khí hậu;
- Diên tích đất vườn suy giảm khi dân số và đô
thị hoá tăng.

a. Điểm Mạnh
Các thành viên tham gia đều cho rằng điểm mạnh trong bảo tồn và phát triển nguồn gen
bưởi địa phương bao gồm:
- Đất đai ở xã Cát Quế cả làng và bãi đều thích hợp cho việc bảo tồn và phát triển
nguồn gen bưởi địa phương nơi mà chúng đã tồn tại và phát triển trong nhiều năm.
Thêm bào đó, hiện nay vùng bãi sông Đáy diện tích vườn trong mỗi hộ còn khá rộng

c. Cơ hội
- Những cơ hội cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen bưởi địa phương ở xã Cát
Quế như được chính quyền quan tâm. Gần đây, trong buổi ra mắt dự án Bí thư Đảng
uỷ xã Cát Quế Nguyễn Danh Tiến cho rằng việc bảo tồn và phát triển những giống
bưởi địa phương sẽ được đưa vào Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ xã sắp tới. Ngoài
ra, hàng năm Khuyến nông huyện, Hội Nông dân, HTX tổ chức các buổi tập huấn đã
tạo cho các hộ nông dân tiếp cận những kiến thức cơ bản, cũng như tiến bộ kỹ thuật
trong sản xuất bưởi. Theo số liệu điều tra có 56% số hộ điều tra trả lời đã tham gia
tập huấn. Những loại hình tập huấn bao gồm: Kỹ thuật bón phân, bảo vệ thực vật, kỹ
thuật nhân giống và điều khiển bưởi ra hoa. Tuy nhiên, người dân cho rằng phương
pháp tập huấn vẫn nói nhiều hơn là thực hành và ít tài liệu kỹ thuật đi kèm. Nói cách
khác là tập huấn “chay” vẫn là chủ yếu.
- Xã Cát Quế cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km, là khoảng cách khá lý tưởng cho việc
tiêu thụ sản phẩm, ở đó là nơi nhu cầu tiêu thụ bưởi cao. Đây thực sự là cơ hội tốt hơn
so với nhiều nơi khác, đặc biệt những vùng sâu vùng xa.
d. Khó khăn thách thức
- Thách thức lớn nhất mà người trồng bưởi đang gặp phải đó là thời tiết thay đổi thất
thường dẫn đến cây bưởi ra hoa nhưng không đậu quả, hoặc có đậu quả lại bị rụng
khi chưa đủ lớn (Hình 4). Điều này ảnh hưởng tới thu nhập của hộ trong suốt cả năm
ròng. Ngoài ra còn sâu bệnh, khô hạn, mưa lũ luôn là những nguy cơ bắt nguồn từ
biến đổi khí hậu mà người trồng bưởi luôn phải gồng mình đối phó.

16
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Tỷ lệ đậu thấp
Quả hay rụng
Bị Rám
Không ra quả
Quả bị nứt


- Tận dụng triệt để nguồn phân hữu cơ sẵn có
như làm hầm Bioga, ủ hoai để tạo nguồn
phân bón sạch cho các vườn bưởi;
- Xúc tiến xây dựng thương hiệu cho giống
bưởi Quế dương.

17
Tận dụng cơ hội
- Thực hiện tốt những chủ trương phát
khuyến khích phát triển bưởi địa phương
của UBND xã;
- Tích cực tham các lớp tập huấn do
Khuyến nông, Hội Nông dân và HTX tổ
chức;
- Nâng cao chất lượng hàng hoá đáp ứng
nhu cầu thị trường Thu đô;
- Tận dụng và phát huy những hoạt động mà
dự án mang lại (xây dựng mô hình, tập huấn,
hỗ trợ vốn ).
Đối phó thách thức
- Gia tăng sự đa dạng dòng, giống bưởi nói
riêng và cây trồng nói chung; chọn giống
chống chịu (úng, sâu bệnh ); nắm vững kỹ
thuật điều khiển (ra hoa, ra lộc, độ đường )
cây bưởi theo diễn biến thời tiết bất thuận;
- Tăng cường thực hiện sinh đẻ có kế hoạch;
đảm bảo hài hoà giữa xây dựng nhà ở dân
cư với bảo vệ nguồn gen quý trong mỗi gia
đình.


a) Hội Nông dân xã
Trong số những bên liên đới được bà con đánh giá có quan hệ mật thiết và hỗ trợ họ
trong việc tập huấn và tư vấn kỹ thuật phải kể đến Hội Nông dân xã. Hằng năm Hội thường mời
các chuyên gia có kinh nghiệm về làm cây ăn quả nói chung, cây bưởi nói riêng đến tập huấn
cho các hội viên. Từ đầu năm đến nay ngoài các buổi tập huấn của DA còn Hội còn mở được
một buổi tập huấn về trồng hoa cây cảnh và thâm canh bưởi. Ngoài ra, cán bộ Hội còn thường
xuyên đi thăm vườn để tư vấn cho bà con những kỹ thuật về chăm sóc bưởi, phòng trừ sâu bệnh.

