hệ thống giáo dục phổ thông ngoài công lập ở tp. hồ chí minh - thực trạng và xu hướng phát triển - Pdf 25


1
MỤC LỤC 2
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

1. PGS-TS. Phạm Xuân Hậu – Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục
2. TS. Nguyễn Viết Ngoạn – Hiệu trưởng Đại học Sài Gòn
3. CN. Huỳnh Kim Sen – Sở Giáo dục – Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
4. Ths. Nguyễn Thị Mỹ Linh – Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh
5. CN. Nguyễn Minh An – Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh
6. CN Phan Nguyễn Trung Minh – Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí
Minh 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
NCL Ngoài Công lập
GV Giáo viên
HS Học sinh
QT Quốc tế
DL Dân lập

50
Bảng 11. So sánh đánh giá của giáo viên về hiện tượng dạ
y thêm của
giáo viên và học thêm của học sinh
51
Bảng 12. So sánh của giáo viên về loại học sinh cần phụ đạo 52
Bảng 13. So sánh của giáo viên về nguyên nhân dẫn đến tình trạng
giảm sút chất lượng dạy và học
53
Bảng 14. Số người đi học thêm tại trường và nơi khác phân theo cấp
học
53
Bảng 15. So sánh ý kiến của giáo viên về hoạt động của hệ thống giáo dục
NCL
58
Bảng 16: Đ
ánh giá của phụ huynh về học lực của con cái
61
Bảng 17: Những khó khăn phụ huynh thường gặp trong việc học hành của
con
62
Bảng 18: Lý do chọn trường NCL 63
Bảng 19: Ý kiến phụ huynh về việc tìm hiểu thông tin của trường 63
Bảng 20: Nhận xét đánh giá của phụ huynh về trường NCL 64

5
Bảng 21: Đánh giá của phụ huynh về chất lượng trường TT, DL trên các mặt
66
Bảng 22: Đánh giá của phụ huynh về sự ra đời của trường NCL
65

trong thời gian qua và hiện tại.
1.2. Đánh giá thực trạng hiện nay của các trường phổ thống ngoài công
lập của thành phố Hồ Chí Minh: những mặt được và chưa được.
1.3. Nêu lên những dự báo về xu hướng phát triển của các trường phổ

thông ngoài công lập của thành phố Hồ Chí Minh.
1.4. Nêu lên một số giải pháp cho việc quản lý hệ thống trường phổ
thông ngoài công lập, khuyến khích trường tư phát triển đúng định hướng, góp
phần nhận thức cho xã hội đúng đắn hơn về nền giáo dục đa dạng hiện nay.

2. Nội dung chính:
2.1. Những vấn đề điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử, nhữ
ng
đặc điểm về tâm lý xã hội, văn hóa giáo dục và một số đặc tính của người dân
thành phố trong quá khứ cũng như trong hiện tại có liên quan đến vấn đề được
khảo sát. Đó là hệ thống giáo dục ngoài công lập đã từng tồn tại và hoạt động

7
trong cách nhìn về lịch sử văn hóa và lịch sử giáo dục của thành phố Hồ Chí
Minh.
Rút ra những vấn đề quan trọng thuộc đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
để trở thành điều kiện cho hệ thống ngoài công lập xuất hiện, tồn tại và hoạt
động cũng như phát triển.
2.2 Làm rõ những khái niệm, cách hiểu khác nhau của các mô hình
trong hệ thống giáo dục ngoài công lập trong từng th
ời điểm lịch sử để hiểu rõ
hơn quan điểm và phương pháp sử học của đề này. Và qua từng thời kỳ, cho
đến nay, khái niệm ngoài công lập được xác định rõ hơn khi có Luật Giáo dục
(với các hình thức, loại hình).
2.3. Tìm hiểu và hệ thống hóa tất cả các văn bản, chủ trương chính sách

ng và khi giải quyết hai rào cản
lớn nhất:
Một là, để mở thêm nhiều trường ngoài công lập ở cấp 2,3 và đạt tiêu
chuẩn về cơ sở hạ tầng thì hầu như quỹ đất thành phố đã cạn. Trong khi các dự
án xin mở trường đều tập trung vào khu vực nội thành hoặc quận ven – nơi có
các khu đô thị mới.
Hai là, trường ngoài công lập nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung
đang vận hành trong nh
ững thay đổi quan trọng với yêu cầu ngày càng gay gắt
của xã hội là nguồn lực chưa đáp ứng, cả xã hội chạy theo bằng cấp, áp lực thi

