tiểu luận sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng trong chương trình cho sinh viên nghèo vay vốn - Pdf 25

Tiểu luận Sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng trong
chương trình cho sinh viên nghèo vay vốn PHẦN MỞ ĐẦU

Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yếu tố con người được xem là quan
trọng nhất trong phát triển kinh tế đất nước. Ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore… là những nước cùng nằm tại châu Á, tuy không có tài nguyên khoáng sản
quốc gia nhiều nhưng đất nước họ rất phát triển. Điều đó chứng tỏ yếu tố con người có
vai trò quan trọng và là yếu tố quy
ết định đối với sự phát triển đất nước. Nhận thấy rõ
được điều đó nên chúng ta đã và đang dốc sức tập trung đấu tư, bồi dưỡng cho giáo dục
nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước.
Hiện nay nước ta vẫn còn nghèo, việc đi học bậc tiểu học, trung học đã là khó khăn với
nhiều gia đình, thì việc chuẩn b

từ nó đối với mỗi người sử dụng là bằng 0 và không thể ngăn cấm mọi người sử
dụng.
• Theo Joseph-Stinglitz thì hàng hóa công là những loại hàng hóa mà việc một cá
nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những
người khác cùng đồng thời hưởng lợi ích của nó.
Ở Việt Nam, giáo dục đại học là hàng hóa công không thuầ
n túy vì khi một sinh viên
muốn vào đại học phải phụ thuộc vào 2 khả năng: khả năng tích lũy tri thức và khả năng
tài chính.
Đối với khả năng tích lũy tri thức thì phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân sinh viên. Khi
muốn được vào đại học thì chúng ta phải trải qua một kỳ thi quan trọng là tuyển sinh Đại
học, ai có khả năng tích lũy tri thức càng nhiều thì càng có cơ hội vào đại học nhiều hơn.
Vì vậy đã tạo nên một sự cạnh tranh giữa mọi người với nhau, không phân biệt giàu
nghèo.
Và khi tích lũy tri thức đủ khả năng vào đại học thì việc học đại học còn bị phụ thuộc vào
khả năng tài chính của mỗi gia đình. Có những gia đình không đủ tiền để cho con họ học
tiếp đại học nên những sinh viên đó không thể thực hiện được ước mơ vào
đại học.
1.3. HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG CHI TIÊU CÔNG CHO HÀNG
HÓA GIÁO DỤC
1.3.1. Hiệu quả Pareto:
Một sự phân bổ nguồn lực được xem là đạt hiệu quả Pareto nếu như không có cách nào
phân bổ lại các nguồn lực để làm cho ít nhất một người được lợi hơn mà không phải làm
thiệt hại đến bất kỳ ai. (Vilfredo Pareto – Italia).
Trong giáo dục có thêm một sinh viên sử dụng chương trình giáo dục thì cũng không ảnh
hưởng gì tới lợi ích của những sinh viên khác.
1.3.2. Công bằng:
Khái niệm công bằng mang tính chuẩ
n tắc, nghĩa là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi
người. Có hai cách hiểu khác nhau về công bằng:

quốc tế, dân lập, nếu không sẽ học tại các trường công lập.
1.3.3. Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng trong chi tiêu giáo dục:
Mọi hoạt động chi tiêu cho giáo dục của chính phủ đều nhằm giải quyết bài toán “cân
bằng dọc”, c
ả người giàu người nghèo ai cũng có cơ hội học tập như nhau. Tuy nhiên
trong thực tế có hai trường phái về việc có hay không sự đánh đổi giữa hiệu quả về công
bằng:
• Trường phái 1: Cho rằng hiệu quả và công bằng là có sự đánh đổi.
Theo quan điểm này, nếu
ưu tiên hiệu quả thì phải
chấp nhận bất công và
ngược lại. Bởi vì: việc đầu

cho giáo dục chính là
vấn đề chi tiêu ngân sách
nhà nước cho giáo dục, hỗ
trợ cho sinh viên nghèo
chính là việc phân phối lại
thu nhập từ người giàu
sang người nghèo, theo
quan điểm của trường phái
này nếu không làm công
HÌNH 1: Nhận thức khác nhau của hai đối tượng về giá
trị của sự đánh đổi
việc này thì sẽ không phải mất chi phí để vận hành một bộ phận nguồn nhân lực thực
hiện, khỏi phải tốn ngân sách, thu thuế sẽ ít đi. Nhưng nếu đầu tư cho giáo dục thì phải
tốn chi phí, có khả năng phải người giầu phải đóng thuế nhiều hơn, gây ra tâm lý bất
mãn khiến cho họ muốn làm việc ít đi. Còn những sinh viên được hỗ trợ từ ngân sách nhà
nước thì có tâm lý ỷ lại, giảm sự quan tâm tìm kiếm cơ hội, nỗ lực học tập, làm việc để
hoát khỏi cuộc sống phụ thuộc.

