tiểu luận về công tác hội quần chúng và tổ chức phi chính phủ - Pdf 25

MỤC LỤC
Lời mở đầu……………………………………………………………… 2
I. Nhận thức chung 5
1. Khái niệm 5
1.1. Quản lý nhà nước 5
1.2. Hội quần chúng 5
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng 6
2. Vai trò, ý nghĩa của việc quản lý hội quần chúng có chất lượng 7
II. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các hội quần
chúng 8
1. Tình hình tổ chức, hoạt động của các hội quần chúng 8
1.1. Tình hình tổ chức 8
1.2. Tình hình hoạt động 12
1.3. Ưu điểm, hạn chế trong tổ chức, hoạt động của các hội 17
1.3.1. Ưu điểm…………………………………………………………… 17
1.3.2. Hạn chế………………………………………………………… 17
2. Ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với các hội
quần chúng…………………………………………………………… 18
2.1. Ưu điểm…………………………………………………………… 18
2.2. Hạn chế……………………………………………………………… 19
3. Nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế………………………………… 19
3.1. Nguyên nhân của những kết quả đạt được………………………… 21
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế…………………………………… 21
II. Một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với các hội quần chúng…………………………………………………. 22
Kết luận……………………………………………………………… 24
1
Lời mở đầu
Tiềm lực và sức mạnh của nhân dân là vô bờ bến. Tiềm lực ấy một khi
được khơi dậy và tập hợp trong một tổ chức tự nguyện dưới sự lãnh đạo của
Đảng thì có thể tạo ra sức mạnh ngàn lần, vượt qua mọi khó khăn thử thách, góp

mạnh, doanh nghiệp tư nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng. Lực lượng
lao động tăng cao, quy mô kinh tế không ngừng phát triển. GDP bình quân đầu
người của Đà Nẵng đứng thứ 4/64 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Vai trò, điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi đó đã tác động mạnh đến tổ
chức và hoạt động của các tổ chức hội trên địa bàn thành phố; tạo ra những điều
kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu của cộng đồng về sự phát triển đa dạng, phong
phú theo sở thích, ngành nghề, lĩnh vực, giới và các xu hướng xã hội khác; đáp
ứng và thúc đẩy sự năng động tích cực của cộng đồng, thỏa mãn nhu cầu và
nguyện vọng gắn bó với nhau trong một tổ chức hòa bình, hòa hợp tâm lý, hòa
hợp lợi ích phát triển. Từ đó, thông qua vai trò của các tổ chức hội, đã huy động,
tập hợp đông đảo các thành phần, nguồn lực xã hội khác nhau tham gia, đóng
góp tích cực vào việc quản lý cộng đồng, phát triển xã hội. Vì vậy, những năm
qua, sự phát triển và vai trò của tổ chức xã hội đối với sự phát triển xã hội trên
địa bàn thành phố chuyển biến khá mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc xây
dựng một thành phố Đà Nẵng năng động, phát triển, giàu mạnh, văn minh. Tuy
nhiên xu hướng phát triển đó đặt ra yêu cầu rất cao trong công tác quản lý hiệu
quả đối với các hội.
Để có cái nhìn rõ hơn về các hội quần chúng trên địa bàn thành phố, tôi
thực hiện tiểu luận “Nâng cao hiệu quả quản lý các hội quần chúng trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng hiện nay”.
Đối tượng nghiên cứu chính của tiểu luận là các hội quần chúng, cụ thể là
các hội quần chúng được thành lập theo quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-
CP ngày 25/9/2010 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, hoạt
3
động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải kinh phí, tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật, không phải các hội hoạt động tự phát như hội đồng
hương, câu lạc bộ, hội dòng tộc,…
Phạm vi nghiên cứu là trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay, trong đó
chú trọng nghiên cứu các hội hoạt động trong phạm vi thành phố.
I. Nhận thức chung

