Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN HẬU CẦN
VŨ THỊ THANH HƯƠNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN TOÀN CẦU KHẢI MINH
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Phan Duy Minh
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Hương
CHỮ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
ĐTLĐ Đối tượng lao động
HQKD Hiệu quả kinh doanh
KD Kinh doanh
SLĐ Sức lao động
SXKD Sản xuất kinh doanh
TLLĐ Tư liệu lao động
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSLĐ Tài sản lưu động
VCĐ Vốn cố định

2.1. Khái quát về công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh 34
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển công ty 34
2.1.2. Những loại hình dịch vụ mà công ty cung cấp 35
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 36
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của
Công ty
38
2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty 42
2.2.1. Thực trạng quản lý vốn của Công ty 42
2.2.2. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty 52
5
2.3. Đánh giá khái quát hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 62
2.3.1. Những kết quả đạt được 62
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 64
Kết luận Chương 2 67
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN TOÀN CẦU KHẢI MINH
68
3.1. Định hướng phát triển của Công ty 68
3.1.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của Công ty
68
3.1.2. Định hướng của Công ty thời gian tới 69
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
Công ty
70
3.2.1. Chủ động trong công tác huy động và sử dụng vốn kinh
doanh
70

nhiều doanh nghiệp với sức ì lớn đã không có được sự thay đổi kịp thời dẫn
đến tình trạng thua lỗ, phá sản. Tuy nhiên một lý do phải kể đến và là một
trong những nguyên nhân chính là do công tác quản lý vốn kinh doanh của
doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy vấn đề rất quan trọng đặt ra
với các doanh nghiệp
8
hiện nay là phải xác định và đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về vốn và sử
dụng vốn đó sao cho có hiệu quả.
Xuất phát từ ý nghĩa to lớn của hiệu quả vốn kinh doanh đối với doanh
nghiệp, tác giả quyết định chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của Công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh” để nghiên cứu cho luận
văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận vốn và hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh tại Công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh, đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty trong thời gian tới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa, thu thập, tổng hợp, xử lý và sử dụng thông tin, tài liệu
phù hợp, kết hợp giữa lý luận, kiến thức khoa học quản lý kinh tế - tài chính
với thực tiễn để nhằm mục đích đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn phù hợp và có tác dụng thiết thực đối với Công ty TNHH
Toàn Cầu Khải Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng
vốn
kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
- Phạm vi nghiên cứu là tại Công ty TNHH Toàn Cầu Khải Minh giai
đoạn 2011 – 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu

tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành
phẩm… khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình
thái tiền tệ. Như vậy, với số vốn ban đầu, nó không chỉ được bảo tồn mà còn
được tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi.
Như vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm mục đích sinh lời.
Doanh nghiệp muốn phát triển được thì số tiền thu được do tiêu thụ các
sản phẩm phải đảm bảo bù đắp được toàn bộ các chi phí bỏ ra và có một phần
lợi nhuận, muốn vậy số tiền bỏ ra ban đầu phải được sử dụng một cách có
hiệu quả.
11
Quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện một
cách liên tục và không ngừng, tạo ra một vòng tuần hoàn và chu chuyển vốn.
K.Mark đã mô tả quá trình chu chuyển của tư bản theo mô hình sau:
T - H…SX…H’- T’
Vòng tuần hoàn của vốn được bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) chuyển
sang hình thái hàng hóa (H) ở các dạng TLLĐ và ĐTLĐ, qua quá trình sản
xuất vốn được biểu hiện dưới hình thái hàng hóa (H’) và cuối cùng lại trở về
hình thái tiền tệ (T’). Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức
khách nhau trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông nên vốn còn là biểu hiện của
những tài sản vô hình như: bằng sáng chế, phát minh, bản quyền tác giả, lợi
thế thương mại.
- Đặc trưng của vốn kinh doanh
+ Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa vốn
là sự biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: Nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế Với tư cách này
các tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mất
đi mà thu hồi được giá trị.

cổ phiếu, góp vốn liên doanh liên kết
+ Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hôm nay có giá trị hơn giá
trị đồng tiền ngày hôm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị Trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, vấn đề này không được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo ra sự ổn
định của đồng tiền một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế
13
thị trường cần phải xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, bởi do ảnh
hưởng sự biến động của giá cả thị trường, lạm phát nên sức mua của đồng
tiền ở các thời điểm là khác nhau.
+ Vốn là loại hàng hoá đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa
vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì vay. Nghĩa là những người
đi vay được quyền sử dụng vốn của người cho vay. Người đi vay phải mất
một khoản tiền trả cho người vay. Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà
người đi vay phải trả cho người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của
quyền sử dụng vốn. Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, “hàng hoá
vốn” khi bán đi sẽ không mất quyền sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong
một thời gian nhất định. Việc mua bán này diễn ra trên thị trường tài chính,
giá mua bán tuân theo quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường.
+ Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền
của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô
hình như: Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền, phát
minh sáng chế, bí quyết công nghệ Cùng với sự phát triển của kinh tế thị
trường thì khoa học kỹ thuật, công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Điều này
làm cho tài sản vô hình ngày càng đa dạng phong phú, đóng góp một phần
không nhỏ trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Từ những đặc trưng trên cho phép ta phân biệt giữa tiền và vốn: một số
quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp và vốn. Vốn kinh doanh được sử dụng cho
hoạt động sản xuất kinh doanh tức là cho mục đích tích luỹ chứ không phải
mục đích tiêu dùng như một số quỹ khác trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh

đặc biệt quan trọng. Vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp, là cơ sở
để doanh nghiệp mở rộng quy mô SXKD, tạo công ăn việc làm cho người lao
15
động, tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất kinh doanh.
Nếu thiếu vốn thì qúa trình SXKD của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ, đồng
thời kéo theo hàng loạt các tác động tiêu cực khác đến bản thân doanh nghiệp
và đời sống của người lao động. Vai trò của vốn được thể hiện rõ nét trên các
mặt sau:
- Về mặt pháp lý: Một doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện
đầu tiên là doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định mà lượng vốn này
tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh
nghiệp mới được xác lập. Trong trường hợp quá trình SXKD, vốn doanh
nghiệp không đạt được điều kiện của pháp luật quy định thì hoạt động SXKD
đó sẽ bị chấm dứt như: phá sản hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Như vậy, có thể
xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tư cách
pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
- Về mặt kinh tế: Trong hoạt động SXKD, vốn là một trong những yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó không những đảm
bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ
cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động SXKD được diễn ra
thường xuyên và liên tục. Vốn bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh
được diễn ra liên tục, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên
thị trường, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay - một nền kinh tế phát triển theo
xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập. Ngoài ra, vốn còn là một trong những điều
kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động,
nguồn hàng hoá, mở rộng, phát triển trên thị trường, mở rộng lưu thông và
tiêu thụ hàng hoá, là chất keo dính kết quá trình và quan hệ kinh tế, là dầu bôi
trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động. Trong quá trình SXKD, vốn tham gia vào
tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và cuối cùng nó lại trở về hình thái
ban đầu là tiền tệ. Như vậy, sự luân chuyển vốn giúp doanh nghiệp thực hiện

+ Vốn bổ sung: là vốn chủ yếu do doanh nghiệp được lấy một phần từ
lợi nhuận để lại doanh nghiệp. Nó được thực hiện dưới hình thức lấy một
phần từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính. Ngoài ra đối với doanh
nghiệp Nhà nước, còn được để lại toàn bộ số khấu hao cơ bản tài sản cố định
để đầu tư, thay thế đổi mới tài sản cố định. Đây là nguồn tự tài trợ cho nhu
cầu vốn của doanh nghiệp.
- Nợ phải trả:
Là khoản vốn đầu tư được hình thành từ nguồn vốn vay, chiếm dụng từ
các đơn vị cá nhân, sau một thời gian nhất định Doanh nghiệp phải hoàn trả
cho người cho vay cả gốc lẫn lãi. Vốn vay có thể sử dụng hai nguồn chính:
Vay của các tổ chức tài chính và phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều vốn vay thì mức độ rủi ro càng cao,
nhưng để phục vụ SXKD thì đây là một nguồn vốn cần thiết, mức độ huy
động tuỳ thuộc vào khả năng thế chấp và tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp.
Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên
để đảm bảo cho nhu cầu Vốn kinh doanh của doanh nghiệp, để kết hợp hai
nguồn vốn này phụ thuộc vào ngành mà doanh nghiệp hoạt động cũng như
quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh
tế cũng như tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
1.1.3.2. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn
Theo căn cứ này vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại là vốn lưu
động và vốn cố định.
- Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, TSCĐ dùng trong
kinh doanh, tham gia hoàn toàn vào quá trình SXKD nhưng về mặt giá trị thì
chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ SXKD.
18
VCĐ biểu hiện dưới hai hình thái:
+ Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ TSCĐ dùng trong SXKD của các
doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ

được tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó, doanh nghiệp chọn cho mình một
cơ cấu vốn phù hợp.
1.1.3.3. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo tiêu thức này, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành hai
nguồn: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
+ Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mang tính chất lâu dài và ổn
định mà doanh nghiệp có thể sử dụng, nguồn này được dùng cho việc hình
thành tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho doanh nghiệp, nguồn vốn
thường xuyên bao gồm nguồn vốn riêng và các khoản vay dài hạn.
+ Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng cho nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Tài sản = Tài sản lưu động + Tài sản cố định
Nguồn vốn = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Trong đó:
Vốn tạm thời = Nợ ngắn hạn
Vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xem xét,
huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng
đầy đủ, kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp.
20
1.1.3.4. Căn cứ vào phạm vi huy động và sử dụng vốn
Theo cách phân loại này, vốn kinh doanh được chia thành nguồn vốn
bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Việc doanh nghiệp huy động sử
dụng nguồn vốn bên trong có ưu điểm là doanh nghiệp được quyền tự chủ sử
dụng vốn cho sự phát triển của mình mà không phải chi phí cho việc sử dụng
vốn. Tuy nhiên, cũng chính vì lợi thế về việc không phải trả chi phí khi sử

