nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại cục hải quan nghệ an - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHÙNG THỊ THƯƠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
TẠI CỤC HẢI QUAN NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2014

1



Trước tình hình đó, Hải quan Việt Nam luôn xác định nhân tố con người, đặc
biệt là đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò quyết định. Chính vì vậy, một trong
những thách thức đặt ra cho Hải quan Việt Nam là phải sắp xếp, kiện toàn bộ máy
tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của ngành Hải quan trở
thành lực lượng chuyên nghiệp, có chuyên môn sâu; hoạt động minh bạch, liêm
chính, có hiệu lực và hiệu quả, thích nghi nhanh với những thay đổi của môi
trường, công nghệ mới, đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế và
khu vực là yêu cầu hết sức cấp thiết, cho nên việc nâng cao chất lượng cán bộ, công
chức không chỉ là nhiệm vụ chung của toàn ngành mà còn là nhiệm vụ trọng tâm
tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại Cục Hải quan Nghệ An” làm luận văn
thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại Cục
Hải quan Nghệ An. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức của Cục Hải quan Nghệ An nhằm đáp ứng yêu cầu trong thời
kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Nội dung
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nội dung cụ thể như
sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ công chức và chất
lượng cán bộ công chức.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại Cục
Hải quan Nghệ An, từ đó rút ra những ưu điểm và tìm ra các nguyên nhân dẫn tới
những hạn chế về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của Cục Hải quan Nghệ
An.

3


- Qua phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, rút ra những mặt mạnh; những
hạn chế và nguyên nhân của thực trạng. Từ đó, làm tiền đề để xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Cục Hải quan Nghệ An, đáp ứng yêu cầu cải
cách hiện đại hóa Ngành Hải quan.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công
chức tại Cục Hải quan Nghệ An.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cán bộ công chức và chất lượng đội ngũ cán bộ
công chức.
Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ công chức tại Cục
Hải quan Nghệ An.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ công chức tại Cục Hải quan Nghệ An.
6

+ Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ
quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ
chiếm đại đa số trong công chức Nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành
các chính sách và pháp luật”.[57, tr. 268]
Từ những khái niệm về công chức của một số nước như trên, có thể thấy:
Công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức vụ hay thừa
hành công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước từ trung ương đến địa
phương, được hưởng lương từ ngân sách và chịu sự điều hành của Luật công chức.
Ở nước ta, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL về
Quy chế công chức, tại Điều I, Mục 1 công chức được định nghĩa là:" Những công
dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường
xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước”. Tuy nhiên, do
hoàn cảnh chiến tranh chống ngoại xâm, bản quy chế này không được triển khai
đầy đủ và trên thực tế các nội dung cơ bản của nó không được áp dụng. Để phù hợp
với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng
khái niệm “cán bộ, công chức” theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 là đạo
luật mang số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2010, cán bộ và công chức là hai đối tượng khác nhau. Theo đó, cán
bộ, công chức được quy định tại Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 là:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kì trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân


8

bộ và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất của tổ chức; của sự giáo dục,
đào tạo, phân công, quản lý, của kỷ luật.
Như vậy, có thể nói chất lượng cán bộ, công chức gồm:
- Chất lượng của từng cán bộ, công chức; cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo
đức; trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng cán
bộ, công chức là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ.
- Chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chỉnh thể, thể hiện ở cơ cấu
đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lượng và độ tuổi bình
quân được phân bố trên cơ sở các đơn vị và lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.
Từ những quan niệm trên, theo tác giả: chất lượng cán bộ, công chức là tổng
hợp của nhiều yếu tố như trí tuệ, trình độ năng lực, sự hiểu biết, phẩm chất đạo
đức, sức khỏe và khả năng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Trong các
yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh
giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức.
1.1.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ công chức
- Vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ công chức Hải quan trong cải cách
hiện đại hóa, phát triển ngành Hải quan.
Phù hợp với đặc thù hoạt động hải quan và yêu cầu cơ bản đối với công chức
hải quan, việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, có trình độ chuyên sâu,
hoạt động có hiệu quả, đáp ứng đòi hỏi cải cách, hiện đại hoá là một yêu cầu cấp
bách đặt ra trong điều kiện hiện nay của ngành Hải quan. Vì vậy, đào tạo đội ngũ
nhân lực hải quan ở nước ta cần đảm bảo yêu cầu cơ bản sau đây:
- Đào tạo được đội ngũ “cán bộ công chức hải quan phải có phẩm chất chính
trị tốt, tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát
triển đất nước thời kỳ mới. Bối cảnh, điều kiện của nền kinh tế nước ta đang trong
quá trình tiếp tục đổi mới, mở cửa với khu vực và thế giới ngày càng đầy đủ, triệt
để, toàn diện, nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi công chức

là cơ quan phục vụ cung cấp những dịch vụ công cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu
nên đòi hỏi công chức hải quan vừa có trình độ, am hiểu sâu sắc về nghiệp vụ tổng