quần chúng.
5
Hội quần chúng là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng
ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội
viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp
phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt
động theo quy định của pháp luật.
Với định nghĩa đó, hội gắn với năm nguyên tắc hoạt động cơ bản là: Tự
nguyện; tự quản; Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự bảo đảm kinh
phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và
điều lệ hội.
Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp
hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp
luật (sau đây gọi chung là hội).
Các tổ chức hội quần chúng có vị trí, vai trò quan trọng trong mặt trận đại
đoàn kết toàn dân tộc, trong vận động, tập hợp hội viên và các tầng lớp nhân dân
thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng
Hoạt động quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng do các cơ quan
trong bộ máy nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp thực hiện.
Đối tượng quản lý của nhà nước là các hội quần chúng hoạt động trong phạm vi
cả nước, tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường xã. Phạm vi là trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội mà các hội hoạt động: kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh,
quốc phòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân dân. Mặc dầu các hội
quần chúng không nằm trong hệ thống chính trị song vẫn hoạt động dưới sự
quàn lý của Nhà nước, hoạt động quàn lý nhà nước đối với các hội quần chúng
mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu.
6

chúng sẽ có xu hướng tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tăng nhanh về số lượng,
phong phú về hình thức, đa dạng về phương thức hoạt động và ngày càng có tác
động, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì vậy, quản lý hội
quần chúng có hiệu quả sẽ giúp các hội hoạt động theo đúng chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
II. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng
1. Tình hình tổ chức, hoạt động của các hội quần chúng
1.1. Tình hình tổ chức
Từ khi thành phố Đà Nẵng là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương,
tình hình kinh tế của thành phố tiếp tục phát triển nhanh, các vấn đề xã hội được
quan tâm giải quyết theo hướng tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững, an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Việc thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở bước đầu đã có kết quả, có tác dụng phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, tạo điều kiện để đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang
đô thị. Năm 2003 Thành phố Đà Nẵng vinh dự được Chính phủ công nhận là đô
thị loại 1 theo Quyết định số 145/2003/QĐ-TTg ngày 15/7/2003 của Thủ tướng
Chính phủ. Bộ Chính trị có Nghị quyết số 33 NQ/TW ngày 16/10/2003 về xây
dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Theo đó, sự phát triển đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh tế cũng như
nhu cầu phong phú, đa dạng của các tầng lớp nhân dân đã tác động mạnh đến
nhu cầu hình thành, thu hút, tập hợp các thành phần xã hội theo sở thích, ngành
nghề, lĩnh vực, giới và các xu hướng xã hội trong các tổ chức hội. Đặc biệt, sau
khi Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về
tổ chức, hoạt động và quản lý hội có hiệu lực, do các quy định về nguyên tắc
thành lập, tổ chức, hoạt động và quy trình, thủ tục được cụ thể, rõ ràng hơn nên
8
số lượng tổ chức hội được thành lập trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tăng nhanh.
Việc đề nghị của công dân, tổ chức cũng như tiếp nhận, thẩm định, cho phép
thành lập, quản lý hoạt động các tổ chức hội trên địa bàn thành phố đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, biểu mẫu hướng dẫn quy định tại Nghị định số

quyết các vấn đề xã hội như khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, giúp đỡ gia
đình chính sách, hộ nghèo, các đối tượng bảo trợ xã hội khác nên số lượng tổ
chức, công dân đề nghị thành lập ngày càng nhiều. Năm 2004, toàn thành phố có
302 tổ chức hội thì đến tháng 7 năm 2012 có 552 hội, tăng 250 hội (tăng gần
83% so với năm 2004).
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009
201
0
201
1
7/2012
Hội có phạm vi
hoạt động trên địa
bàn thành phố
92 97 104 107 109 115 119 124 128
10
59 %
23 %
18 %
Hội có phạm vi
hoạt động trên địa
bàn quận, huyện
49 56 72 80 86 87 88 102 102
Hội có phạm vi
hoạt động trên địa
bàn phường, xã
161 170 190 208 225 243 252 321 322
Tổng cộng 302 323 366 395 420 445 459 546 552
Biểu thống kế số lượng tổ chức hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai
đoạn 2004-2011

