i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN VIỆT HÙNG
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
KHÁCH SẠN HỮU NGHỊ TẠI THÀNH PHỐ
VINH, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hoà, 2014 iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu
Nghị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi thực
hiện năm 2014 và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi sự
giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin
trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả đề tài
Nguyễn Việt Hùng
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Kinh tế, khoa
Sau đại học trường Đại học Nha Trang đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu
cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên
cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn đến lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên thuộc
khách sạn Hữu Nghị Nghệ An và các đơn vị liên quan đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo -
TS. Lê Kim Long là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã tận tình giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành tốt nhất luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh
tôi động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Mặc dù
bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi
mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng chí và đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Khánh Hoà, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Việt Hùng iii
2.1. Giới về khách sạn Hữu Nghị 31
2.1.1. Khái quát về Công ty CP Hữu Nghị 31
2.1.2. Tình hình chung về khách sạn Hữu Nghị 32
2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khách sạn 33 iv
2.1.4. Các dịch vụ kinh doanh chính của khách sạn 35
2.2. Môi trường kinh doanh của khách sạn 37
2.2.1. Môi trường vĩ mô 37
2.2.2. Môi trường vi mô 40
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị 41
2.3.1. Về vốn 41
2.3.2. Về lao động 41
2.3.3. Cơ sở vật chất của khách sạn 43
2.3.4. Về nguồn vốn và hiệu quả sử dụng vốn của khách sạn 44
2.3.5. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Khách sạn Hữu Nghị Nghệ An 47
2.3.6. Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ
thuật trong kinh doanh tại khách sạn Hữu Nghị 50
2.3.7. Hoạt động nghiên cứu thị trường và xây dựng mạng lưới kinh doanh của khách
sạn Hữu Nghị 51
2.3.8. Đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ tại khách Sạn Hữu Nghị Nghệ
An 52
2.3.9. Đánh giá về năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị so với các khách sạn
khác tại khu vực thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 57
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA KHÁCH SẠN HỮU NGHỊ TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1. Quan điểm và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị 71
viDANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viiDANH MỤC HÌNH VẼ - SƠ ĐỒ
Hình 2.1: Toàn cảnh khách sạn Hữu Nghị Nghệ An 32
Sơ đồ 1.1: Những yếu tố quyết định cạnh tranh trong ngành 23
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức khách sạn Hữu Nghị 33 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Du lịch hiện được coi là một trong những ngành
kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì
những lợi ích to lớn về nhiều mặt mà nó đem lại. Nhiều chuyên gia kinh tế trên thế
giới đã công nhận du lịch chính là một "con gà đẻ trứng vàng" cho mọi quốc gia,
ngành công nghiệp không khói này hàng năm đã mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ,
tạo sức bật cho nhiều quốc gia trên thế giới. Tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ du lịch
trong nền kinh tế quốc dân ngày càng tăng lên, nó góp phần giải quyết một số vấn đề
về xã hội như giải quyết về nhu cầu việc làm, giảm thất nghiệp, bảo tồn bản sắc văn
hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc
Đối với nước ta, du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế của đất nước. Du lịch phát triển đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế - xã hội
phố Vinh nằm ở vị trí giao thông thuận tiện, có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc -
Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm cách trung tâm thành phố không xa. Thành phố
Vinh đang được quy hoạch để xây dựng thành trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa
và giáo dục của khu vực Bắc Trung bộ. Vinh cũng được coi là đầu mối giao thông
quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam. Khách đi du lịch theo tuyến quốc lộ 1A ngày
càng tăng, lượng du khách đến với Nghệ An theo đó cũng tăng. Đến với thành phố
Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du
lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Khách du lịch đến Nghệ An thường lưu lại và thích lưu lại
tại các khách sạn trên địa bàn thành phố Vinh bởi nó là trung tâm thuận tiện để đến các
điểm du lịch hấp dẫn khác trong tỉnh Nghệ An cũng như tỉnh Hà Tĩnh: chỉ cách 15 km
về phía Đông là khu du lịch biển nổi tiếng Cửa lò và cũng chỉ mất khoảng 15 đến 20
phút đi bằng taxi hoặc xe buýt là có thể đến được khu di tích Kim Liên – Nam Đàn
(nơi sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh)… Du khách đến Nghệ An và lưu lại ở thành
phố Vinh còn với nhiều lý do khác như đi công tác, nghiên cứu tìm hiểu thị trường, dự
hội thảo tập huấn…; cũng có thể là các thương nhân và chuyên gia từ các nước bạn
Lào, Thái Lan, Trung Quốc và các nước khác đến làm ăn, buôn bán hoặc tư vấn cho
các công ty ngoại quốc đóng trên địa bàn Nghệ An.