10

hợp hải quan từ khâu thủ tục thông quan hàng hoá, kiểm soát chống buôn lậu gian
lận thương mại, xử lý vi phạm trong lĩnh vực hải quan, kiểm tra sau thông quan,
thanh tra thuế Với những loại nghiệp vụ này, công chức hải quan trong từng lúc,
từng nơi, từng khách giao dịch khi thì là người kiểm soát, quản lý, khi thì là người
chấp hành, phục vụ và phải luôn thực hiện văn minh, văn hóa trong ứng xử, giao
dịch. Do những đặc thù trên, khi một công chức mới tốt nghiệp đại học vào công
tác tại cơ quan hải quan cấp cơ sở cũng đòi hỏi phải có thời gian từ 6 tháng đến 1
năm mới có thể hiểu được hết các phần hành nghiệp vụ của cơ quan hải quan nơi
công tác và mới bắt đầu thực hiện được các công việc chuyên môn; phải mất từ 2-3
năm mới có thể đảm đương được công việc chuyên môn, nghiệp vụ theo ngạch
được bổ nhiệm.
Phần lớn cán bộ công chức ngành Hải quan có tư tưởng yên tâm công tác, có
tinh thần đoàn kết nội bộ, ý thức trách nhiệm, thái độ làm việc, kỷ cương kỷ luật,
tinh thần phục vụ doanh nghiệp tốt, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá
trình hiện đại hóa ngành Hải quan và hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, trong ngành hải quan cũng có những công việc giản đơn, không
mang tính phức tạp, chỉ cần qua những lớp đào tạo ngắn hạn là có thể thực hiện
được một số công việc như: Bảo vệ, Lái xe hay phục vụ. Những công việc này chỉ
đòi hỏi người lao động chấp hành nghiêm kỷ luật, nội quy lao động và một số thao
tác, quy trình đơn giản.
Sự đa dạng trong công việc đòi hỏi người quản lý trong quá trình xây dựng
nhu cầu, kế hoạch đội ngũ cán bộ công chức phải có những tính toán hợp lý, đặc
biệt về cơ cấu tuyển dụng nhằm tránh những lãng phí nguồn lực không cần thiết.
Với những công việc đòi hỏi chuyên môn, kỹ năng cao nhất thiết phải tuyển dụng
nguồn nhân lực chất lượng cao là những sinh viên khá, giỏi tại các Trường đại học

nguồn nhân lực. Quá trình phân loại cán bộ công chức tuân theo các tiêu chí phân
loại chung của cả đội ngũ cán bộ công chức. Vì mỗi đối tượng cán bộ, công chức
khác nhau có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng khác nhau, có những tiêu chuẩn và yêu
cầu khác nhau về trình độ đào tạo nghề nghiệp chuyên môn. Việc phân loại cũng là

12

một cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu đào
tạo đó. Điều này giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối
tượng theo yêu cầu nội dung, công tác, đưa ra những căn cứ cho việc xác định biên
chế một cách hợp lý và là tiền đề cho việc đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong
việc tuyển dụng công chức, xác định cơ cấu tiền lương hợp lý. Đồng thời còn giúp
cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của
cán bộ công chức.
Tại Cục Hải quan Nghệ An việc phân loại cán bộ công chức được căn cứ
theo Nghị định Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính
phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số
204/2004/NĐ - CP ngày 14-12-2004 của Chính phủ về việc chế độ tiền lương đối
vối cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nhân dân; Thông tư số
79/2005/TT- BNV ngày 10/8/2005 của Bộ Nội vũ về việc hướng dẫn chuyển xếp
lương đối với cán bộ, công chức, viên chức khi thay đổi công việc và các trường
hợp được chuyển công tác từ lực lượng vũ trang, cơ yếu và công ty Nhà nước vào
làm việc trong các cơ quan Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và
Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25/5/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp
lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức viên chức. Đội ngũ
cán bộ công chức được phân loại như sau:
1.1.4.1. Phân loại theo trình độ đào tạo:
- Nếu có trình độ đại học trở lên thì bổ nhiệm và xếp lương vào ngạch
chuyên viên và tương đương trở lên (Loại A, loại A1);
- Nếu có trình độ cao đẳng thì bổ nhiệm và xếp lương vào ngạch công chức,

Tổng cục Hải quan thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định: Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính
phủ; dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hải quan; Chiến lược, quy
hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề án, dự án quan