tượng nghèo lại được vay vốn có trợ cấp. Như vậy mục tiêu của chương trình không được
thực hiện đúng theo ý muốn. Nó vừa lãng phí và không công bằng trong việc cung cấp
những lợi ích kinh tế không cần thiết cho sinh viên không thuộc đối tượng nghèo. Và nếu
không chọn đối tượng mục tiêu một cách thận trọng thì rất có thể sinh viên có hoàn cảnh
khó khăn nh
ất lại bị loại ra.

HÌNH 2: Sơ đồ hình trứng
Vòng tròn ngoài cùng (lớn nhất) là dân số độ tuổi học đại học và bao gồm học sinh mới
tốt nghiệp phổ thông và sinh viên đang học THCN, dạy nghề, cao đẳng và đại học (vòng
tròn ở giữa). Trong số những sinh viên đang học THCN, dạy nghề, cao đẳng và đại học,
có một số được vay vốn (vòng tròn nhỏ nhất). Dựa vào đánh giá mức độ đói nghèo
(
đường cong chấm chấm), chỉ có một bộ phận những thanh niên này được xác định là đối
tượng nghèo (nằm ở phía trên của đường cong). Tổng số đối tượng vay vốn được thấy
trong phần A và D của sơ đồ. Những sinh viên trong phần A là sinh viên nghèo và vì vậy
được quyền vay vốn. Trong khi đó sinh viên trong phần D không phải là đối tượng nghèo
nhưng vẫn được vay vốn. Vấn đề này xảy ra do việc phân bổ vốn vay không tuân theo
những tiêu chí quy định hoặc do chương trình vốn vay đang bị lợi dụng.
Đối tượng mụ
c tiêu bao gồm tất cả sinh viên nghèo theo học ở các trường THCN, dạy
nghề, cao đẳng và đại học (Phần A và B); trong số này chỉ sinh viên ở Phần A được vay
vốn còn sinh viên ở phần B không được vay. Tổng số các đối tượng mục tiêu bao gồm
phần A và B cộng với phần C (những thanh niên nghèo đã tốt nghiệp trung học, đủ trình
độ vào đại học (nhưng không có điều kiện) và có thể được đi học trở
lại nhờ có các khoản
vốn vay.
Như vậy nếu tất cả các sinh viên đều được vay vốn thì chi phí để xác định đúng đối tượng
của chương trình là những sinh viên nghèo sẽ giảm đi, thủ tục chứng nhận, xác nhận sẽ
gọn nhẹ, nhanh chóng hơn, cho được nhiều sinh viên vay vốn nhất… Khi đó có sự đánh

thấy: chi tiêu công cho giáo dục, cho sinh viên nghèo vay vốn là cơ sở quan trọng nhất để
nâng cao chất lượng nguồn lao động, phục vụ cho xã hội, năng suất lao động tăng, giảm
thất nghiệp, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời góp phần tăng thu
cho ngân sách nhà nước, phát huy hiệu quả thu hồi vốn đã đầu tư cho giáo dục đào tạo
nghề lao động trước
đây. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn quốc… đã cho thấy rõ điều đó.
Ngoài ra, đào tạo cho giáo dục chính là đầu tư cho tương lai, một đất nước có nền giáo
dục tốt sẽ có được vị trí chính trị tốt trên trường quốc tế, tăng cương khả năng độc lập,
làm chủ về khoa học công nghệ… phát triển bền vững với nền kinh tế tri thức. Như v
ậy
chính sách cho sinh viên nghèo vay vốn là một chính sách cần thiết trong tổng thể các
chính sách phát triển đất nước ta.
1.4. CẦN THIẾT PHẢI CHI TIÊU CÔNG CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
HÌNH 3: Hai cá nhân có cùng nhận thức về sự đánh đổi, khác nhau về giá trị
Đường bàng quan
của sv không
được trợ cấp
Đường bàng
quan của sv
nghèo
Hiệu quả
Công bằng
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành
chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ. Ngoài trừ các
khoản chi của các quỹ ngoài ngân sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi
của ngân sách nhà nước hàng năm được quốc hội thông qua.
Sinh viên là đối tượng cần được quan tâm vì trong tương lai sinh viên là lực lượng lao
động có chất lượng, có khả năng tích lũy được tri thức, có
điều kiện đóng góp tăng năng
suất lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, có khả năng đóng thuế cao hơn, làm tăng ngân sách