này là nghiêng về mặt đặc trưng kinh tế kỹ thuật và coi hiệu quả đồng nhất
với năng suất. Trong đó "năng suất là hiệu quả của lao động trong quá trình
sản xuất, làm việc, được đo bằng số lượng sản phẩm hay khối lượng công
việc làm ra được trong một đơn vị nhất định".
Thứ ba, từ góc độ nền kinh tế, Brandley R. Schiller cho rằng: hiệu quả
có nghĩa là "thu được nhiều nhất từ cái mà chúng ta có". Ngược lại với hiệu
quả là phi hiệu quả. Hạn chế của định nghĩa là khó xác định mặt lượng của
hiệu quả và không so sánh được hiệu quả của các doanh nghiệp với nhau.
Theo giáo trình Hiệu quả và quản lý Nhà nước: "Hiệu quả là thuật ngữ
dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của
chủ thể và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó trong những điều kiện nhất
định”. Nói cách khác, hiệu quả là đại lượng tương đối, phản ánh mối quan hệ
so sánh giữa đầu ra và đầu vào xét dưới góc độ giá trị.
Nếu ký hiệu: - K: kết quả nhận được theo hướng mục tiêu,
22
- C: chi phí bỏ ra,
- H: hiệu quả,
Thì: - Hiệu quả tuyệt đối: H = K - C
- Hiệu quả tương đối: H = K/C
Kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong kinh
doanh càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu.
Ý nghĩa của hiệu quả:
- Một là, hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của
chủ thể kinh tế để đạt được lợi ích cao nhất với chi phí thấp nhất.
- Hai là, hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn
các phương án hành động.
1.2.1.2. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một DN khi tiến
hành hoạt động KD là tối đa hoá lợi nhuận hay nói cách khác là tối đa hoá giá
trị DN. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi DN phải tìm các biện pháp nhằm

chỉ huy
Trong thời kỳ bao cấp, các nhà quản lý ít quan tâm đến hiệu quả sử
dụng vốn, họ cho rằng vốn không phải là yếu tố cơ bản của sản xuất, không
thể sinh lời, không quan tâm đến tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng vốn. Các nhà
quản lý luôn quan tâm đến các chỉ tiêu pháp lệnh về mặt hiện vật như: mức độ
thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh, sự tiết kiệm chi phí trong giá thành sản
phẩm, khối lượng giá trị sử dụng mà doanh nghiệp cung cấp cho nền kinh tế
Đây chính là sự lẫn lộn giữa chỉ tiêu kết quả với chỉ tiêu hiệu quả vì kết quả
24
là đại lượng tuyệt đối có được sau một thời kỳ, không cho phép so sánh với
chi phí bỏ ra.
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng VKD trong nền kinh tế thị trường
Đối với DN hoạt động trong cơ chế thị trường, vai trò và bản chất của
VKD được các nhà kinh tế nhìn nhận, đề cập một cách đầy đủ hơn, VKD
được coi là một trong những nhân tố tạo ra giá trị thặng dư. Tuy nhiên, khi đi
vào nghiên cứu các tiêu chuẩn về hiệu quả sử dụng VKD theo cơ chế thị
trường, lại có nhiều cách đánh giá và đưa ra các tiêu chuẩn khác nhau.
Kết quả lợi ích tạo ra do sử dụng VKD phải thỏa mãn ba yêu cầu: Một
là, đáp ứng được lợi ích của DN; hai là kết quả có được phải phù hợp với
mục tiêu kinh doanh; ba là góp phần nâng cao được lợi ích của nền kinh tế.
Ba yêu cầu này là bắt buộc, bất kỳ một DN nào KD mang lại nhiều lợi
nhuận cho mình mà không phù hợp với mục tiêu KD, hoặc làm tổn hại đến lợi
ích chung của nền kinh tế xã hội, sẽ không được phép tồn tại. Ngược lại, nếu
hoạt động đem lại lợi ích cho nền kinh tế, còn bản thân nó bị thua thiệt, lỗ vốn
sẽ làm cho nó bị phá sản.
Kết quả tạo ra do việc sử dụng VKD phải là kết quả phù hợp với lợi ích
doanh nghiệp và lợi ích kinh tế xã hội.
Chỉ số chi phí trong chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VKD phải thỏa mãn
được hai yêu cầu: Một là, tối thiểu được số VKD; hai là, tối thiểu về thời gian
sử dụng VKD.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status