skkn dạy học thơ trữ tình trung đại việt nam ở lớp 11 theo hướng tích cực hoạt động học tập của học sinh - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT TRƯƠNG VĨNH KÝ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT
NAM Ở LỚP 11 THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: Đặng Văn Ngọc
1
Đồng Nai: 5/2014
MỤC LỤC
Trang
DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Ở LỚP 11
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH 4
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1. Tình hình nghiên cứu dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam 5
2. Tình hình nghiên cứu tính tích cực học tập 7
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 7
1.Khái niệm tính tích cực (TTC). 7
1.1.Tính tích cực học tập 8
1.2. Sự hình thành tính tích cực học tập 9
1.3. Các mức độ và biểu hiện của tính tích cực học tập 12
2. Dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại 13
2.2. Đặc trưng thi pháp của thể loại trữ nh trung đại Việt Nam 15
3. Những biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong
dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 11 THPT 21
3.1. Hướng dẫn học sinh biết cách tự làm việc với sách giáo khoa 21
3.2. Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo trong dạy học thơ

lý luận dạy học trên thế giới đã khẳng định vai trò to lớn và ý nghĩa quan
trọng của xu hướng dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của người học đối với quá trình nhận thức và giáo dục nhân cách cho thế hệ
trẻ.
3. Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung
đại Việt Nam theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là
một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy
học văn cũng như nhiều giáo viên giảng dạy văn học quan tâm.
Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THPT
chúng tôi nhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các
tác phẩm văn học trung đại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách
chúng ta hơn mười thế kỉ, đến với thế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ
XXI đã có khoảng cách về thời gian. Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn
trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứng thú, không tích cực trong giờ học
những bài văn học cổ. Vấn đề đặt ra là phải có những biện pháp tối ưu
nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập
thơ trữ tình trung đại Việt Nam.
4
Chọn đề tài: " Dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 11 theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh", chúng tôi muốn đi
sâu tìm hiểu, cụ thể hoá vấn đề lí luận về phương pháp dạy học theo hướng
tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học thơ trữ tình
trung đại Việt Nam, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học môn ngữ
văn ở trường THPT.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Tình hình nghiên cứu dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam.
Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là
một trong những giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ của văn học
Việt Nam. Trong chương trình văn học phổ thông, văn học trung đại đưa
vào giảng dạy và học tập chiếm một phần không nhỏ. Chính vì vậy việc

trước tiên phải hiểu nghĩa của từ cổ" [16]. Theo các tác giả, để lĩnh hội
nghĩa ngôn từ thơ cổ, người học cần phải chú ý tới các vấn đề: phải tích
luỹ cho mình vốn từ phong phú, đa dạng, có tri thức về những cách dùng từ
trong thơ cổ.
Trong công trình này, các tác giả đã cung cấp những tri thức cần thiết
giúp những người dạy học văn có thêm kiến thức về thơ cổ.
Việc dạy học văn thơ trung đại nói chung và thơ trữ tình trung đại nói
riêng đã được các nhà nghiên cứu và nhiều giáo viên quan tâm. Các tác giả
trong các công trình nghiên cứu đã đóng góp những kiến thức bổ ích giúp
người giáo viên vận dụng, cảm thụ, giảng dạy thơ cổ một cách có hiệu quả
hơn. Tuy nhiên, vấn đề làm thế nào để phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo của học sinh trong dạy học thơ cổ chưa được bàn kỹ. Nghiên cứu
đề tài này chúng tôi muốn đi sâu vào việc dạy học thơ trữ tình trung đại
Việt Nam theo hướng tích cực hoá hoạt động
của học sinh.
6
2. Tình hình nghiên cứu tính tích cực học tập.
Tư tưởng về TTC học tập của người học đã có từ rất lâu. Ngay từ thời
cổ đại, các nhà sư phạm lỗi lạc đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề
và đã bàn nhiều đến biện pháp phát huy tích tích cực của người học.
+ Ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp Xô-crát đã đề ra phương pháp
phát kiến Ơristic. Với phương pháp này người thầy giáo dẫn dắt, gợi mở
để học sinh tìm chân lý, hình thành tính tự lực và phát huy trí lực của họ.
+ Ở phương Đông, Khổng Tử với tư cách là người thầy giáo đã rất
coi trọng mặt suy nghĩ của học sinh. Tư Mã Thiên viết sử ký đã nhận xét
về Khổng Tử: "Khi người ta chưa cảm thấy tức tối muốn biết thì Khổng Tử
chưa giảng. Khi nêu một góc mà người ta chưa thấy ba góc kia thì Phu Tử
chưa dạy".
Ở Việt Nam, một số nhà lý luận dạy học cũng đã viết khá nhiều về
vấn đề phát huy TTC học tập như: GS.Trần Bá Hoành, GS.TS Nguyễn

nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bản thân mình, đối với mọi người và xã
hội. Muốn vậy, mỗi người phải tích cực, tự chủ, sáng tạo. Như vậy, TTC
được xem là phẩm chất vốn có của con người, là năng lực tác động qua lại
của con người với môi trường xung quanh.
1.1.Tính tích cực học tập.
Hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động học tập của học
sinh có những nét tương đồng, đều nhận thức hiện thực khách quan, cách
nhận thức mang tính chủ quan. Hoạt động học tập của học sinh cũng giống
như với nhà khoa học ở sự nghiên cứu tìm tòi khám phá. Song ở quá trình
học tập của học sinh luôn có sự hướng dẫn của giáo viên. Chính vì vậy,
8
chúng ta có thể khẳng định rằng bản chất hoạt động học là quá trình nhận
thức của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Theo GS. Trần Bá Hoành: Tính tích cực của con người biểu hiện trong
hành động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể. Học tập
là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. TTC trong hoạt động học tập về
thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí
tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình
nhận thức trong học tập không nhằm phát hiện những điều loài người
chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích luỹ được.
Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải khám phá ra những hiểu biết
mới đối với bản thân. Học sinh sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm
được qua hoạt động chủ động nỗ lực của chính mình. Đó là chưa nói, lên tới
một trình độ nhất định, thì sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu
khoa học và người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học.
Tóm lại TTC nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể với đối tượng
nhận thức thông qua sự huy động tới mức tối đa các chức năng tâm lý, trong
đó có tính độc lập, tư duy sáng tạo và toàn bộ nhân cách của chủ thể được
phát triển. Như vậy đồng thời với việc cải tạo đối tượng nhận thức thì chủ

cực học tập. Chính kết quả học tập thu được lại có tác dụng củng cố, nâng
cao động cơ .
Động cơ học tập đòi hỏi sự nuôi dưỡng thường xuyên để tạo ra hiệu
quả học tập bền vững.
1.2.2. Hứng thú học tập.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Kết qủa học tập của học sinh phụ
thuộc rất nhiều vào thái độ của các em đối với nghĩa vụ học tập hay chính là
phụ thuộc vào hứng thú học tập. Các nhà giáo dục học thuộc tất cả các thời
đại đều có khuynh hướng tìm kiếm những biện pháp giáo dục cho trẻ tinh
10
thần cố gắng học tập. Trong nhà trường cũ, người ta đặt lên hàng đầu những
biện pháp cưỡng bức, hăm doạ, thậm chí trừng phạt người học sinh lời
biếng. Khi việc học tập không hề có hứng thú mà chỉ do sức mạnh bắt buộc
thì sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn.
Trong hứng thú có cảm xúc, ý trí và các quá trình nhận thức. Cảm xúc
(niềm thích thú, đam mê) là yếu tố rất quan trọng, nó vừa là điều kiện, vừa
là biểu hiện rõ rệt nhất của hứng thú. Cảm xúc sẽ thúc đẩy các hành động ý
trí để giúp cho chủ thể đạt được mục đích của hoạt động. Do đó hứng thú
làm nâng cao tính tích cực cá nhân và làm tăng hiệu quả của quá trình nhận
thức. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng sáng tạo và được phát triển mạnh
mẽ biến thành nhu cầu thúc đẩy cá nhân hành động để thoả mãn. Hành
động như vậy thường được tiến hành một cách tự giác tích cực, mang lại
hiệu quả cao.
Khi học sinh hứng thú học tập, họ thường tò mò, ham hiểu biết, hay
thắc mắc, mong muốn được tìm hiểu sâu những vấn đề chưa rõ trong
học tập thể hiện sự tích cực và sáng tạo. Những học sinh có hứng thú
thường phát huy những sáng kiến, thích khám phá, tạo ra những điều mới
lạ.
Hứng thú học tập là một nhân tố rất quan trọng và cần thiết đối với việc
hình thành và phát triển tính tích cực học tập của học sinh. Nhưng hứng

