ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt rét là một bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây nên và do muỗi
Anopheles truyền từ người bệnh sang người lành. Bệnh sốt rét tác hại trực tiếp
đến thể chất, tính mạng con người và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh
tế, xã hội của cộng đồng, của Quốc gia, thậm chí cả một khu vực trên Thế giới
[1],[21], [22].
Theo báo cáo của WHO (1991): Sau 36 năm tiến hành tiêu diệt sốt rét
và phòng chống sốt rét (1954-1991), trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỉ người
sống trong vùng sốt rét (gần 50% dân số thế giới) ở 100 nước, tử vong do sốt
rét hàng năm từ 1- 2 triệu người và số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệu
người [2].
Trong thập kỷ qua, chương trình tiêu diệt sốt rét và phòng chống sốt rét
tuy có mang lại một số kết quả. Song hơn 10 năm trở lại đây chương trình gặp
một số khó khăn nên sốt rét vẫn được coi là một trong những bệnh xã hội gây
tác hại hàng đầu cho nhân loại [37].
Tại Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 90, hàng năm cả nước có
trên một triệu người mắc sốt rét, hàng nghìn người chết và hàng trăm vụ dịch
sốt rét xẩy ra. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp
của Bé Y tế, Chương trình Phòng chống sốt rét cùng với mạng lưới chuyên
khoa các tuyến từ Trung ương đến thôn bản và cộng đồng đã tích cực thực
hiện các biện pháp phòng chống sốt rét, tình hình sốt rét đã được cải thiện rõ
rệt [22].
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới có nhiều điều kiện thuận lợi để bệnh sốt rét
phát triển, có tới 2/3 diện tích cả nước với khoảng 50% dân số sống trong vùng sốt
rét lưu hành[38].
Chương trình Phòng chống sốt rét Quốc gia trong những năm qua đã
thu được thành tựu đáng kể. Từ năm 1991 đến năm 2004, số ca sốt rét dương
1
tính đã giảm từ 187.904 xuống 24.909. Số ca chết giảm từ 4.646 xuống còn 24
ca. Tuy nhiên, trong năm 2004 ở 61 tỉnh thành của cả nước vẫn có những ca
sốt rét dương tính. Trong đó có 23 tỉnh tình hình sốt rét vẫn còn rất nghiêm
máu bệnh nhân ở Algieria.
- 1886 Golbi (Italy) phát hiện 2 loại KSTSR ở người là P.vivax và
P.malariae.
- 1889 – 1890: Celli và Marchiafava (Italy) phát hiện ra một loài ký
sinh trùng sốt rét ở người là Plasmodium.
- 1922: Stepphens, phát hiện một loại ký sinh trùng sốt rét: P.ovale.
- 1897: Ronald Ross (Anh) lần đầu tiên phát hiện ký sinh trùng sốt rét
phát triển ở cơ thể muỗi (An.Stephensi) tại Ên Đé.
- 1898: Ronald Ross thí nghiệm ký sinh trùng sốt rét ở người và chim,
xác định muỗi Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét cho người.
- 1898. Grassi, Bignami, Bastianelli (Ý) thí nghiệm toàn bộ chu kỳ phát
triển của ký sinh trùng sốt rét ở muỗi và người, họ đã khẳng định nghiên cứu
của Ronald Ross.
Từ kết quả trên, người ta đã tìm ra nguyên nhân của bệnh sốt rét là do
ký sinh trùng sốt rét (mầm bệnh phát triển trong máu bệnh nhân). Và được
muỗi Anopheles (trung gian truyền bệnh) đốt truyền từ người bệnh sang người
lành (cơ thể cảm thụ). Như vậy nguyên nhân gây bệnh sốt rét do 3 yếu tố:
- Ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium): Mầm bệnh
3
- Muỗi sốt rét Anopheles: Trung gian truyền bệnh
- Con người: Cơ thể cảm thô
Thiếu 1 trong 3 yếu tố trên thì không thể có quá trình sinh bệnh SR.