14

trọng về hải quan; Dự toán thu thuế xuất nhập khẩu hàng năm theo quy định của
Luật Ngân sách Nhà nước.
Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định: Dự thảo thông tư và các
văn bản khác về hải quan; Kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành hải quan.
Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội
bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Hải quan.
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về hải quan sau khi được cấp có thẩm quyền
ban hành hoặc phê duyệt.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hải quan.
Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ: Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá
cảnh; Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong
phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động
hải quan theo quy định của Chính phủ;
Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu; Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu. Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các chủ trương, biện
pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất
cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập

Quản lý rủi ro; Viện Nghiên cứu Hải quan; Trường Hải quan Việt Nam; Báo Hải
quan.
Các cơ quan hải quan ở địa phương bao gồm 33 Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương thuộc Tổng cục Hải quan. Các Chi cục Hải quan:
Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương. Việc thành lập, sáp nhập, giải thể các Chi cục
Hải quan, Đội Kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương do Bộ trưởng Bộ Tài
chính quyết định.

16

1.2.1.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn Cục Hải quan Tỉnh, thành phố
Cục Hải quan tỉnh, thành phố là đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan có chức
năng tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước về hải quan và các quy định khác
của pháp luật có liên quan trên địa bàn họat động của Cục Hải quan. Nhiệm vụ của
các Cục Hải quan là thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải;
phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực
hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải
quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và
chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
Đánh giá cán bộ công chức là việc cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng công
chức tiến hành đánh giá, phân loại, làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng
cán bộ công chức. Kết quả đánh giá cán bộ công chức là căn cứ để bố trí, sử dụng,
bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chính sách đối
với cán bộ công chức. Đánh giá cán bộ công chức là khâu rất quan trọng trong công
tác cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ công chức thì việc bố trí, đề bạt, sử dụng công chức
đúng với năng lực, sở trường, là căn cứ để cấp có thẩm quyền chủ động trong việc

nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ.
Người cán bộ, công chức trước tiên phải có một lịch sử bản thân rõ ràng, có
một lý lịch phản ánh rõ ràng mối quan hệ gia đình và xã hội. Chúng ta chống lại
quan niệm cũ kỹ, duy ý chí về thành phần chủ nghĩa, nhưng như thế không có
nghĩa là không xem xét đến đạo đức của con người cụ thể biểu hiện trong quan hệ
tương tác với gia đình, xã hội và trong lịch sử bản thân. Nếu không xem xét kỹ điều
đó sẽ dẫn đến việc tuyển dụng những con người thiếu tư cách và trong thực thi
công vụ họ sẽ lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Trong công tác giáo dục con người nói chung cũng như cán bộ, công chức
Hồ Chí Minh coi trọng việc giáo dục cả tài và đức. Người đặc biệt coi trọng việc

18

giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, công chức, bởi theo
người đạo đức là cái “gốc” của con người, đức là cái gốc là rất quan trọng. Khi một
người đã là cán bộ thì tư cách đạo đức của họ không chỉ ảnh hưởng riêng đến bản
thân họ mà còn ảnh hưởng đến Đảng và nhân dân, nhất là những tính xấu, tính xấu
của một người thường có hại cho người đó, tính xấu của cán bộ sẽ có hại cho Đảng,
cho nhân dân. Người đã xác định “các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến
các làng xã đều là công bộc của dân, nghĩa là đều gánh vác công việc chung cho
dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền của Pháp, Nhật”
cán bộ phải biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, lấy
quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu quan trọng nhất trong công việc: “việc gì có
lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Điều quan
trọng để cán bộ, công chức được dân tin yêu, ủng hộ không đơn thuần vì danh
nghĩa mà chính là ở chỗ cán bộ, công chức phải có đạo đức, trung thực, thực sự
gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống
của dân. Tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức phải được thể hiện
trong tác phong làm việc, muốn làm tốt việc lãnh đạo, vận động nhân dân thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cán bộ, công chức phải có tác phong

cửa quyền tham nhũng, lãng phí, phục trùng sự phân công của tổ chức và sự chỉ
đạo của cấp trên, có lỹ lịch rõ ràng, đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, có tinh thần
đoàn kết nội bộ, xây dựng tập thể vững mạnh; Chấp hành nguyên tắc tập trung dân
chủ và quy chế dân chủ ở cơ quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.2.2.2. Nhóm tiêu chí về trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp cán bộ công
chức
- Tiêu chí về trình độ, năng lực:
Trình độ chính trị biểu hiện ở sự hiểu biết về lí luận chính trị, quan điểm
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trình độ văn hóa, chuyên
môn, kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lí; năng lực dự báo và định hướng sự
phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, thuyết phục

20

các tổ chức đoàn thể và nhân dân cùng thực hiện; ý thức tham gia đấu tranh bảo vệ
quan điểm, đường lối của Đảng, và pháp luật của Nhà nước.
Năng lực là khả năng của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình
huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Nói
cách khác năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như
kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong
một điều kiện xác định. Thông thường người ta chỉ rằng năng lực gồm có các thành
tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Năng lực của cán bộ công chức không phải là năng lực bất biến, được sử
dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Ở thời điểm hay môi trường này, năng lực
được thể hiện, phát huy tác dụng, nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có loại năng
lực khác. Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng
lực khác nhau. Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến khác không có nghĩa
là có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ giỏi trong điều kiện phát triển
kinh tế hàng hóa thị trường, cũng không có nghĩa là người đó cũng có khả năng trở
thành một giáo viên ngay được.