Khách sạn Hữu Nghị với tiêu chuẩn 3 sao - nằm tại trung tâm thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An - là một đơn vị trực thuộc Công ty cổ phần Hữu Nghị Nghệ An. Khách
sạn Hữu Nghị là đơn vị lớn nhất, quan trọng nhất trong hệ thống các đơn vị trực thuộc,
là xương sống của Công ty. Điều này cho thấy rằng khách sạn Hữu Nghị có tầm ảnh
hưởng to lớn như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty cổ phần Hữu
Nghị trong thời gian qua.
Trong thời gian gần đây, thị trường dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An có
nhiều biến động lớn, nhiều công ty, đơn vị khách sạn 3,4,5 sao tiêu chuẩn chất lượng
cao đã và đang chuẩn bị đưa vào hoạt động phục vụ du khách. Với sự đầu tư lớn về cơ
sở vật chất, công nghệ, lao động đã làm nóng lên thị trường dịch vụ du lịch của tỉnh.
Các khách sạn đồng hạng sao với khách sạn Hữu Nghị như: khách sạn Mường Thanh
Thanh niên, khách sạn Mường Thanh, khách sạn Xanh Nghệ An, khách sạn Thượng
Hải, khách sạn AVATAR; các khách sạn cao hạng sao hơn khách sạnh Hữu Nghị gồm
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá năng lực cạnh của khách sạn Hữu Nghị.
- Thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị trong mối
tương quan với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
- Đề ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khách
sạn Hữu Nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến năng lực cạnh
tranh của khách sạn Hữu Nghị, đơn vị tọa lạc tại thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An. 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: đề tài nghiên cứu, phân tích các vấn đề liên quan đến
năng lực cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị.
- Phạm vi về thời gian: để xem xét đánh giá năng lực cạnh tranh của khách
sạn Hữu Nghị, số liệu phân tích trong luận văn được lấy 3 năm từ năm 2011 đến
2013.
- Phạm vi về không gian: luận văn nghiên cứu trong phạm vi khách sạn Hữu
Nghị và hoạt động của khách sạn trên địa bàn tỉnh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp: Thống kê khảo sát
thực tế, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích so sánh, phân tích tổng hợp…;
sử dụng các phương pháp điều tra khách hàng, phương pháp chuyên gia, xây dựng ma
trận hình ảnh cạnh tranh để đánh giá tình hình cạnh tranh của khách sạn Hữu Nghị
Nghệ An.
1.1.1.1. Khái niệm khách sạn
Khách sạn là cơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi, phục vụ việc qua đêm và các nhu
cầu khác của du khách như ăn, ngủ, vui chơi, giải trí Tùy theo mức độ sang trọng của
cơ sở vật chất, trang thiết bị và chế độ phục vụ mà các khách sạn được phân hạng
khác nhau. Ở Việt Nam, khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 5 sao. Trong số các loại
hình du lịch phân theo cơ sở lưu trú, đây là hình thức phổ biến nhất. Đối tượng du
khách do vậy cũng khá phong phú, từ khách có khả năng chi trả trung bình đến khách
có khả năng chi trả cao. Đối với đối tượng khách thương gia tầm cỡ, việc ở trong
khách sạn cao cấp là một trong những đòi hỏi hàng đầu.