- Về mặt cảm xúc: Người học sinh có tính tích cực luôn tỏ ra hào
hứng với việc học tập. Họ luôn tìm thấy niềm vui, thậm chí cả niềm đam
mê của mình trong quá trình học tập.
- Về mặt thái độ: biểu hiện ở sự chăm chú nghe giảng, hăng hái phát
biểu ý kiến, trả lời câu hỏi của giáo viên, nhiệt tình bổ sung những câu trả
lời của bạn, sốt sắng thực hiện những yêu cầu của giáo viên, sẵn sàng đối
thoại với thầy với bạn về vấn đề học tập, kiên trì đến cùng để hoàn thành
các bài tập.
- Về mặt hoạt động: thực hiện đầy đủ những yêu cầu của giáo viên,
12
biết nêu lên những thắc mắc, đòi hỏi giáo viên giải thích cặn kẽ những vấn
đề chưa rõ, chủ động vận dụng kiến thức đã học để nhận thức vấn đề mới;
luôn sử dụng các thao tác tư duy với cường độ mạnh; biết vạch ra mục tiêu
kế hoạch hoạt động; có kĩ năng thực hành tốt.
Ngoài những biểu hiện nói trên, trong dạy học tác phẩm văn chương
khi người học sinh có tính tích cực trong học tập, họ còn biểu hiện ở những
dấu hiệu như: huy động tối đa sức liên tưởng, tưởng tượng để sống với thế
giới hình tượng trong tác phẩm văn chương; khám phá ra những tầng ý
nghĩa mới của tác phẩm; biết phát biểu những vấn đề liên quan đến cuộc
sống; kĩ năng vận dụng kiến thức bài làm tốt; chịu khó sưu tầm tài liệu liên
quan đến bài học; ngoài kiến thức từ bài giảng, từ sách giáo khoa học sinh
biết bổ sung tri thức cho mình từ những kênh thông tin khác như báo chí;
đài phát thanh, truyền hình
Như vậy, những biểu hiện nêu trên của tính tích cực là sự thể hiện cụ thể
của tính tự giác, tính độc lập trong tư duy và trong hoạt động của học sinh.
Nói cách khác, dấu hiệu chung nhất của tính tích cực học tập của học sinh
là sự tự giác, sự độc lập trong tư duy và trong hoạt động. Chúng góp phần rất
lớn vào sự phát triển ý chí cho các em. Hành động độc lập và tư duy độc lập
đòi hỏi những cố gắng lớn và phải khắc phục khó khăn, do đó đồng thời
chúng trau dồi cho các em tính kiên trì nhẫn lại, trong việc khắc phục khó