truyền thông về dân số, vận động người dân thực hiện chính sách kế hoạch hóa
gia đình, Hội Khuyết tật phổ biến các chủ trương, chính sách trợ giúp người
khuyết tật Đáng chú ý là các hoạt động tuyên truyền, vận động những người
làm khoa học và nhân dân tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương thông
qua các hoạt động tuyên truyền của Hội Luật gia, Hội Khoa học Lịch sử thành
phố…
1.2.2. Hoạt động xóa đói giảm nghèo, cứu trợ nhân đạo
Phát huy những kết quả đã đạt được trong những năm trước đây, năm 2011
các tổ chức hội đã không ngừng vận động, kêu gọi sự chung tay của cộng đồng
12
xã hội trong các hoạt động nhân đạo, từ thiện như cứu trợ cho bà con bị thiệt hại
lớn về người và tài sản do các cơn bão, lũ lụt gây ra, hỗ trợ các hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, thiếu may mắn trong xã hội.
Trong đó tiêu biểu có những hội như: Hội Đông y thành phố tổ chức khám
chữa bệnh cho 14.434 người (năm 2010 là 5.308 người); châm cứu cho 8185
người (năm 2010 là 1.000 người), với tổng số kinh phí châm cứu, khám chữa
bệnh, cấp phát thuốc miễn phí là 1.051.810.000 đồng (năm 2010 là 358.903.00
đồng). Hội Nạn nhân chất độc da cam thành phố đã vận động với tổng số tiền
trên 05 tỉ đồng để giúp đỡ, hỗ trợ cho các nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn
thành phố bằng các hình thức như trợ cấp thường xuyên, trợ cấp đột xuất, hỗ trợ
vốn chăn nuôi sản xuất, khám chữa bệnh, cấp học bổng cho con em và gia đình
nạn nhân chất độc da cam. Hội Từ thiện đã vận động hơn 3.191.218.000 đồng từ
các cá nhân, tổ chức trong nước và 9.536.440.000 từ các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài để thực hiện các chương trình từ thiện, nhân đạo cụ thể: xây dựng,
sửa chữa 66 ngôi nhà; hỗ trợ 588 xe lăn, xe lắc tay, xe đặc chủng cho người
khuyết tật và trẻ em bại não; cấp phát 310.210 xuất cháo, cơm trị giá
3.118.540.000 đồng trong chương trình “Bát cháo tình thương”; hỗ trợ viện phí,
mổ tim cho bệnh nhân, trẻ em nghèo số tiền 694.861.000 đồng…
1.2.3. Hoạt động nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
Hoạt động nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ được các

dụng hiệu quả nguồn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ có yếu tổ nước ngoài
như VNAH (Viet Nam Assistance for the Handicapped), Save the Children,
Đông Tây hội ngộ của Mỹ; tổ chức Care the people của Ý; Siloam Chritian
Ministries của Anh; La Goutte D'eau của Pháp; Bilan của Bỉ, Kết quả từ công
tác đối ngoại vận động tài trợ đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của các hội.
1.2.5. Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
14
Các hội, liên hiệp hội đã động viên, phát huy trí tuệ của đông đảo các thành
viên, hội viên tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, chính sách, pháp
luật, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa
phương, phát huy và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, tư vấn và phản biện xã
hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Cụ thể, Hội Luật gia được giao tham gia đóng góp ý kiến vào các dự án
Luật và sửa đổi, bổ sung luật như dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Tài
nguyên nước, Luật Xuất bản, Luật Điện lực,…Hội Xây dựng, Hội Quy hoạch
phát triển đô thị được giao góp ý, phản biện các đồ án quy hoạch thành phố và
các công trình xây dựng của thành phố.
Thông qua công tác tư vấn, giám định và phản biện xã hội, các hội đã góp
phần xây dựng môi trường thực hành dân chủ và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền, tham gia trực tiếp và việc giám sát hoạt động của bộ máy công quyền,
của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và phản biện xã hội, góp phần hoàn
thiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn và khắc phục tình
trạng quan liêu, làm quyền của các tổ chức và cá nhân được trao quyền quản nhà
nước. Qua đó có thể thấy hoạt động tư vấn, giám định và phản biện xã hội góp
phần giúp công tác quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước đối với hội được
nâng cao và ngày càng hoàn thiện.
1.2.6. Hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể
thao và những lĩnh vực khác
Về hoạt động lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các hội đã phát