Tuy nhiên những đặc điểm riêng biệt của mỗi yếu tố đều có liên quan đến quá
trình sinh bệnh SR.
1.1.1. Mầm bệnh [24],[31].
- Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là do KSTSR có gần 100 loại nhưng
đến nay người ta mới biết có 4 loại ký sinh trùng sốt rét Plasmodium
falciparum. P.vivax, P.ovale và P.malariae.
Người mang KSTSR có thể biểu hiện các triệu chứng lâm sàng điển
hình như rét run, sốt nóng, ra mồ hôi và khát nước. Cũng có thể biểu hiện các
+ An. minimus: Muỗi sống ở bìa rừng, trong rừng, rừng savan, bọ gậy
sống ở ven suối quang, nước chẩy chậm.
+ An.dirus : Muỗi ở rừng rậm, bìa rừng, rừng thưa, bọ gậy sống ở vũng
nước đọng, dưới bóng râm trong rừng.
- Loại truyền bệnh phụ:
+ An.aconitus , An.maculaus , An.jeyporiensis (vùng nói)
+ An.sundaicus , An.subpictus (ven biển nước lợ)
1.1.3. Cơ thể cảm thụ [24],[31].
Nói chung tất cả mọi người đều có thể mắc bệnh SR nếu bị muỗi
Anopheles nhiễm KSTSR (thể thoa trùng ở tuyến nước bọt) đốt.
5
Về lứa tuổi: Vùng sốt rét lưu hành, tỉ lệ nhiễm bệnh ở trẻ em bao giờ
cũng cao, vì người lớn đã mắc sốt rét nên có miễn dịch (miễn dịch không bền
vững), do đó làm giảm tỉ lệ nhiễm bệnh.
Về giới tính: Không liên quan đến yếu tố cảm thụ sốt rét nên tỉ lệ mắc
sốt rét tương đương giữa nam và nữ.
Một số ngành nghề có liên quan đến rừng núi (làm việc trong rừng, ngủ
lại trong rừng), thường có tỉ lệ mắc sốt rét cao. Dân cư từ vùng thành thị, đồng
bằng vào vùng SR lưu hành dễ nhiễm bệnh SR và khi mắc bệnh SR, bệnh
thường nặng vì chưa có miễn dịch sốt rét.
1.1.4. Định nghĩa ca bệnh
Để chẩn đoán bệnh sốt rét người ta dựa vào định nghĩa ca bệnh bao gồm:
- Bệnh nhân sốt rét: Có KSTSR thể vô tính trong máu, xét nghiệm bằng
phương pháp giêm sa dương tính, hoặc dùng que thử chẩn đoán nhanh dương
tính (nếu không có kính hiển vi). Bao gồm bệnh nhân sốt rét thường, bệnh
nhân sốt rét ác tính và người mang ký sinh trùng lạnh (hiện tại không có sốt
và không có sốt trong vòng 7 ngày gần đây).
- Bệnh nhân nghi sốt rét (sốt rét lâm sàng) trường hợp không được xét
nghiệm máu, hoặc xét nghiệm máu âm tính, hoặc chưa có kết quả xét
nghiệm). Nhưng có 4 đặc điểm sau.
quan đến sự phát triển của muỗi theo mùa, hay mùa truyền bệnh. Những nước
ôn đới, muỗi không phát triển vào những tháng lạnh, những nước nhiệt đới,
cận nhiệt đới, muỗi phát triển quanh năm với đỉnh cao vào đầu và cuối mùa
mưa. Rất hiếm tìm thấy muỗi Anophenles ở độ cao từ 2.000 - 2.500m.
Thời gian mỗi chu kỳ tiêu sinh tuỳ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ thuận
lợi từ 20 đến 30
o
C [18],[44],[45].
Độ Èm: Ảnh hưởng đến tuổi thọ của Anophenles. Anophenles sống lâu
khi có độ Èm tương đối cao (ít nhất > 60%) [41],[42].