8
cử nặng nề, chưa liên thông các cấp học, chương trình phổ thông nặng nề, sách
giáo khoa cần điều chỉnh v.v… Điều đó nói lên chúng ta chưa có một triết lý
hay tư duy giáo dục cần thiết nên sự vận hành của nó chỉ biết chạy theo những
yêu cầu nhất thời, có cảm giác cả ngành giáo dục đang rối bời. Trong bối cảnh
đó, các trường ngoài công lập không thể ngay một lúc hoạ
t động theo một định
hướng riêng, để tạo bản sắc và thương hiệu - điều rất cần cho sự phát triển
trường ngoài công lập nếu muốn phát triển bền vững theo kinh nghiệm của các
nước phát triển.
Từ đó xác định được chất lượng, giá trị của từng loại hình trường dân
lập, tư thục, quốc tế, các cấp học nào đáp ứng đượ
c nhu cầu của xã hội, được
chấp nhận, có “thương hiệu”… Và so sánh về chất lượng đào tạo cũng như sự
chấp nhận của xã hội giữa các trường ngoài công lập với nhau, giữa trường
công với trường dân lập, tư thục…
Để trường ngoài công lập ra đời và vận hành đảm bảo những tiêu chuẩn
và quy định của ngành đã khó, vẫn có thể thực hiện được n
ếu có sự giám sát

i cảnh chung để tìm ra những mối liên hệ với các vấn đề
liên quan của cách nhìn biện chứng.
Cách tiếp cận sử học cũng sẽ giúp chúng tôi tìm ra mối quan hệ có tính
bản chất nhất để tìm ra đâu là cơ sở hình thành chủ yếu cho loại hình giáo dục
phổ thông ngoài công lập. Đó chính là nhu cầu thực sự của xã hội và nhu cầu
đó trong một xã hội dân sự, khi những tác động của nhà nước chỉ là c
ơ sở pháp
lý để vận hành còn những vấn đề như quy mô, loại hình, tính chất, số lượng và
hiệu quả đều thuộc về các mối liên hệ cụ thể của chính chủ thể và đối tượng
nghiên cứu.
Mô tả các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Nắm vững phương pháp luận
sử học để có cách nhìn biện chứng với một hiện tượng xã hội mang c
ả tính chất
của định chế văn hóa và định chế giáo dục. Vì vậy, tổng hợp và phân tích
nguồn tư liệu lịch sử là rất quan trọng. Từ nguồn tư liệu thành văn và tư liệu
nhân chứng, các kết quả khảo sát thực tế, các kết quả điều tra sẽ được sắp xếp
theo từng chủ đề và chọn lọc. tổng hợp những tư
liệu và phân tích những số
liệu để có những nhận định chính xác và hợp lý cho các nội dung.
- Phương pháp giáo dục học: Bên cạnh đó, các kết quả đánh giá về
chất lượng giáo dục, sự chấp nhận của xã hội cùng với những so sánh của đề
tài chính là cách sử dụng các phương pháp của khoa học giáo dục. Trong quá
trình triển khai các nội dung chủ yếu và nhất là các nội dung nhạy cảm như so
sánh tiề
n học phí, các khoản thu của nhà trường, về góp vốn của các cổ đông,
các dự án đầu tư, những liên quan tới các đối tác trong cách tổ chức ở các dự
án, kêu gọi xây dựng, cạnh tranh về số lượng học sinh v.v… có thể dẫn đến

10

ối cảnh mới thì những tiếp biến văn hóa
sẽ diễn ra như thế nào.
Khảo sát một hiện tượng văn hóa xã hội chắc chắn cần những sự so
sánh cụ thể giữa các đối tượng với nhau, các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng
như đối chiếu với các địa phương, quốc gia khác để thấy rõ hơn những đặc
điểm, sự giố
ng và khác nhau về văn hóa với những thay đổi, những mối quan
hệ để tìm ra những giải pháp hiệu quả cho việc quản lý hệ thống trường phổ
thông ngoài công lập.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thao tác kỹ thuật, như:
- Phỏng vấn: Do tính nhạy cảm của đề tài, đôi khi những tiếp cận đối
tượng khảo sát cần có những thao tác kỹ thuật phỏng vấn mới có thể tiếp c
ận
nguồn thông tin khách quan nên cũng rất cần được sử dụng.

- Khai thác chuyên gia và đội ngũ cộng tác viên: Đây là lĩnh vực thu
hút sự quan tâm của toàn xã hội, nhất là các nhà giáo, nhà quản lý, nhà nghiên
cứu nên cần sự tham vấn của đội ngũ này.
Với nhiều hình thức tham gia, cộng
tác ở các mức độ khác nhau hay đóng góp những ý kiến, nhận định quan trọng
cho đề tài.

11
- Tổ chức tọa đàm, hội thảo: Nhằm thu thập các ý kiến, nguồn thông
tin đóng góp và mở rộng hợp tác nghiên cứu để có cách nhìn toàn diện, tranh
thủ sự hỗ trợ từ nhiều phía.