Năng lực tổ chức bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc,
đó là khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên của đồng
nghiệp, khả năng làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán,
lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và kiểm soát công
việc. Năng lực này đặc biệt cần thiết và quan trọng đối với CB,CC, vì vậy nó hay
được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm. Cách nhận biết một người có năng lực tổ chức
có thể dựa vào những tiêu chuẩn mang tính định tính:
+ Biết mình, nhất là biết nhìn mình qua nhận xét của người khác.
+ Biết người, nghĩa là biết nhìn nhận con người đúng với thực chất của họ và
biết sử dụng họ.
Có khả năng tiếp cận dễ dàng với những người khác
Biết tập hợp những người khác nhau vào một tập thể theo nguyên tắc bổ
sung nhau.

22

Biết giao việc cho người khác và kiểm tra việc thực hiện của họ.
+ Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọi tình
huống, có những giải pháp sáng tạo.
+ Quyết đoán, dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm
1.2.2.3. Nhóm tiêu chí đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao của
đội ngũ cán bộ công chức.
Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao là khả năng làm tốt mọi công việc,
đạt được chất lượng hiệu quả công việc thực tế, luôn phấn đấu thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
1.2.2.4. Nhóm tiêu chí đánh giá đội ngũ cán bộ công chức thông qua thực hiện
nhiệm vụ và ngày giờ công lao động.
Hiện nay, việc đánh giá công chức hàng năm được thực hiện vào thời điểm
cuối năm. Nội dung, trình tự, thủ tục đánh giá công chức đã được quy định cụ thể
trong Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của

tháng và cuối năm đối với cán bộ công chức thông qua thực hiện nhiệm vụ và ngày
giờ công lao động. Hàng tháng, Thủ trưởng đơn vị quản lý trực tiếp chấm công cán
bộ công chức trong đơn vị thông qua ngày công hàng ngày để làm căn cứ đánh giá,
xếp loại vào cuối tháng rồi chuyển lên Phòng Tổ chức cán bộ để tham mưu cho
Lãnh đạo Cục đánh giá phân loại và từ đó cũng làm căn cứ để tổng hợp đánh giá
xếp loại vào cuối năm. Mô hình mới này có tiêu chí đánh giá cụ thể, lượng hóa
được khối lượng công việc, kết quả, hiệu quả, chất lượng công việc. Phương pháp
đánh giá nhiều kênh, nhiều chiều cho kết quả khách quan, chính xác, tránh cảm tính
và sai số nhỏ nhất. Công chức được đánh giá hàng tháng chứ không đợi đến cuối
năm và kết quả đánh giá, xếp loại cuối năm là kết quả của 12 tháng làm việc. Một
ưu điểm hay của mô hình này là cấp dưới được chấm công cấp trên.
1.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ngành Hải quan
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức là vấn đề hết sức quan trọng
trong giai đoạn hiện nay. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức xuất

24

phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức, trên cơ sở những chủ trương, chính
sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Bao gồm các nội dung cơ bản sau:
1.3.1. Quy hoạch cán bộ công chức
Quy hoạch cán bộ công chức là nội dung trọng yếu của công tác tổ chức, là
quá trình thực hiện đồng bộ các chủ trương, biện pháp để tạo nguồn và xây dựng
đội ngũ công chức trên cơ sở dự báo nhu cầu công chức, nhằm đảm bảo hoàn thành
nhiệm vụ chính trị, công việc được giao. Nói đến quy hoạch không chỉ nói tới việc
lập kế hoạch chung mà phải xác định rõ yêu cầu, căn cứ, phạm vi, nội dung,
phương pháp tiến hành quy hoạch, xây dựng và bổ sung quy hoạch phải đảm bảo
theo đúng quy định, quy trình, thủ tục; đảm bảo dân chủ, khách quan, công khai
minh bạch; chống cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết trong đơn vị.
Mục tiêu của quy hoạch là lựa chọn được những cán bộ thực sự có đức, có tài để
đưa vào nguồn kế cận, dự bị; từng bước giao nhiệm vụ, thử thách, rèn luyện, có kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status