7
Lượng mưa và mùa mưa: Ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể
muỗi. Khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho cả P.falciparum, P.malariae và P.ovale.
Vùng cận nhiệt đới thuận lợi cho P.falciparum và P.vivax. Vùng ôn đới,
P.vivax nhiều hơn P.falciparum, và P.malariae hầu như không có.
Sinh cảnh: Ảnh hưởng chủ yếu đến vector truyền bệnh sốt rét, tạo nên
những hình thái sốt rét khác nhau: Sốt rét rừng núi, sốt rét ven biển, sốt rét cao
nguyên, sốt rét đô thị [41],[45].
Sinh học: Động vật rừng, động vật nuôi, thuỷ sản, tuỳ nơi, tuỳ lúc động
vật có tác dụng là mồi thu hút muỗi đốt, do vậy làm giảm tiếp xúc người -
muỗi. Nhiều loài thuỷ sản ăn bọ gậy và có thể làm phương tiện sinh học để
chống muỗi.
Các hoạt động của con người có tác động lớn đến tất cả các khâu lan
truyền bệnh. Các hoạt động đó có thể làm tăng nguy cơ sốt rét. Giao lưu dân
cư các vùng như di dân tự do, xây dựng, đường giao thông, nhà máy thủy
điện, thói quen ngủ đêm tại nương rẫy không nằm màn đều có khả năng làm
lan truyền bệnh sốt rét [41],[42].
Tuy nhiên có những hoạt động làm giảm sốt rét như khai thông mương
máng, lấp hồ ao, phát quang bụi rậm, tăng đàn gia sóc, đô thị hóa, nâng cao
mức sống của dân vv Ngoài ra, nhận thức và thu nhập kinh tế của người dân
Xác định được các vùng dịch tễ sốt rét theo mức độ lưu hành khác nhau
và dân số nguy cơ của từng vùng. Xây dựng chiến lược, biện pháp can thiệp
phù hợp làm cơ sở lập kế hoạch phòng chống sốt rét (phòng chống vector,
9
điều trị và quản lý bệnh nhân sốt rét theo từng vùng) là một công việc hết sức
quan trọng [27],[32],[34], [35],[38].
* Vùng không có sốt rét lưu hành
+ Đặc điểm :
- Địa lý: Đồng bằng, đồng bằng ven biển, thị trấn, thị xã, thành phè, núi
cao>1000m (miền Bắc) > 1500m (miền Nam).
- Sinh cảnh: Ruộng trồng lúa, trồng màu, rừng phi lao, không có khe
suối, núi cao có rừng và thác.
- Không có muỗi An.minimus, An.dirus, An.sundaicus
- Không có KSTSR nội địa (không có lan truyền bệnhSR) )
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh nhân SR, đặc biệt người
mang KSTSR từ nơi khác về.
- Quản lý dân di biến động đi và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốc
sốt rét và tẩm màn cho người đi vào vùng sốt rét.
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng.
• Vùng nguy cơ sốt rét quay trở lại
+ Đặc điểm :
Là các vùng SR lưu hành cũ, không còn ký sinh trùng nội địa trong
vòng 5 năm trở lại đây.
+ Biện pháp can thiệp:
- Giám sát dịch tễ SR thường xuyên.
- Có biện pháp phòng chống vector thích hợp khi có KSTSR nội địa.
- Phát hiện, chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh nhân SR.
- Quản lý dân di biến động đi và về từ vùng sốt rét lưu hành, cấp thuốc
SR và tẩm màn cho người đi vào vùng SR.
- Có ký sinh trùng sốt rét nội địa
- Chỉ số bệnh nhân sốt rét 5-10 người/1000 dân /năm
- Tỉ lệ P.falciparum < 70%
+ Biện pháp can thiệp:
- Phát hiện chẩn đoán điều trị, quản lý bệnh nhân SR, người mang
KSTSR.