12
CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC
CHƯƠNG I

quả trực tiếp của cuộc chiến gây ảnh hưởng xấu tới đô thị Sài Gòn.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam thống nhất, ngày 2
tháng 7 năm 1976, Quốc hội quyết định đổi Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí
Minh". Với tổng diện tích 1.295,5 km², thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô
thị lớn nhất Việt Nam, với số dân hơn 3.500.000 của năm 1976 và tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân thời kỳ
1976 - 1980 chỉ là 2,18% / năm thì thời kỳ
1980 - 1985 tốc độ tăng trưởng bình quân 8,17% / năm, đến năm 2007 dân số
thành phố Hồ Chí Minh đã hơn 6.500.000 người và chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
đạt mức 12,6% / năm
, GDP bình quân đầu người có mức tăng trưởng đáng kể,
năm 2008 đạt 2.500 USD.
Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục là trung tâm
kinh tế trọng điểm phía Nam, với sự năng động về khoa h
ọc công nghệ, kinh
tế, văn hóa… Thành phố là nơi tập trung nguồn nhân lực có trình độ văn hóa

13
cao và có truyền thống hiếu học. Ý thức về tầm quan trọng của học vấn, mong
muốn mở mang nâng cao dân trí là nét đặc thù trong đời sống tinh thần của
người Sài Gòn ngày xưa và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Do đó hệ thống
giáo dục nhà nước và tư nhân song song hoạt động từ rất lâu đời để đáp ứng
nhu cầu xã hội.
1.2. Hoạt động giáo dục phổ thông ngoài công lập tại Sài Gòn – TP.
Hồ Chí Minh
1.2.1. Giai đ
oạn nhà Nguyễn:
Thông thường tại Việt Nam từ xưa, sự có mặt của trường học nhà nước
là thước đo trình độ phát triển văn hóa của một địa phương. Sự phát triển của
trường học từ rất sớm cũng là một nét đặc trưng của xã hội Sài Gòn. Mặc dù

theo lệnh của nhà cầm quyền Pháp chứ không nhằm mục đích phát triển văn
hóa phục vụ cho xã hội và nhân dân Việt Nam.
Lúc đầu, họ vẫn sử dụng các tri huyện là những người biết chữ Nho,
cũng trong thời gian này, Pháp mở các trường Thông ngôn và các trường Huấn
luyện Hành chánh có dạy kèm một số Môn Luật Pháp nhằm phục vụ cho
chính quyền bảo hộ. Đến khoảng năm 1900, Pháp bắt đầu thiết lậ
p bậc Tiểu

14
Học rồi Trung Học. Năm 1917, Pháp bãi bỏ các kỳ thi chữ Nho và mở trường
Đại Học Hà Nội năm 1918.
* Tổ chức cấp Tiểu Học thời Pháp Thuộc:
Cấp Tiểu Học thành 7 năm học, bắt đầu từ lớp Năm, muốn vào lớp Năm
phải theo học từ một đến hai năm Dự Bị (École Maternelle), tương đương với
Mẫu Giáo bây giờ, lớp này không b
ắt buộc, nhưng để có thể học lớp Đồng Ấu
học sinh phải có một trình độ nhất định để vào học. Sau đó học sinh chính thức
vào bậc Tiểu học với lớp Enfantin (lớp Đồng Ấu còn gọi là lớp Năm), các năm
học tiếp theo là lớp Préparatoire ( lớp Tư) và lớp Elémentaire (lớp Ba)
Lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba được giảng dạy bằng tiế
ng Việt nhưng bắt
buộc học sinh bắt đầu học tiếng Pháp. Sau lớp Ba, học sinh thi văn bằng tốt
nghiệp gọi là bằng Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’Études Élémentaires). Đậu
Sơ Học Yếu Lược xong, học sinh được theo học lớp Nhì (Cours Moyen), tất cả
các môn học ở lớp Nhì đều phải học bằng tiếng Pháp, và có 2 lớp Nhì: Cours
Moyen Un và Cours Moyen Deux, tiếp theo là lớp Supérier (lớp Nhất)
Cuối năm l
ớp Nhất, học sinh phải thi bằng Tiểu học trong đó tất cả các
môn thi được thi bằng tiếng Pháp như Chính tả (Dictée), Luận văn
(Composition), Toán (Mathématiques), Khoa học (Sciences) và Sử - Địa