Loans), đã được áp dụng ở Úc, Anh, Thụy Điển, Nam Phi, New Zealand trong khoảng
15 năm gần đây. SV sau khi ra trường xin được việc làm và có thu nhập cao hơn một
ngưỡng nào đó mới phải trả nợ. Mức chi trả tính theo phần trăm c
ủa phần thu nhập cao
hơn ngưỡng, gần giống như thuế thu nhập cá nhân vậy. Ví dụ, khi có việc với mức lương
1 triệu Đ/tháng thì chưa phải trả, khi mức lương 2 triệu Đ/tháng thì trả 20% của triệu thứ
hai chẳng hạn, nghĩa là trả 200.000 Đ/tháng. Như vậy, mức trả cho từng thời đoạn ở đây
là chưa xác định trước mà tùy thuộc vào mức thu nhập của người vay, cho đến khi hết nợ.
Nhưng sau 15 hay 20 năm nếu chưa trả hết, hoặc lỡ bị tai nạn không làm được việc nữa,
thì được xóa nợ. Còn về lãi suất, đa số chương trình của cả nhóm thứ nhất và nhóm thứ
hai đều có lãi suất thấp, ví dụ ở Trung Quốc chỉ khoảng 50% lãi suất thị trường, 50% lãi
suất còn lại được NN trợ cấp. Các chương trình cũng thường cho vay để trang trải một
phần chi phí ăn ở
Các chương trình thuộc nhóm thứ hai có đầy đủ các ưu điểm là: (1) không gây áp lực nợ
lên SV, họ chỉ phải trả khi họ đã có “khả năng chi trả”, (2) NN như đã gánh cho SV gần
hết những rủi ro, (3) SV được NN tài trợ trực tiếp qua mức lãi suất thấp, không chịu chi
phí vận hành quỹ cho vay và chi phí bù đắp rủi ro.
Ở các nước đang phát tri
ển việc kiểm soát thu nhập cá nhân còn hạn chế, nếu áp dụng các
chương trình cho vay nhóm thứ hai, thường có tỷ lệ thu hồi vốn thấp.
Bên cạnh đó có các chương trình trợ cấp cho giáo dục như:
Trợ cấp học phí: nhà nước trợ cấp một phần chi phí cho sinh viên các trường nhưng lại
dẫn đến sự phân phối thu nhập bình quân. Vì thu nhập trung bình của những người đi học
cao hơn người không đi học, vì vậy giúp đỡ họ là giúp cho những người khá giả hơn. Tác
động thuần túy của trợ giúp đối với phân phối thu nhập không rõ ràng: người giàu có phải
đóng nhiều thuế hơn, phải chịu phần chi phí lớn hơn nhưng lại nhận được phần lợi ích
lớn hơn. Mà đặc biệt là các trường công lập được trợ cấp nhiều hơn trong khi các trường
tư không được trợ cấp nhiều mà trong đó lại có nhiều trường hợp con em vùng sâu vùng
xa không có điều kiện học tập tốt nên chỉ vào được trường tư. Từ đó dẫn đến mất công
bằng trong xã hội. Mất công bằng giữa trường công và trường tư.

nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội. Trường hợp học sinh, sinh viên mồ côi cả ca
lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc m
ẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động,
được trực tiếp vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở.
2. Giao Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay đối với học sinh, sinh
viên.

2.1.3. Điều kiện vay vốn:
1. Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa
phương nơi cho vay có đủ các tiêu chuẩn.
2. Đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy
xác nhận được vào học của nhà trường.
3. Đối với học sinh, sinh viên năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường
về việc đ
ang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi:
cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.
2.1.4. Mức vốn cho vay:
9 Giai đoạn năm 2002 - 2007 : theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10
năm 2002 mức vay tối đa là 300.000đ/ sinh viên.
9 Giai đoạn 2007 – 2009: Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm
2007 mức vay tối đa là 800.000đ/ sinh viên.
9 Năm 2009: chính phủ điều chỉ
nh mức vốn vay tối đa là 860.000đ/ sinh viên.
9 Năm 2010: giữ nguyên mức vốn vay tối đa là 860.000đ/ sinh viên.
2.1.5. Thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày đối tượng được vay vốn bắt đầu
nhận vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) được ghi trong hợp đồng tín dụng. Thời
hạn cho vay bao gồm thời hạn phát tiền vay và thời hạn trả
nợ.
Thời hạn phát tiền vay là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng được vay vốn nhận

bao gồm chi tiêu cho ngành giáo dụ
c.
• Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc phân bổ lại ngân sách giáo dục của nhà
nước từ trường đại học sang các bậc học khác, đem lại lợi ích xã hội cao hơn.