dùng chữ Nôm trong sáng tác; Việt hóa thể thơ Đường luật, thất ngôn xen
lục ngôn sáng tạo các thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, các thể
ngâm khúc, truyện thơ, hát nói; sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của
nhân dân trong sáng tác.
Suốt mười thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã phát triển trong sự
gắn bó với vận mệnh đất nước, nhân dân. Cùng với văn học dân gian, văn
học trung đại góp phần làm nên diện mạo hoàn chỉnh và đa dạng của văn
học dân tộc ngay từ buổi đầu, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của
14
văn học ở những thời kì sau [27].
2.2. Đặc trưng thi pháp của thể loại trữ tình trung đại Việt Nam.
Thi pháp của thơ trước nay đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng từ
phương diện hình thức ngôn từ: vần, nhịp, luật bằng trắc, niêm, đối, và đã
có nhiều công trình đúc kết hệ thống hóa như Việt Hán văn khảo; Việt Nam
văn học sử yếu; thơ ca Việt Nam; hình thức và thể loại. Giáo sư Trần Đình
Sử trong cuốn: " Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam" đã phác
họa về mô hình thơ trung đại Việt Nam, mô hình đã thống nhất với các
hình thức ngôn từ để tạo ra diện mạo thơ trữ tình trung đại và gắn liền với ý
thức thể loại.
Về cách biểu hiện chủ thể của nhà thơ trong thơ trung đại
Như nhiều nhà nghiên cứu so sánh đã chỉ ra điểm khác biệt của thơ
truyền thống Trung Quốc (và đây cũng là đặc điểm của thơ trung đại Việt
Nam) so với thơ trữ tình phương Tây là sự thiếu vắng cách biểu thị trực tiếp
chủ thể trữ tình dưới dạng thức " tôi", "ta", "chúng ta". Câu thơ do đó
thường vắng chủ từ biểu thị chủ thể, tạo một sự cảm nhận mơ hồ, phiếm chỉ,
một chủ thể có tính tổng hợp.
Chủ thể hiện diện qua các động từ biểu hiện cảm giác và động tác trữ
tình: Trông, nghe, cúi đầu, quắc mắt, cười, khóc…Chủ thể nhà thơ trong thơ
là một người cảm nhận tĩnh tại thuần túy. Những dấu hiệu ấy tạo thành thế
giới chủ thể trong bài thơ.

Cùng với con người sử thi là con người khí tiết, giữ mình trong sạch.
Những con người này tuy có trí quy ẩn nhưng vẫn nặng lòng lo cho đất
nước. Đây là hình bóng con người kẻ sĩ, cao sĩ, biết thời thế, biết ưu hoạn,
có khí tiết, một kiểu con người mới trong thơ.
- Giai đoạn từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII: Thơ văn có thay đổi
lớn, thành phần văn học Nôm đã tạo thành tác phẩm. Tác giả là Nguyễn
16
Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Trong thơ Nguyễn Trãi có
nhiều bài bộc lộ cảm thức trực giác; thơ Lê Thánh Tông, Hội Tao đàn,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, tính chất duy lý và giáo huấn ngày càng đậm.
- Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX: Nét đặc trưng về quan
niệm con người trong thơ trữ tình giai đoạn này là nhu cầu tự nhiên của
con người được khẳng định: chữ thân , chữ tài, chữ tình trở thành khái
niệm để con người tự ý thức về chính mình. Giai đoạn văn học này là giai
đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất trong văn học trung đại Việt Nam.
Riêng với lĩnh vực thơ trữ tình, con người đã được thể hiện qua
những phương diện mới:
+ Khác với giai đoạn trước, giờ đây con người trần tục, nhục cảm đã
xuất hiện trong thơ để khẳng định nhu cầu sống tự nhiên của con người.
+ Cùng với ý thức về quyền sống, ý thức về số phận con người được
nêu cao. Những nỗi buồn, nỗi oan, nỗi hận trong các số phận oan trái trở
thành niềm day dứt thổn thức của nhà thơ.
+ Ý thức cá nhân, cá tính, tài năng cũng được khẳng định trong thơ
trung đại.
Thơ Hồ Xuân Hương và thơ Nguyễn Công Trứ cho ta ý niệm về kích
thước của con người cá nhân trong thơ trung đại Việt Nam. Khuynh hướng
phi nho hóa ngày càng phát triển và càng tỏ ra thị dân trong thơ Tú
Xương và Nguyễn Khuyến.
Thời gian và không gian nghệ thuật trong thơ
- Thời gian nghệ thuật trong thơ