Baccalauréat Première Partie tức là Tú Tài I sau này. Bằng Baccalauréat của
chương trình Việt gọi là bằng Baccalauréat local (Tú tài nội địa).
Giai đoạn thứ ba dài 1 năm: Đậu xong Tú Tài I, học sinh lên lớp
Terminale (lớp 12 bây giờ), cuối lớp học sinh dự kỳ thi Baccalauréat
Deuxième Partie tức là Tú Tài II.
Đề thi của Tú Tài Pháp và Tú Tài bản xứ khác nhau. Trung bình trong
thời kỳ này, qua các kỳ thi, Tú Tài I có sĩ số thí sinh đậu chiếm từ 10 tới 20%
và Tú Tài II khoảng chừng 20 đến 40%.
Có rất ít trường Trung Học được Pháp thiết lậ
p trên khắp lãnh thổ Việt
Nam từ Bắc tới Nam. Cả miền Nam chỉ có trường Petrus Ký (trường Lê Hồng
Phong ngày nay) tại Sài Gòn là dạy được Tú Tài II bản xứ . Ngoài ra có trường
Chasseloup- Laubat (trường Lê Quý Đôn ngày nay) ở Sài Gòn là dạy đến lớp
cuối cùng (Terminale) của chương trình Pháp. Và trên cả nước, giai đoạn này
mỗi năm chỉ có trên dưới 100 người có bằng Tú Tài mà thôi. Tuy nhiên, Pháp
không đặt trường Đại Học ở trong Nam vì con cháu của các người giàu có
thường là dân Tây (có quốc t
ịch Pháp) gửi con theo học các Đại Học tại Pháp,
nên trường Đại Học chỉ được mở tại Hà Nội năm 1918 mà không mở tại Sài
Gòn.
Tóm lại, thực dân Pháp không thực sự mở mang nền giáo dục của nước
ta mà họ chỉ muốn đào tạo một số công chức và người làm tay sai cho Pháp mà
thôi. Và với dân số khoảng 25 triệu người Việt Nam khoảng thập niên 1940 mà
mỗi năm không quá 100 người tốt nghiệ
p bậc Đại Học thời Pháp thuộc. Theo
giáo sư Elon E. Hildreth (“The Challenge in Education”, Michigan State Univ.
Press, 1959), vào năm 1957, tại miền Nam Việt Nam cứ 170 học sinh học
trung học đệ nhất cấp thì chỉ có 1 người tốt nghiệp trung học đệ nhị cấp.
Đến năm 1952, tại miền Nam Việt Nam , tất cả các trường đều bắt đầu
giảng dạy theo chương trình Việt, các lớp theo chương trình Pháp được dạy

thời gian 7 n
ăm, hết mỗi cấp đều có kỳ thi.
Các thí sinh Tú Tài II, sau khi đậu các môn thi Viết, tất cả đều phải thi
Vấn Đáp từ 1 đến 3 ngày để thi tất cả các môn có trong chương trình thi viết.
Thí dụ như ban khoa học B phải thi vấn đáp tất cả các môn Triết, Toán, Lý
Hóa, Vạn Vật, Sử, Địa, Anh Văn, Pháp Văn.
Niên khóa 1968- 1969 kỳ thi Vấn Đáp Tú Tài được bãi bỏ, niên khóa
1971-1972 tiếp tục bỏ kỳ thi Tú Tài I, nên kỳ thi đệ nhị
lục cá nguyệt của lớp
11 lại càng khó khăn gấp bội. Vì có sự thay đổi và hủy bỏ các kỳ thi Trung
Học Ðệ Nhất Cấp và Tú Tài I này, nên Tú Tài II còn lại là kỳ thi duy nhất của
bậc Trung Học và sau đó cũng đổi thành bằng Tú Tài (trước kia gọi là Tú Tài
II).
Năm 1974 là năm đầu tiên cũng là năm cuối cùng, chính phủ tổ chức
chấm thi Tú Tài bằng máy điện toán IBM. Thí sinh phải thi tất cả các môn theo
phương pháp trắ
c nghiệm.
* Chương trình học:
Cấp Tiểu học và Trung học Đệ Nhất Cấp học như nhau ở các cấp lớp,
ngoài ra kể từ lớp đệ Thất (lớp 6), học sinh được học Sinh ngữ thứ nhất tùy ý
lựa chọn Anh hoặc Pháp. Bắt đầu học Đệ Nhị Cấp từ lớp đệ Tam (lớp 10) học
thêm Sinh ngữ thứ hai, và như thế khi tốt nghiệp Tú Tài, họ
c sinh đã được học
Sinh ngữ thứ nhất 7 năm và Sinh ngữ hai là 3 năm. Ở Trung học Đệ Nhị Cấp
bắt đầu học phân ban. Có 4 ban A, B, C, và D. Ban A đặt trọng tâm vào các
môn Vạn Vật, Lý Hóa; ban B trọng tâm là Toán, Lý, Hóa; ban C chú trọng về
Triết Học và các Sinh Ngữ Anh, Pháp; ban D chú trọng về Hán Văn, cộng một
sinh ngữ nữa thí dụ như Anh hoặc Pháp và Triết Học. Riêng phần Triết Học
học thêm về Triết Học Đông Ph
ương thí dụ như Lão Tử.