2. Mở rộng hệ thống giáo dục đại học
• Tạo nguồn thu bổ sung từ học phí để trang trải một phần cho việc mở rộng khối
các trường đại học công lập.
• Mở rộng các trường đại học thông qua phát triển khối các trường đại học tư thục
(để giảm thiểu vai trò của nhà nước trong tài trợ cho sự mở rộng này).
3. Mụ
c tiêu xã hội (bình đẳng/ cơ hội tiếp cận cho người nghèo)
• Các khoản vay nhằm vào đối tượng sinh viên có nhu cầu.
• Trợ cấp chéo: hỗ trợ cho sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mức học phí cao
hơn.
4. Nhu cầu về nguồn nhân lực
Đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp cụ thể hoặc nguồn nhân lực khu vực.
5. Hỗ trợ sinh viên
• Giảm bớt khó khăn về
tài chính cho sinh viên trong quá trình học.
• Tăng cường trách nhiệm của sinh viên.
• Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên.

2.2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG CỦA CHƯƠNG
TRÌNH:
Tiêu chí đánh giá hiệu quả của chương trình: Chính sách tín dụng đối với HSSV nhằm hỗ
trợ cho các em HSSV thuộc diện có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi
của Nhà nước, góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt trong quá trình theo
học tại trường. Như vậy chương trình đạt được hiệu quả khi:
9 Không có sinh viên phải nghỉ học do không có tiền trang trải phí học tập, không

dụng này vẫn còn sai sót. Một số trường, cơ sở dạy nghề còn chưa thực hiện tốt công tác
trao đổi thông tin, thống kê số lượng học sinh, sinh viên được vay vốn và việc thực hiện
cam kết trả nợ.
Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận học sinh, sinh viên chưa hiểu hết ý nghĩa của việc sử dụng
vốn vay và trách nhiệm hoàn trả cùng gia đình.
Để bảo đảm việc triển khai Chương trình Tín dụng đối với học sinh, sinh viên năm học
2010-2011 phù hợp với tình hình thực tế, Chính phủ đã yêu c
ầu Bộ Tài chính phối hợp
với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng Chính sách Xã hội xác định cụ thể nhu cầu vay
của học sinh, sinh viên năm học 2010 – 2011, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết
định điều chỉnh mức cho vay phù hợp với mức học phí được điều chỉnh theo nhóm ngành
học.
Ngân hàng Chính sách Xã hội cần điều chỉnh mức cho vay đối tượng thuộc diện hộ cận
nghèo
để bảo đảm mức cho vay này thấp hơn mức cho vay đối tượng thuộc diện hộ
nghèo; thực hiện chỉ cho vay một lần với thời hạn không quá 12 tháng đối với học sinh,
sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính; tổ chức và triển khai việc thu tiền lãi các
khoản vay của học sinh, sinh viên đối với những trường hợp có điều kiện và tự nguyện đề
nghị trả lãi trong thời gian học sinh, sinh viên đang học.
2.4 . ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG ĐẠT ĐƯỢC
Sau 3 năm thực hiện chương trình tín dụng giành cho sinh viên đã thu được những hiệu
quả nhất định và sớm đi vào đời sống của mọi sinh viên, học sinh, của mọi nhà gia đình
có con em đã, đang, sắp vào đại học.
Nếu cách đây 3 năm, chương trình bắt đầu được thực hiện với 3 nỗi lo lớn nhất: cho vay
không đúng đối tượng, thủ tục rườm rà và thiếu nguồn v
ốn. Thì đến nay, sau khi hơn 1,9
triệu HSSV đã được vay vốn, nỗi lo đầu tiên được giải toả: tín dụng đã đến được với các
hộ gia đình nghèo là đối tượng trọng tâm của chương trình.
Không chỉ có hộ nghèo, Quyết định 157 còn mở rộng đối tượng được vay vốn tới các hộ
cận nghèo (có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức bình quân đầu