- Các hội hoạt động trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tập hợp đông
đảo hội viên là cán bộ đương chức, hưu trí, các nhà khoa học… Được sự lãnh
16
đạo của cấp uỷ Đảng và tạo điều kiện của chính quyền các cấp, các hội đã tổ
chức nhiều hoạt động phong phú, tham gia vào quá trình xã hội hoá một số lĩnh
vực như: Y tế; Giáo dục; Thể dục-Thể thao; Văn học-Nghệ thuật của thành phố.
Hoạt động từ thiện, nhân đạo; tư vấn, phản biện và giám định xã hội; tham gia
giải quyết việc làm; bảo vệ môi trường, đối ngoại nhân dân… đã đóng góp lớn
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
1.3.2. Hạn chế
- Một số hội có xu hướng hành chính hóa hoạt động, thành lập từ sự áp đặt
của hội cấp trên hoặc cố gắng xây dựng hệ thống hội từ trung ương đến cơ sở,
trái với tinh thần của Chỉ thị 42-CT/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với các tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng”.
- Còn một số hội hoạt động chưa thường xuyên, nặng hình thức, mang tính
chất hành chính, lúng túng trong phương thức hoạt động.
- Nhiều tổ chức hội, đặc biệt là các hội xã hội thiếu chủ động, hoạt động
còn dựa vào sự hỗ trợ của nhà nước về trụ sở, phương tiện hoạt động, biên chế,
kinh phí,…
- Chế độ thông tin báo cáo của các hội chưa tốt hoặc báo còn sơ sài, chưa
kịp thời thông tin cho cơ quan quản lý khi thay đổi cán bộ chủ chốt, trụ sở và
các thông tin liên lạc của hội.
- Một số hội chưa thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò của mình, hoạt động
còn mang tính hình thức, thiếu bền vững, ít quan tâm chăm lo đến nhu cầu,
nguyện vọng của hội viên, hoạt động mang nặng tính tổ chức sự kiện đến đánh
bóng danh tiếng chứ chưa mang tính chiều sâu.
- Cán bộ hội tuy nhiệt tình, có kinh nghiệm, song do kiêm nhiệm hoặc tuổi
cao nên thời gian dành cho hoạt động quá ít, có hiện tượng quan lieu, “viên chức
hóa”, thậm chí có trường hợp hội được xem là “sân sau” của đơn vị chủ quản và
lãnh đạo hết tuổi công tác trong cơ quan nhà nước.