Hán Văn hệ số 3 và một sinh ngữ
hoặc Anh hoặc Pháp có hệ số 2. Phần Triết
Học cũng giống như ban C, riêng phần Hán Văn thì chỉ những người nào có
căn bản Hán Học chẳng hạn con cái của các cụ đồ Nho cũ hay người Việt gốc
Hoa mới thi nổi ban Hán Văn. Ban C và ban D có rất ít học sinh theo học nên
các trường tư thường không có lớp đệ Nhất C và đệ Nhất D vì rất không đủ học
sinh để mở lớp. Cũ
ng như ban C, học sinh tốt nghiệp Tú Tài II ban D thường
tiếp tục việc học của họ ở Đại Học Văn Khoa học ban Việt Hán, và sau khi tốt
nghiệp họ trở thành Giáo Sư Trung học dạy Việt Văn và Hán Văn tại những
trường Trung Học nào có tổ chức ban D. Sinh viên Việt gốc Hoa, sau khi tốt
nghiệp Tú Tài II ban D thường sang du học ở Hồng Kông hoặc Đài Loan để
tiếp tục bậc Đạ
i Học
* Hệ thống trường học phổ thông:
Có hai loại trường cho người đi học: Trường Công lập (miễn phí) và Tư
thục (thu phí). Những ai không đủ điều kiện học trường công lập (quá tuổi quy
định, thi rớt đầu cấp hoặc bị trường công lập đuổi học…) thì vào học tư thục,
bị tư thục này đuổi học có thể vào tư thục khác.
Theo TS. Huỳnh Công Minh, Giám Đốc Sở Giáo dục Đào tạo thành
phố Hồ Chí Minh: “Từ số liệu tiếp quản sau ngày giải phóng, cứ 1 trường
công lập thì hệ thống giáo dục quốc dân có từ 3 đến 7 trường tư thục – tùy
theo cấp học. Số lượng học sinh phổ thông lúc bấy giờ chiếm tỉ trọng từ 30%
đến 70% trẻ em trong độ tuổi. Càng lớn trẻ đi học càng ít, nhất là ở trung
học phổ thông. Ở Mầm non, số trường lớp không đáng kể, chủ yếu là một số
nhà trẻ ở khu vực trung tâm.” (Nguồn: Bài viết Nâng cao chất lượng giáo
dục phổ thông giải quyết từ đầu tư giáo dục).

18
Có nhiều nguyên nhân khiến hệ thống trường tư phát triển mạnh ở miền

phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai), tr
ường Trưng Vương (hiện nay là trường
trung học cơ sở Trưng Vương), trường Lê Văn Duyệt (hiện nay là trường trung
học phổ thông Võ Thị Sáu)…. Ngoài ra còn các trường dạy chương trình Pháp
như Chasseloup-Laubat (sau đổi tên là Jean Jacques Rousseau, Trung Tâm học
đường Lê Quý Ðôn, ngày nay là trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn),
Marie-Curie (hiện nay là trường trung học phổ thông Marie-Curie) cùng
Colette (hiện nay là trường trung học cơ sở Colette) và Saint-Exupéry (hiện
nay là trường Tiểu học Hòa Bình) trước năm 1967 đều do chính phủ Pháp đài
thọ mọi chi phí. Các trường dạy theo chương trình Pháp, Collège là trường dạy
hết bậc Trung học đệ nhất cấp, Lycée là trường dạy dạy Trung học đệ nhị cấp
(thi Tú tài). Chi phí trường Collège do quỹ Thuộc địa tài trợ (tức Nam Việt),
còn Lycée do quỹ Quốc gia (tức là của Pháp) tài trợ. Ngoài ra còn có hai
trường Nguyễn Trường Tộ (trung học đệ nhất cấp) và Cao Thắng (trung học đệ
nhị cấp) là trường công lập kỹ
thuật. Để vào học các trường công chương trình
Việt hay chương trình Pháp học sinh đều phải trãi qua các kỳ thi tuyển khá khó
khăn, nhất là kỳ thi vào lớp Đệ Thất, mỗi trường công chỉ tuyển số học sinh
vào lớp Đệ Thất một số lượng nhất định theo chỉ tiêu do Nha Giáo dục đưa ra,
sau khi chấm thi và có điểm số, các trường công sẽ lấy học sinh từ điểm cao
nhất đế
n khi đạt số chỉ tiêu thì ngưng lại, số học sinh còn lại coi như thi rớt