ận với quỹ khi
có nhu cầu?
Thủ tục bình quân kéo dài từ 1 tuần đến 1tháng. Việc HSSV làm hồ sơ vay vốn chủ yếu
tại địa phương, nhà trường chỉ nắm thông tin qua chính các HSSV được vay vốn báo lại.
Do đó, thiếu sự ràng buộc giữa HSSV với nhà trường, giữa gia đình, chính quyền địa
phương với các chi nhánh ngân hàng trong khi quan trọng nhất của thủ tục cho vay là yếu
tố ràng buộc người vay trả tiền để duy trì quỹ thì lại không hiệu quả. Một số trường
không có cơ sở thông tin để theo dõi và quản lý các đối tượng được vay vốn. Nhà trường
– đơn vị quản lý HSSV chỉ có việc xác nhận HSSV đang theo học tại trường và hoàn toàn
không có nhiệm vụ, trách nhiệm nào khác. Sau khi ký giấy xác nhận, SV có được duyệt
hay không và được vay bao nhiêu thì nhà trường hoàn toàn không biết. Không chỉ vậy,
trong công tác thu hồi nợ vẫn chưa có một văn bản nào quy định cụ thể, rõ ràng cho một
tổ ch
ức, đơn vị nào phải chịu trách nhiệm quản lý giấy cam kết trả nợ của HSSV
Các biến dạng của chương trình đã và đang xảy ra khiến cả hiệu quả và công bằng đều
không đạt được
• Sai đối tượng cho vay: không đạt được hiệu quả cho vay đúng đối tượng, trợ cấp
cho người giàu không mang tính phân phối lại thu nhập, trở thành phân phối
ngược vì khi đó người giàu càng có
điều kiện học tập hơn, cơ hội trong tương lai
kiếm được việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn sẽ càng giàu hơn. Ngược lại người
nghèo, bị người giàu chiếm mất cỗ vay, không có điều kiện học tập thoát khỏi
nghèo mà lại càng nghèo hơn.
• Thời gian trả nợ: Chương trình cho vay cố định vì vậy áp lực trả nợ là rất lớn đối
v
ới sinh viên ngay sau khi ra trường, dẫn tới họ có thể không chịu trả nợ, ảnh
hưởng tới tình bền vững của nguồn vốn vay.
• Khả năng kiếm được việc làm: tình hình kinh tế của nước ta là một nước đang
phát triển, do đó sinh viên khi mơi ra trường cơ hội kiếm được một việc làm là
không cao, tác động tới khả năng, thời gian trả nợ của sinh viên, người nghèo

bản và nghiên cứu….
Học tập kinh nghiệm quản lý ngân sách, thu hồi vốn của nước ngoài.
Hiện nay, ngân sách nhà nước (ngân sách công) vẫn còn là nguồn tài chính chủ yếu để hỗ
trợ cho giáo dụ
c đại học trong phần lớn các nước, do đó trong xu thế hiện nay cần chủ
động tìm nhiều nguồn hỗ tợ khác từ bên ngoài để đầu tư cho giáo duc,. Điều này cũng
đồng nghĩa với sự năng động sáng tạo của lãnh đạo các trường đại học và đây cũng là
điều kiện để dễ thực hiện và hướng đến sự công bằng trong giáo dục nói riêng, công bằng
xã hội nói chung.
Nhà nước có một cơ quan độc lập lo việc này và chấp nhận một mức “thất thoát” nào đó
trong việc thu hồi nợ Tất nhiên, bên cạnh chương trình cho SV vay vốn vẫn phải ti
ếp
tục duy trì những giải pháp tài trợ SV truyền thống đã có lâu nay.
Có thể kéo dài thời gian trả nợ cho nợ cho sinh viên khó khăn về việc làm thu nhập còn
thấp.
b) Người vay vốn:
• Có tinh thần nghĩa vụ với khoản vay nợ.
• Có tinh thần học tập, phấn đấu, chủ động tìm kiếm việc làm có thu nhập thoát khỏi
cuộc sống phụ thuộc và trả nợ đúng hạn quy
định.
• Khai báo thông tin đúng sự thật về hoàn cảnh gia đình, sử dụng vốn vay đúng mục
đích, hợp lý.
c) Cho tư nhân tham gia cung cấp hàng hóa giáo dục đại học
Hầu hết các nước trên thế giới đều cho tư nhân tham gia vào việc cung cấp hàng hóa giáo
dục , nhưng chỉ có ở việt nam các trường học tư được thu học phí tự do, hoạt động theo
luật doanh nghiệp do đó họ luôn tìm cách tối đa hóa l
ợ nhuận như vậy mặc dù để trường
học tư tham có nhiều mặt tích cực nhưng sẽ không có tính phân phối lại thu nhập nữa.
giáo dục trở thành hàng hóa tư. Để khắc phục điều này đồng thời nâng cao chất lượng
giáo dục chính phủ nên để cho trường tư tham gia nhưng cần quy định giá trần học phí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status