Trong thơ, các dấu tích lịch sử được cảm nhận như cùng tồn tại trong
hiện tại, trong không gian. Phạm Ngũ Lão trong bài Thuật Hoài nhắc đến
Vũ Hầu như là người cùng thời (Luống thẹn tai nghe nói Vũ Hầu), Đặng
Dung nhắc tới Đồ điếu mà không thấy xa xưa.
Thời gian lịch sử vừa có tính chất không gian hóa vừa trôi qua vô tình.
Cảm giác về sự trôi chảy của thời gian, sự mai một của những thời đại ra
18
đi không trở lại thể hiên rõ trong thơ Nguyễn Du (Cổ kim vị kiến thiên
niên quốc) và nhất là trong thơ Bà Huyện Thanh Quan (Thăng Long thành
hoài cổ, Qua chùa Trấn Quốc…).
+ Thời gian con người trong thơ ca: Trong thơ ca trung đại Việt Nam,
ở thơ thiền đời Lý thời gian cá thể được cảm nhận bằng cách phủ nhận,
vượt qua. Đời Trần vang lên mô típ tiếc đời qua mau (Quốc thù chưa trả đầu
bạc trước).
Không gian nghệ thuật trong thơ
- Những đặc điểm chung về cảm thụ không gian trong thơ trung đại:
Trong cảm thụ không gian thời trung đại, không gian vũ trụ chiếm vị trí ưu
thế.
Không gian được hình dung theo các cách: Con người cảm thụ là
trung tâm (cúi, ngẩng, nhìn bốn phía); theo thứ bậc trên dưới (thượng giới,
trần gian, địa phủ); ý thức về vị trí của mình trong thế giới, tương quan với
môi trường xung quanh.
Quy mô không gian có ý nghĩa đặc biệt để biểu hiện sức mạnh tâm
hồn. Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ ca cổ điển có các động tác: dăng
cao, vọng viễn, ngoái đầu, tứ vong…
Không gian trong thơ là không gian mộng tưởng. Nó hiện ra trong
trạng thái nửa thức, nửa ngủ, nửa thực, nửa hư…
- Không gian nhàn tản thoát tục: Không gian vũ trụ là đặc trưng cảm
nhận thế giới của người trung đại. Nhưng trong thơ, không gian gắn với thế
giới thoát tục.

khỏi không gian nghệ thuật truyền thống. Thơ ông không còn sơn, thủy,
tùng, cúc…mà là phố xá, cao lâu, nơi chợ búa, buôn bán…
Thơ Tú Xương đánh dấu sự phai nhạt của không gian nghệ thuật
truyền thống mở ra không gian sinh hoạt đời thường, đô thị.
20
Những ý kiến trên của GS. Trần Đình Sử giúp cho những người dạy
văn hiểu rõ hơn đặc trưng thi pháp của thơ trung đại Việt Nam, để từ đó có
hướng dạy phù hợp với đặc trưng thể loại.
3. Những biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong
dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở lớp 11 THPT.
Căn cứ vào thực trạng của việc dạy học thơ trữ tình trung đại Việt
Nam ở các trường THPT, căn cứ vào đặc trưng thi pháp thơ trữ tình trung
đại Việt Nam trong nhà trường, căn cứ vào lí luận về đổi mới phương pháp
dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam trong nhà trường. Chúng tôi xin đề
xuất một số biện pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
trong dạy học thơ trữ tình trung đại Việt Nam như sau:
3.1. Hướng dẫn học sinh biết cách tự làm việc với sách giáo khoa.
3.1.1. Làm việc với sách giáo khoa trước giờ lên lớp.
Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy khâu
chuẩn bị bài ở nhà của học sinh thường không được chú trọng một cách
thích đáng, giáo viên không hướng dẫn cụ thể cho học sinh mà chỉ yêu cầu
các em trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa, hoặc chỉ dành ít phút cuối
cùng của giờ học, giáo viên dặn dò học sinh học bài và chuẩn bị bài mới.
Chính vì vậy, việc chuẩn bị bài của học sinh ở nhà thường không ăn khớp
hoặc ít liên quan đến hoạt động của thầy trò ở trên lớp.
GS Phan Trọng Luận đã chỉ ra tầm quan trọng của khâu chuẩn bị bài
như sau: " Chuẩn bị bài ở nhà là bước tập dượt cho sự cảm thụ trên lớp
được sâu sắc hơn. Bằng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm văn học của bản
thân, học sinh trực tiếp đi vào thế giới tác phẩm. Trên cơ sở cảm thụ trực
tiếp tươi mát đó của học sinh về tác phẩm, giáo viên sẽ khơi sâu phát triển