19
không thể vào trừơng công được sẽ ra học trường tư hoặc ôn thi để năm sau thi
lại, trung bình mỗi năm số học sinh trúng tuyển vào lớp Đệ Thất trường công
chỉ khoảng 20%-30% số thí sinh dự thi.
- Hệ thống trường tư có nhiều loại hình: dạy chương trình Việt để thi Tú
Tài Việt Nam, chương trình Pháp để thi Tú Tài Pháp, chương trình Đài Loan
và Việt Nam song song tại các trường người Hoa trong Chợ Lớn… Các

Như đã nói học phí của trường cao hay thấp do quy mô đầu tư của
trường và thành phần Ban Giáo sư. Cũng nên nói qua về người dạy học phổ
thông giai đoạn này: Cấp Tiểu Học có Giáo Viên Công Nhật, Giáo Viên Chính
Ngạch, Giáo Học cấp Bổ Túc. Cấp Trung h
ọc có Giáo sư chính ngạch, xuất
thân từ trường Đại Học Sư Phạm, dạy chương trình Trung học Đệ Nhị cấp;
Giáo sư khế ước, xuất thân từ trường Cao Đẳng Sư phạm, dạy chương trình
Trung học Đệ Nhất cấp hoặc sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân Khoa Học, được
dạy Trung học Đệ Nhị cấp nhưng cũng chỉ là Giáo sư Khế ước; Còn lạ
i là Giáo
sư dạy giờ, phần lớn Giáo sư dạy giờ là sinh viên đang theo học một trường
Đại học nào đó ở Sài Gòn, nên vừa đi dạy, vừa học cho xong chương trình của
mình, và với thời gian, các vị này lấy được bằng Cử Nhân tại Đại Học Luật,
Đại Học Văn Khoa hay Đại Học Khoa Học. Nếu còn muốn theo nghề, thì sau ít
năm dạy giờ, sẽ thành Giáo sư khế
ước ký hàng năm, và Giáo sư khế ước sau

20
một số năm được xét nhập ngạch Giáo Sư Đệ Nhất Cấp, hoặc qua những nhận
xét và phê điểm hàng năm của Hiệu Trưởng hoặc qua kỳ thi khả năng Sư phạm
Trung Cấp. Các Giáo Sư Đệ Nhất Cấp có bằng Cử Nhân Văn Khoa, Luật
Khoa, Khoa Học sau thời gian giảng dạy chứng tỏ năng lực và nếu trường có
nhu cầu được cải sang ng
ạch Giáo Sư Đệ Nhị Cấp và được tiếp tục giảng dạy
tại trường
Ở các trường tư học phí cao, phần lớn Ban Giáo sư được mời là giáo sư
chính ngạch từ trường công hoặc các giáo sư nổi tiếng của các trường khác, dĩ
nhiên thù lao của giáo sư cũng cao hơn so với thù lao các tư thục nhỏ. Trước
năm 1975, một người có thể dạy 2 hay 3 môn, tùy nhu cầu. Một giáo s
ư Toán

thị đều có thể cho con em đến trường, tùy theo khả năng đóng học phí mà chọn
trường lớn, nhỏ, ngoài ra trường tư còn là một hệ thống giúp ích rất nhiều cho
học sinh trung học ở những lớp có kỳ thi cuối năm như lớp Đệ Tứ (lớp 9), lớp
Đệ Nhị, Đệ Nhất (l
ớp 11và 12). Đó là những lớp "luyện thi", những lớp hè -
lớp Toán Lý Hoá, lớp Anh văn, Pháp văn, v.v. Những lớp này đã giúp đỡ học
sinh rất nhiều trong việc ôn luyện lại những nguyên tắc và định lý căn bản đã
học hay là sắp sửa học ở trường - thường thường là trường công. Phương pháp
dạy tư ở các lớp học thêm và luyện thi thường chú trọng Phương pháp dạy tư ở

các lớp học thêm và luyện thi thường chú trọng nhiều đến việc giải nghĩa cũng
như tạo dựng cho học sinh căn bản lý thuyết các môn học hơn là giải các đề

21
bài cho sẵn, và thường chỉ dẫn những cách giúp trí nhớ đối với các công thức
hoặc định lý khô khan và quá trừu tượng nên kết quả khả quan, được xã hội
chấp nhận.
Cuối cùng là dù học ở những dạng trường học khác nhau, trường công
hay trường tư, trường lớn hoặc trường nhỏ, học phí cao hay thấp nhưng tất cả
học sinh ở các kỳ thi chuyển cấp hay thi Tú Tài đều đượ
c áp dụng cùng một
cách thi và cùng thi một đề thi, bằng cấp sau khi thi đậu là bằng quốc gia ghi
tên họ, quê quán và thứ hạng của thí sinh trúng tuyển, không phân biệt là học
sinh trường nào. Xếp hạng ở các kỳ thi Tú Tài như sau:
Thứ (điểm 10/20)
Bình Thứ (điểm 12/20)
Bình (điểm 14/20)
Ưu (điểm 16/20)
Tối ưu (điểm 18/20)
Thứ hạng trên bằng Tú Tài rất quan trọng cho vi