ở địa phương. Hiện nay, Chủ tịch UBND thành phố đã công nhận 17 hội có tính
chất đặc thù hoạt động trong phạm vi thành phố Đà Nẵng. Đầu năm 2012,
UBND thành phố Đà Nẵng cũng đã có quyết định về chính sách hỗ trợ cho các
hội.
- UBND thành phố đã có nhiều chính sách hỗ trợ các hội, hỗ trợ kinh phí,
trụ sở, điều kiện làm việc, biên chế,…giúp các hội có nhiều điều kiện thuận lợi
để hoạt động. Hiện nay có 09 hội hoạt động trong phạm vi thành phố và 02 hội
hoạt động trong phạm vi quận, huyện được hỗ trợ biên chế, định suất lao động.
TT Tên hội được hỗ trợ biên chế, định suất lao động
Hội hoạt động trong phạm vi thành phố
1. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
2. Liên Minh Hợp tác xã
3. Hội Chữ thập đỏ
4. Liên hiệp các hội văn học - nghệ thuật
5. Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật
6. Hội người mù
7. Hội Nạn nhân chất độc da cam
8. Hội Nhà báo
9. Hội Đông y
10. Hội Tù yêu nước
Hội hoạt động trong phạm vi quận, huyện
1. Hội Chữ thập đỏ
2. Hội Người mù
19
- Quy trình thành lập hội và phê duyệt điều lệ hội được các cơ quan tham
mưu cho Chủ tịch UBND thành phố thẩm định chặt chẽ.
- Giải quyết các thủ tục hành chính theo đúng quy định cải cách hành chính
của thành phố.
- Việc ủy quyền quản lý cho cơ sở bước đầu đảm bảo được công tác quản
lý ở địa phương, giảm bớt công việc của Chủ tịch UBND thành phố và Sở Nội

thuận lợi để hội hoạt động.
- Việc đưa một số tổ chức hội hoạt động trong phạm vi thành phố vào khối
thi đua đã trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của các hội.
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
- Một số cấp ủy đảng chưa quan tâm lãnh đạo, triển khai; thiếu kiểm tra,
đôn đốc thường xuyên.
- Một số văn bản quản lý nhà nước về hội, về chế độ, chính sách không còn
phù hợp nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung nên các cơ quan quản lý nhà nước
và hội khó thực hiện, thiếu các chế tài xử lý hội, hội vi phạm thì việc xử lý chưa
cương quyết, còn nể nang.
- Công tác phân cấp quản lý hội còn hạn chế, chưa cụ thể, còn chồng chéo
khiến việc quản lý hội chưa thống nhất, thiếu chặt chẽ.
- Các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn chưa mạnh dạn
giao cho hội thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội nên chưa
giúp hội khẳng định được vai trò với xã hội.
21
- Mối quan hệ phối hợp giữa Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể chính trị -
xã hội với các hội quần chúng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, chưa phát huy đầy
đủ vai trò nòng cốt trong các hội quần chúng.
- Công tác quản lý hội vẫn còn khó khăn do số lượng hội nhiều và ngày
càng gia tăng, đội ngũ công chức ngành nội vụ ở địa phương mỏng, nhiệm vụ
chuyên môn khác nhiều nên chưa bố trí được lực lượng chuyên trách.
II. Một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với các hội quần chúng
- Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp để nâng cao hiệu
quả quản lý hội, định hướng để các hội hoạt động theo đúng chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước.
- Cần tăng cường công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể chính trị với các hội, phát huy vai trò nòng cốt, tập hợp quần chúng
của mặt trận, thúc đẩy các hội tham gia xây dựng lực lượng quần chúng vững

Kết luận
Hội quần chúng là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng
ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội
viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp
phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt
động theo quy định của pháp luật với các nguyên tắc: tự chủ, tự quản, tự trang
trải kinh phí và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
23
Với các đóng góp cho xã hội trên nhiều mặt hoạt động trên các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ…các hội ngày càng khẳng định
được vai trò của mình trong lực lượng quần chúng đông đảo.
Nhận thức được điều đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều biện pháp nâng
cao hiệu quả quản lý đối với các hội. Tại thành phố Đà Nẵng, công tác này đã và
đang được đặt ra một cách nghiêm túc, nhất là đối với các cơ quan trực tiếp thực
hiện công tác quản lý nhà nước đối với các hội.
Trước những thách thức của xu thế hội nhập và mặt trái của nền kinh tế thị
trường, thành phố Đà Nẵng tiếp tục có nhiều biện pháp để đưa công tác hội vào
quy củ, phát huy vai trò của hội quần chúng, đóng góp vào công cuộc phát triển
của thành phố.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status