18
Hội nông dân xã Cát Quế là một trong những Hội mạnh của Huyện với xấp xỉ 900 hội
viên, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản. Các
hoạt động chính liên quan bao gồm: xây dựng mô hình phát triển cây ăn quả như trồng cam
Canh, bưởi Diễn, mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc và mô hình làm hầm Biogas do chính phủ
Hà Lan tài trợ. Trong những năm qua một số vườn bưởi của Hội đã được mời tham dự các cuội
thi cấp tỉnh và đã đạt được thành tích cao.
Gần đây, Hội đã thành lập được chi hội làm vườn gồm những Hội viên chủ Hội Nông
dân có nhiều kinh nghiệm, những hộ này chủ yếu lại là những hộ vừa được chọn vào tham gia
dự án. Hy vọng rằng đây là những nhân tố tích cực giúp dự án đạt được mục tiêu đề ra.
b) Trạm Khuyến nông huyện
Trạm Khuyến nông huyện được người dân đánh giá cao về những đóng góp của họ
không chỉ về cây ăn quả (chủ yếu về cây bưởi) mà còn nhiều lĩnh vực khác như chăn nuôi, thâm
canh lúa, làm cây vụ đông vv. Tuy vậy, số hộ tham gia tập huấn còn thấp, chỉ mới 56% số hộ
được hỏi trả lời là đã qua tập huấn. Bà con cho rằng các buổi tập huấn còn đơn điệu, ít được thực
hành và hầu như không có tài liệu mang về để bà con tham khảo. Chính vì thế, kết quả đạt được
còn nhiều hạn chế, đặc biệt lĩnh vực nhân giống và thu hái bảo quản. Những hạn chế trong công
tác khuyến nông ở cơ sở cần được nhóm chuyên gia của dự án quan tâm. Thêm vào đó, trong
quá trình thực hiện dự án rất cần sự hợp tác giữa Trạm khuyến nông và nhóm chuyên gia dự án
nhằm không chỉ nâng cao trình độ thâm canh bưởi cho người dân địa phương mà còn nâng cao
sự hiểu biết của họ về bảo tồn đa dạng sinh học nói chung.
Mong muốn nhất của người trồng bưởi ở Cát Quế hiện nay chủ yếu là được tập huấn kỹ

% số hộ được hỏi trả lời bán tại vườn còn lại đem đi chợ bán. Những số này thường rơi vào các
hộ đi thu gom trong xã. Tuy vậy, các hộ thu gom thường cố gắng bán cho hết hàng mà ít nghĩ
đến tạo ra thương hiệu cho sản phẩm của mình. Cách bán hàng của họ vẫn chưa chuyên nghiệp,
chưa có thương hiệu mặc dù khối lượng hàng hoá đã khá lớn để có thể làm được việc đó. Việc
xây dựng thương hiệu cho bưởi Quế Dương mà dự án đề ra cần có sự hợp tác chặt chẽ với
những hộ thu gom này.
e) HTX Nông nghiệp
HTX nông nghiệp thường quan tâm đến cây trồng hằng năm hơn là cây lâu năm. Tuy
vậy, khi gặp thiên tai như bão lũ ảnh hưởng đến vườn bưởi của các hộ thì HTX đi kiểm tra, kiểm
kê giúp người dân khắc phục hậu quả.
f) Phòng, Sở Nông nghiệp & PTNT
Những cơ quan này chưa ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của bà con. Tuy vậy, gần đây
các cơ quan này đã có một số hoạt động như viếng thăm đánh giá bưởi địa phương, lấy mẫu đất
giúp xác định hàm lượng các chất trong đất. Điều này cho thấy các cơ quan quản lý bắt đầu quan
tâm đến sản xuất bưởi, đặc biệt bưởi địa phương mà bà con đang trồng.
V. Kết luận và kiến nghị
1. Tại xã Cát Quế có sự đa dạng cao về nguồn gen bưởi nói chung và bưởi địa phương nói
riêng. Các nguồn gen bưởi địa phương được phân bố khá tập trung theo điều kiện sinh thái.
Cộng đồng địa phương có truyền thống trồng và khai thác sử dụng khá tốt các nguồn gen
bưởi phục vụ sinh kế của hộ gia đình. Những nguồn gen này rất cần được bảo tồn thông qua
khai thác sử dụng nhằm nâng cao thu nhập của các hộ trong xã.
2. Những nguy cơ thách thức đối với bảo tồn và phát triển bưởi địa phương ở xã Cát Quế nói
riêng và khu vực sông Đáy thuộc địa bàn Hà Nội nói chung là đô thị hoá và biến đổi khí hậu.
Để vượt qua những nguy cơ thách thức này đòi hỏi không chỉ cố gắng của cộng đồng mà cần
có sự hỗ trợ của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách của xã, huyện, Thành phố,
các Viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế.

20
3. Sản xuất bưởi thương mại đang trở thành nguồn thu nhập đang kể của nhiều hộ gia đình vùng
bãi xã Cát Quế. Các hộ đã quan tâm đầu tư vào sản xuất bưởi mang tính thương mại cao.

5 Hien Do Minh and Tung Nguyen Thanh (2006). Analysis of Pomelo Value Chain in
Bentre province In: http://www.sme-gtz.org.vn
6 Zongwen Z. and Rao R. (2003). Analysis of Genetic Diversity of Tropic Fruit Tree
Species in Asia – Example of Genentic Diversity Treatment. In: Conservation and Use
of Native Tropical Fruit Species Biodiversity in Asia. Proceeding of Third Annual
Meeting of tropical Fruit Genetic Resources Propect, Chongping, China 25—28

21
March, 2003. Edited by B. Mal, Y.S. Ramamani and V. Ramanatha Rao, IPGRI, pp 28
– 42.
7 Http://dantri.com.vn/c7/s7-181691/nuoc-buoi-dao-giau-dinh-duong-nhat.htm
8 Http://faostat.fao.org
Http://vi.wikipedia.org/wiki/Van_minh_song_Hong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status