cũng cố và phát triển rộng khắp nội, ngoại thành theo chế độ bao cấp từ ngân

22
sách. Trong giai đoạn này, cấp 3 không có chia ban, việc thi tốt nghiệp Phổ
Thông Trung Học chỉ thi các môn chính là Việt Văn, Toán, Lý (hoặc Hóa), Sử
(hoặc Địa), Sinh Học và Sinh Ngữ, không có thi Vấn Đáp.
Năm 1989 bắt đầu có chế độ đóng học phí bắt buộc đối với học sinh
trung học (cấp 2 và cấp 3) thay khoản đóng bảo trợ học đường ( ban hành năm
1981) đã được đóng với mức tượ
ng trưng: 3 kg gạo/tháng đối với học sinh cấp
2 và 4 kg gạo/tháng đối với học sinh cấp 3 ở nội thành; học sinh tiểu học vẫn
được tiếp tục học miễn phí.
Từ 1980 – 1985 khi kinh tế thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu tăng tốc,
dân số cũng phát triển mạnh, nhu cầu của hệ thống giáo dục công lập ngày
càng lớn, ngân sách thành phố ngày càng không đáp ứng nổi dù đã phải huy
động thêm s
ức dân qua việc thu tiền cơ sở vật chất 15.000 đồng/năm đối với
mỗi học sinh. Tình hình đó đã đưa các trường trung học phải xoay sở bằng
nhiều phương cách cả tích cực lẫn không tích cực: lao động sản suất, cho thuê
mướn mặt bằng nhà trường, kêu gọi sự hỗ trợ của Hội Phụ huynh học sinh, mở
các lớp phụ đạo cho học sinh học lự
c yếu có thu tiền, mở thêm hệ B thu học
phí cao hơn 3-4 lần mức thu học phí hệ A đối với học sinh không đạt điểm
chuẩn thi chuyển cấp (lớp 6 và lớp 10)… Thời kỳ này chỉ trừ ở cấp tiểu học và
các trường trung học ở ngoại thành là hoàn toàn không thu học phí, còn thì
trong trường trung học công lập đã phát sinh nhiều loại hình giáo dục khác
nhau và phát triển một cách tự phát
- Các trường tự hạ
ch toán một phần: ở tiểu học mở lớp bán trú, ở trung
học cấp 2 và cấp 3 mở lớp hệ B.

phát huy được hết năng lực vì ngoài tiền lương c
ơ bản theo quy định của nhà
nước không có thêm thu nhập. Kết quả phụ huynh học sinh có con em học
những trường này muốn nâng cao chất lượng học tập phải cho đi học thêm
những nơi khác, tốn kém gấp nhiều lần mức học phí phải đóng.
Hệ thống trường hệ B – loại trường lớp thu hút các học sinh không đủ
điểm chuẩn vào lớp 6 và lớp 10 trường công (gọi là hệ A) – cũ
ng nằm chung
trong trường hệ A, sử dụng cơ sở vật chất của trường hệ A, cùng một Ban
Giám hiệu quản lý hoạt động theo quy chế tạm thời của Sở Giáo dục và Đào
tạo thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu hệ B cũng đã giải quyết được phần nào
nhu cầu học tập ngày càng tăng do sự phát triển dân số thành phố quá nhanh.
Tuy nhiên càng về sau cũng chính loại hình hệ
B nảy sinh ra các phức tạp
trong nội bộ một trường và giữa các trường về thu nhập của giáo viên, về chất
lượng học sinh… Mặt khác, học sinh giàu-nghèo-giỏi-kém đều phải đóng tiền
như nhau trong khi khả năng tài chính của dân cư thuộc các thành phần kinh tế
trong xã hội rất khác biệt nhau nhưng các khoản phí bắt buộc (học phí, tiền thu
cơ sở vật chất…) như nhau cho mọi học sinh ở
các trường. Trường ở khu vực
trung tâm thành phố, có nhiều cha mẹ học sinh khá giả thì càng dễ dàng huy
động sự đóng góp để cải thiện điều kiện dạy và học; trường ở khu vực nhiều
người lao động nghèo vừa không thu đủ được các khoản đóng góp bắt buộc
vừa không huy động được cha mẹ học sinh góp sức chăm lo xây dựng cơ sở
vật chất và đội ngũ giáo viên c
ủa trường, do đó khó có điều kiện nâng cao chất
lượng giáo dục.
Trong bối cảnh đó, các định chế kinh tế từng bước được khôi phục vào
cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990, khi Nhà nước nhìn nhận trở lại vai trò
của thị trường, quyền mở Công ty và quyền tự do kinh doanh. Và xu hướng