- Vận động nhân dân nằm màn, tẩm màn hoá chất diệt muỗi ở nhà và
khi đi rừng. Phun tồn lưu nơi dân không nằm màn hay tỉ lệ nằm màn < 80%.
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng.
- Giám sát dịch tễ SR thường xuyên.
- Củng cố màng lưới y tế cơ sở, điểm kính hiển vi, quản lý y, dược tư nhân.
- Phối hợp đa ngành quân dân y.
• Vùng sốt rét lưu hành nặng
+ Đặc điểm:
- Địa lý núi rừng nước chảy, rừng bằng nam bé .
- Sinh cảnh: Rừng rậm, bìa rừng, rừng tái sinh, rừng cây công nghiệp
(cao su, cà phê ). Nhiều khe suối vũng nước đọng.
- Muỗi An.minimus có điều kiện sinh sản phát triển tốt.Trú cả trong và
ngoài nhà. Từ Thanh Hoá trở vào có An.dirus có điều kiện phát triển mạnh.
- Có KSTSR nội địa.
- Chỉ số bệnh nhân sốt rét >10 người/1000 dân /năm
- Tỉ lệ P.falciparum > 70%
+ Biện pháp can thiệp:
12
- Phát hiện chẩn đoán điều trị, quản lý bệnh nhân SR, người mang
KSTSR (ưu tiên thuốc hiệu lực cao)
- Vận động nhân dân nằm màn tẩm hoá chất ở nhà và cả khi ngủ trong rừng.
- Ưu tiên phun vùng có điểm nóng (nguy cơ xẩy ra dịch). Giám sát dịch
tễ SR thường xuyên, truyền thông giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng. Củng cố
y tế cơ sở, và các điểm kính hiển vi, quản lý y dược tư nhân. Sớm phát hiện và
+ Giai đoạn bảo vệ (nhiều năm): Là giai đoạn cuối cùng của Chương trình
tiêu diệt sốt rét. Trong giai đoạn này chỉ cần phun hóa chất diệt muỗi truyền
bệnh ở vùng biên giới với các nước chưa tiêu diệt sốt rét. Triệt để quản lý
nguồn bệnh sốt rét từ ngoài xâm nhập vào.
Trong 10 năm đầu (1956-1965) Chương trình này tiến hành thuận lợi,
vì vậy bệnh sốt rét đã được tiêu diệt ở các nước Châu Âu, một phần Châu Á
của Liên Xô (cò), một số nước Cận Đông, Bắc Mỹ, Châu Úc, một số nước của
Châu Á (Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore).
Từ 1966 trở đi chương trình tiến chậm, có nơi sốt rét quay trở lại
(Srilanka, Nam Mỹ, Đông Nam Á). Vì vậy tại cuộc họp lần thứ 17 của Hội
đồng chuyên viên sốt rét – WHO đã tìm ra 12 khó khăn trong việc tiến hành
chương trình tiêu diệt sốt rét, trong đó có 3 khó khăn về kỹ thuật.
- Muỗi sốt rét kháng hóa chất diệt (53 loại kháng DDT)
- Muỗi sốt rét trú ẩn ngoài nhà (tránh DDT)
- KSTSR kháng thuốc (P.falciparum kháng nhóm 4-aminoquinolein) và 9
khó khăn về tổ chức kinh tế xã hội .
14
1.4.2. Chương trình phòng chống sốt rét trên Thế giới [15].
Tại kỳ họp 22, WHO đã xét lại tình hình và đưa ra chiến lược mới. Một
chương trình phòng chống sốt rét không có hạn định về thời gian và mục tiêu
lâu dài là tiến tới tiêu diệt sốt rét, trên phạm vi toàn Thế giới. Tùy theo từng
bước đề ra chương trình phòng chống hay thanh toán sốt rét cho phù hợp.
- Từ 1969- 1979, mỗi nước có chiến lược khác nhau, nhưng thực tế khách
quan đã chứng minh là những nước ở vùng nhiệt đới (Đông Nam Á, Châu Phi,
Nam Mỹ) việc tiêu diệt bệnh sốt rét trong thời gian có hạn định là không thể
thực hiện được.