cận một bài thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở các yếu tố sau:
-Thể loại, kết cấu của bài thơ và cách khai thác phân tích bài thơ. Khi
22
dạy bài " Tự tình" của Hồ Xuân Hương trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11
tập I, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tiếp cận theo hướng kết cấu ngang
(đề, thực, luận, kết) ( khai, thừa, chuyển, hợp) hoặc theo hai phần ( bốn câu
thơ đầu, bốn câu thơ cuối).
- Nêu các tình huống có vấn đề. Về cơ bản, giáo viên không nói thay
học sinh mà cần khuyến khích sự suy nghĩ độc lập của học sinh. Muốn tạo
cho học sinh có được suy nghĩ độc lập, giáo viên phải nêu lên các tình
huống có vấn đề. Chẳng hạn khi dạy bài: "Vịnh khoa thi hương" của Trần
Tế Xương trong sách giáo khoa Ngữ Văn 11 tập I, chúng tôi đặt ra các tình
huống, các câu hỏi cho học sinh suy nghĩ trả lời : Em hãy cho biết nét đặc
sắc trong các cặp đối có trong bài thể hiện điều gì? Hình ảnh quan sứ
( Công sứ Nam Định và vợ- mụ đầm- người đàn bà Châu Âu) được đón
tiếp như thế nào? Người dạy đặt vấn đề: Ở bài khác, Trần Tế Xương viết:
" Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng" qua đây
em hiểu gì về phong cách ngôn ngữ và thái độ của tác giả?. Việc đặt câu
hỏi đối với học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay
đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở ra tình huống "có vấn
đề", xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận
thức. 3.1.3. Làm việc với sách giáo khoa sau giờ học.
Đây là việc học sinh đọc lại sách giáo khoa sau khi đã học ở trên lớp,
dưói sự hướng dẫn của giáo viên nhằm củng cố, bổ sung kiến thức để giải
quyết đầy đủ hơn các bài tập mà sách giáo khoa yêu cầu bằng hệ thống kiến
thức tổng hợp đã chiếm lĩnh được từ trước. Tuy nhiên, cần hiểu làm việc
với sách giáo khoa sau giờ họckhông đơn thuần là đọc lại tác phẩm, củng
cố và ôn lại kiến thức mà đọc với một cấp độ cao hơn so với những giai
đoạn trước. Trên cơ sở ấy, các em sẽ vận dụng cách ghi chép, cách xây
dựng đề cương và vận dụng nội dung tri thức. Ngoài ra các em còn biết lập

* Các dạng câu hỏi liên tưởng tưởng tượng:
- Liên tưởng hiện thực xác định của tác phẩm trong quan hệ của đời sống xã
24
hội.
- Liên tưởng mối liên hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, giữa không gian và
thời gian nghệ thuật, giữa các nhân vật với nhau và với hoàn cảnh điển hình.
- Liên tưởng mối liên hệ giữa các chi tiết nghệ thuật, giữa các tình huống
nghệ thuật, giữa các điểm sáng thẩm mỹ cùng chiều, cùng điểm sáng thẩm
mỹ ngược chiều, khác bình diện.
- Tưởng tượng về khả năng phát triển của hình tượng nghệ thuật trung tâm.
- Liên tưởng hình ảnh, hình tượng, biểu tượng của tác phẩm này với tác
phẩm khác.
- Liên tưởng giọng điệu của tác giả với thái độ tư tưởng, quan điểm nghệ
thuật của tác giả.
- Tưởng tượng tâm trạng của tác giả khi lựa chọn một chi tiết hay một số
hình ảnh tiêu biểu của tác phẩm.
- Liên tưởng và tưởng tượng điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu quả
nghệ thuật của tác phẩm.
* Ví dụ:hệ thống câu hỏi khi dạy học bài "Tự tình" của Hồ Xuân Hương (
SGK Ngữ văn 11).
- Em hãy tìm một số câu thơ nói về tâm sự của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến?
( Câu hỏi tái hiện).
- Không gian, thời gian đã nói lên tâm cảnh của tác giả như thế nào?
(Câu hỏi phân tích).
Trong bài thơ " Tự tình I", "Tự tình III" cho thấy tâm trạng của Hồ Xuân
Hương ra sao?
(Câu hỏi so sánh).
- Tính cách của Hồ Xuân Hương được thể hiện qua những từ ngữ, nghệ
thuật nào? Hãy phân tích?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status