thêm những khoản tích lũy nhất định từ GDP để đầu tư cho các chương trình
phát triển kinh tế và xã hội ở tất cả các địa phương, nhất là vùng sâu vùng xa,
như m
ở mang hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, y tế, giáo dục, khuyến khích
tài năng tạo thêm công ăn việc làm, làm tốt hơn việc đền ơn đáp nghĩa, trợ giúp
những người có hoàn cảnh khó khăn… Sự phát triển kinh tế của thành phố Hồ
Chí Minh trong 20 năm qua đồng thời cũng tác động đến sự phát triển của giáo
dục (theo như mô hình tăng trưởng nội sinh (endogenous growth models) của
Uzawa (1965), Lucas (1988) và Romer (1990): giáo d
ục và kinh tế tương tác
hai chiều: giáo dục/nghiên cứu tốt làm tăng kiến thức/phát minh và vốn con
người, dẫn đến tăng trưởng kinh tế; và tăng trưởng kinh tế làm tăng nguồn lực
dành cho giáo dục/nghiên cứu
1
).
Nhờ có tăng trưởng kinh tế, người dân thành phố có thêm cơ hội để học
tập, rèn luyện, nâng cao khả năng lao động và quản lý để tham gia vào hoạt
động kinh tế và các hoạt động xã hội khác mà trước đó họ chưa có điều kiện.
Tuy nhiên hiện nay so với toàn cảnh thế giới và trong khu vực, nước ta
vẫn còn tụt hậu nhiều mặt trong đó có giáo dục. Theo “Báo cáo về Phát triển
trên Thế giới” năm 2006 của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam ở phía
sau rất xa các nước khác trong khu vực vì chỉ có 2% dân số được đi học đủ 13
năm hoặc hơn nữa. Cũng theo báo cáo này thì Việt nam đứng chót trong khu
vực vì chỉ có 10% thanh thiếu niên trong hạng tuổi từ 20 đến 24 có ghi danh
vào các trường đại học hoặc cao đẳng. Trái lại, Trung quốc có 15% sinh viên
trong hạng tuổi này đã ghi danh, Thái Lan có 41% và Hàn quốc có con số thật
ấn tượng là 89%.
Trong bối cảnh chung của cả nước về giáo dục, nhìn lại dân số thành
phố Hồ Chí Minh đã phát triển rất nhanh theo hàng năm, từ hơn 3.500.000 dân
năm 1976, năm 1995 là 4.640.117 người, năm 2000 là 5.174.780 người, năm

m 2008, trong đó tại thành phố
Hồ Chí Minh theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân thành phố ngân sách dành
cho giáo dục và đào tạo những năm gần đây luôn nằm ở tỷ lệ 20 - 22% tổng
ngân sách của thành phố. Đây là một tỷ lệ khá lớn, tuy nhiên với số lượng cán
bộ giáo viên của thành phố lên đến hơn 65 ngàn người, cho nên tỷ lệ này dù
lớn cũng chỉ đủ để trả lương trong ngành. Phần ngân sách còn lại không đủ cho
các chi phí khác nh
ư việc mua trang thiết bị phục vụ cho dạy và học, sửa chữa
cơ sở vật chất, tiền điện nước…Thí dụ tiền điện, nước được phân bổ cho các
trường phổ thông trung học ở thành phố chỉ vài triệu mỗi tháng ở mỗi mục,
nhưng để đầy đủ ánh sáng trong phòng học cho học sinh học tập cần phải lắp
thêm bóng đèn, tiề
n mua bóng đèn tăng lên và tiền điện tăng lên, có trường
mỗi tháng phải trả tiền điện nước lên hàng chục triệu đồng. Vì vậy các trường
học ngoài việc tính toán tiết kiệm trong chi tiêu phải vận động các đơn vị, cá
nhân hảo tâm hay phụ huynh học sinh đóng góp hỗ trợ.
Theo số liệu do Bộ Giáo dục - Đào tạo khảo sát trong 6 năm trở lại đây
(2000- 2006) về đầu tư
và cơ cấu tài chính cho giáo dục Việt Nam công bố
ngày 7/11/2006: chi phí cho học tập bao gồm học phí và 5 khoản chi khác
gồm: đóng góp cho trường lớp, mua sách giáo khoa, đồ dùng học tập, học
thêm, quần áo đồng phục. Cộng tất cả học phí và 5 khoản còn lại thành chi phí
học tập thì chi phí học tập gấp 2,2 - 2,7 lần học phí.

Cơ cấu chi Giáo dục - Đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng chia
theo các khoản (Nguồn Bộ
Giáo dục - Đào tạo ):

Năm
Chi GD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status