- Từ 1979, WHO đã chuyển sang chiến lược mới xác định 4 loại hình mục tiêu.
- Loại hình mục tiêu 1: Giảm và đề phòng tử vong do sốt rét.
- Loại hình mục tiêu 2: Giảm và đề phòng tử vong do sốt rét. Giảm mắc ở
những tập thể bị đe dọa (trẻ em, phụ nữ có thai, khách du lịch )
- Phát hiện bệnh SR sớm, điều trị kịp thời, an toàn và hiệu quả.
- Điều trị dự phòng cho phụ nữ có thai ở vùng SR lưu hành nặng.
- Dự báo và phòng chống tốt với dịch sốt rét.
- Tăng cường giám sát sốt rét biên giới.
1.5. TÌNH HÌNH SỐT RÉT Ở VIỆT NAM
1.5.1. Các giai đoạn chính [25],[45].
+ Giai đoạn 1958 - 1975: Do đất nước bị chia cắt, chương trình tiêu diệt
sốt rét được tiến hành riêng biệt ở 2 miền Nam – Bắc.
- Miền Bắc 1958-1960 giai đoạn chuẩn bị, 1964 giai đoạn tấn công,1965-1975
giai đoạn cuối tấn công. KÕt quả đạt được 5 KSTSR/vạn dân vào năm 1975.
16
- Miền nam:1958-1959 giai đoạn chuẩn bị, 1960-1964 giai đoạn tấn công,
1965-1975 bỏ dở tấn công vì chiến tranh ác liệt. KÕt quả sốt rét tăng cao dịch
nổ ra ở nhiều nơi vào năm 1975.
+ Giai đoạn 1976 - 1990: Chương trình tiêu diệt SR chuyển sang thanh
toán SR trong phạm vi cả nước theo loại hình mục tiêu 4 của WHO. Trong
hơn 30 năm (1958 - 1990) tiến hành chống sốt rét, Việt Nam đã đạt nhiều
thành tích, song do thiếu điều kiện để duy trì thành quả, sốt rét quay trở lại
trong phạm vi cả nước mà đỉnh cao là năm 1991 với hơn 1 triệu người mắc,
4646 người chết, gây chấn động dư luận xã hội. từ năm 1992, Chính phủ đã
quan tâm thật sự đến Chương trình phòng chống sốt rét .
+ Giai đoạn 1991 - 2000: Mục tiêu tổng quát của Chương trình quốc gia
PCSR giai đoạn 1991-1995 là khống chÕ tốc độ tăng SR (chết, mắc, dịch
sốt rét)
Mục tiêu giai đoạn 1996 - 2000 là giảm tỉ lệ chết 60%, giảm tỉ lệ mắc
50% so với năm 1995, không để dịch lớn xẩy ra, từng bước phát triển các yếu
tố bền vững và không để sốt rét quay trở lại.
+ Giai đoạn 2001– 2005:
Mục tiêu chung: tiếp tục đẩy lùi bệnh SR, tập trung vào vùng SR lưu
hành nặng vào các nhóm dân nguy cơ cao, dân di biến động vào các vùng SR
tập trung chủ yếu ở miền núi và dân tộc ít người, những cộng đồng sống ở
vùng sâu vùng xa, gần rừng, và ở những nơi có dân di cư.
Theo báo cáo của Chương trình phòng chống sốtt rét Quốc gia, sốt rét lưu
hành nặng ở 23 trong số 64 tỉnh thành ở Việt Nam. Năm 2000, các tỉnh trọng
18
điểm này chiếm 70% tổng số ca SRLS (180.767) và chiÕm 91 tổng số ca chết
do SR (86/91). Tỉ lệ mắc SR là 2,81/1.000 dân so với 0,14/1.000 dân ở 41 tỉnh
còn lại. Tương tù như vậy năm 2002, tỉ lệ lưu hành sốt rét vẫn còn rất cao ở
một số nhóm dân ở các tỉnh trọng điểm. Điều tra cắt ngang do Viện Sốt rét -
Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương tiến hành năm 2001 cho thấy: Tỉ lệ
nhiễm P.falciparum là 10% ở một số vùng của Quảng trị, 32% ở một số vùng
của Gia Lai và 67% ở một số vùng của tỉnh Điện Biên, người dân ít tiếp cận
được các dịch vụ y tế do khó khăn về giao thông, dân trí thấp và có tỉ lệ sử
dụng màn thấp.
Ký sinh trùng SR P.falciparum kháng thuốc hiện đang lan rộng ở Việt
Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung và miền Nam. Tỉ lệ kháng Cloroquine in
vivo từ 30 - 85%, trong khi kháng sulphadoxine - pyrimethamine từ 30 - 80%
bệnh nhân theo từng vùng. Kháng Mefloquine và Artesunnate không nghiêm
trọng lắm, nhưng cũng phát hiện được khoảng 1-18%.[78].
Những khó khăn và tồn tại đối với chương trình PCSR [25], [45].
- Dân sống trong vùng sốt rét rất lớn (35 triệu người) chiếm gần 50% dân
số toàn quốc, trong khi đó đé bao phủ còn hạn chế (mới chỉ phòng chống
muỗi đốt cho 12 triệu người), và chất lượng các biện pháp phòng chống sốt rét
chưa đảm bảo như mong muốn.
- Hoạt động của màng lưới y tế cơ sở còn yếu, đặc biệt là y tế thôn bản, do
chất lượng thấp, ở nhiều tỉnh trọng điểm SR, y tế thôn bản còn quá mỏng, phổ
biến ở khu vực miền núi và Tây Nguyên.
- Mạng lưới y tế chuyên khoa SR ở các cấp tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng
còn một số hạn chế về kiến thức chuyên khoa sâu và kỹ thuật phòng chống SR.
19
Từ năm 1990, Chương trình PCSR đổi thành chương trình Quốc gia
PCSR. Năm 1996, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập Chương trình
mục tiêu Quốc gia ưu tiên để tăng cường các chính sách hỗ trợ và đầu tư là:
Chương trình mục tiêu phòng chống một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy
hiểm – Trong đó có Dự án Quốc gia PCSR. Giai đoạn 2001 – 2005, Chương
trình mục tiêu quốc gia ưu tiên mang tên “Chương trình mục tiêu quốc gia
phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm, HIV/AIDS”, Dự án
Quốc gia PCSR là một trong 10 dự án thành phần (Quyết định của thủ tướng
Chính phủ số 190/QĐ-TTg ngày 13/12/2001 về việc phê duyệt Chương trình
mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm,
HIV/AIDS giai đoạn 2001-2005). Năm 2001, Bé trưởng Bé Y tÕ đã có quyết
định số 4238/QĐ/BYT ngày 15/10/2001 thành lập Ban điều hành Dự án Quốc
gia phòng chống bệnh sốt rét và quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế làm
việc của Ban giai đoạn 2001-2005.
Mục tiêu và các chỉ tiêu chính của kế hoạch PCSR giai đoạn 2001-2005
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 35/2001/QĐTg ngày
19/3/2001). Bé trưởng Bé Y tÕ đã ký duyệt thể hiện trong công văn số
826/YT- KH ngày 26/10/2000 về chiến lược chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân
dân giai đoạn 2001- 2005 và định hướng chiến lược y tế dự phòng giai đoạn
2001- 2010 của Bộ Y tÕ Việt Nam: Đến năm 2005 giảm tỉ lệ chết do sốt rét
xuống còn 0,15/100.000 dân, giảm tỉ lệ mắc SR dưới 3,5/1.000 dân.
21
Chính phủ Việt Nam có chủ trương tù cung cấp đủ cho công tác PCSR
vào cuối thập kỷ. Đặc biệt chú trọng việc năng cao năng lực cho Chương trình
Quốc gia PCSR ở tất cả các tuyến.
Tổng ngân sách Nhà nước chi cho ngành Y tế năm 2001 là 249,2 triệu
USD chiếm 3,25% tổng chi của ngân sách Nhà nước. Trong đó kinh phí chi
cho Chương trình Quốc gia phòng chống sốt rét 5 năm gần đây đã giảm từ
100 tỉ đồng năm 2000 xuống còn 70 tỉ đồng năm 2004
1.6. TÌNH HÌNH SỐT RÉT TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN.
Mắc sốt rét /1000 dân (9,43%o), tỉ lệ ký sinh trùng/lam (0,17%) không có tử
vong do sốt rét và dịch sốt rét không xẩy ra[9].
1.7. SỰ CẦN THIẾT TIẾP TỤC ĐẦU TƯ CHO CHƯƠNG TRÌNH
PCSR[38].
Tình hình SR của Việt Nam trong thập kỷ qua (1992-2002) đã thu được
kết quả tốt đẹp, giảm số người mắc, người chết và số vụ dịch SR vì đã tăng
cường đầu tư và thực hiện tốt các chiến lược phòng chống SR.
Mặc dù được sù quan tâm chỉ đạo của Nhà nước, chính quyền các cấp
từ Trung ương đến địa phương cho việc phòng chống sốt rét, tuy nhiên, bệnh
SR ở Việt Nam vẫn còn là một nguy cơ lớn, khả năng SR quay trở lại vẫn còn
cao. Dịch SR vẫn có nguy cơ xẩy ra ở nhiều nơi tại Việt Nam vì những
nguyên nhân sau:
+Trên 35 triệu dân đang sống trong vùng SR lưu hành, trong đó có 15
triệu người sống trong vùng SR lưu hành nặng. Chính những vùng SR lưu
hành nặng này đang được đưa dân lên xây dựng vùng kinh tế mới, có những
23
công trình phát triển các khu công nghiệp, cây công nghiệp như chè, cà phê,
cao su, thuỷ điện, làm đường…
+ Chưa có cơ sở đảm bảo duy trì thành quả PCSR một cách bền vững vì
việc giám sát dịch tễ và quản lý bệnh tại chỗ ở tuyến cơ sở còn yếu, hiện tại
vẫn dựa vào tuyến trên hỗ trợ. Lực lượng tại chỗ (y tế xã, thôn bản) ở vùng
sâu vùng xa chưa đủ năng lực quản lý, giám sát nguồn bệnh và điều trị kịp
thời. Kiến thức và hành vi PCSR của cộng đồng các dân tộc ít người còn thấp
nên huy động nguồn lực phục vụ mục tiêu PCSR vẫn chủ yếu dựa vào Nhà
nước. Về lâu dài, PCSR phải gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, nâng cao
đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu vùng xa,
nâng cao dân trí phòng chống sốt rét. Chưa có đủ nguồn lực và các nhu cầu
cần thiết khác để thực hiện các biện pháp PCSR với độ bao phủ lớn (bảo vệ 35
triệu dân sống trong vùng SR lưu hành).
+ Năng lực hoạt động của hệ thống chuyên khoa SR mặc dù đã được
Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn phụ trách các tỉnh miền Trung và Viện
Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng thành phố Hồ Chí Minh phụ trách các tỉnh
Nam Bé – Lâm Đồng. Tuyến tỉnh các Trung tâm PCSR tỉnh (hoặc Trung tâm
y tế dự phòng).
Tuyến huyện có Đội y tế dù phòng huyện phân công cán bộ chuyên
trách công tác PCSR, có các điểm kính hiển vi liên xã. Tuyến xã có cán bộ y
tế xã theo dõi công tác PCSR và có điểm kính hiển vi xã. Thôn bản có nhân
viên y tế thôn, bản. Hầu hết các thôn, bản đều có y tế thôn, bản nhưng còn
thiếu ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới [10].
25