Khách sạn được hiểu là cơ sở cho thuê ở trọ, nhưng không chỉ có khách sạn mới có
dịch vụ lưu trú mà còn có các cơ sở khác như: nhà trọ, nhà khách, nhà nghỉ, biệt thự, làng
du lịch, bãi cắm trại, bungalows,v.v đều có dịch vụ này. Tập hợp những cơ sở cùng cung
cấp cho khách dịch vụ lưu trú được gọi là ngành khách sạn (Trịnh Xuân Dũng, 2002).
Theo Luật du lịch 2005 thì được định nghĩa như sau: “ Cơ sở lưu trú du lịch là
cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch. Cơ sở lưu
trú du lịch bao gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều trại cho thuê trong đó
khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu” (Quốc hội Việt Nam, 2005).
Khách sạn là một bộ phận cơ bản, không thể thiếu được đối với hoạt động kinh
doanh du lịch. Nói đến hoạt động kinh doanh khách sạn là nói đến việc kinh doanh các
dịch vụ lưu trú. Ngoài dịch vụ cơ bản này, ngành khách sạn còn tổ chức các dịch vụ bổ
sung khác như: dịch vụ phục vụ ăn, uống, phục vụ vui chơi giải trí, phục vụ các nhu
cầu có liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của khách ( điện thoại, fax, giặt là, chữa
bệnh ). Trong các dịch vụ nêu trên, có những dịch vụ do khách sạn “ sản xuất ra” để
cung cấp cho khách như dịch vụ lưu trú, dịch vụ vui chơi, giải trí có những dịch vụ
khách sạn làm đại lý bán cho các cơ sở khác như: đồ uống, điện thoại Trong các
dịch vụ khách sạn cung cấp cho khách có những dịch vụ và hàng hóa khách phải trả
tiền, có những dịch vụ và hàng hóa khách không phải trả tiền, ví dụ như: dịch vụ giữ đồ 6
loại kiểu, qui mô và thị trường khách hàng mục tiêu của từng cơ sở kinh doanh
lưu trú. Trong nghĩa hẹp của khái niệm kinh doanh khách sạn, lẽ ra phải loại trừ nhóm
dịch vụ phục vụ nhu cầu ăn uống cho khách, nhưng ngày nay ta thật khó tìm được cơ
sở lưu trú mà không đáp ứng nhu cầu ăn uống cho khách, cho dù có thể chỉ là bữa ăn 7
sáng. Trên phương diện chung nhất, có thể đưa ra định nghĩa về kinh doanh khách sạn
như sau:
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng nhu cầu ăn,
nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi (Nguyễn Thị
Nguyên Hồng & Hà Văn Sụ, 1995).
1.1.2. Các loại hình khách sạn
Ngày nay để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của du khách, hệ thống
khách sạn đang phát triển mạnh mẽ. Các khách sạn qui mô lớn, hiện đại ngày càng
nhiều. Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân chia hệ thống khách
sạn thành nhiều thể loại khác nhau như:
- Căn cứ theo qui mô: Khách sạn có quy mô lớn, khách sạn có quy mô vừa và
khách sạn có quy mô nhỏ. Đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ của khách mà vẫn đảm bảo
thu được lợi nhuận trong quá trình kinh doanh.
- Căn cứ vào thời gian hoạt động: Khách sạn hoạt động quanh năm và khách sạn
hoạt động theo mùa. Nhằm khắc phục tính thời vụ trong kinh doanh khách sạn.
- Căn cứ vào mục đích chuyến đi: Khách sạn nghỉ hè, khách sạn điều dưỡng,
khách sạn thể thao… Nhằm xây dựng và cung cấp các dịch vụ phù hợp với mục đích
chuyến đi của từng đối tượng khách.
- Căn cứ vào đối tượng khách: Khách công vụ, khách du lịch, khách thương
gia…Nhằm xác định các loại hình dịch vụ và chất lượng dịch vụ thoả mãn từng đối
tượng khách.
“Sản phẩm” của ngành khách sạn chủ yếu là “dịch vụ” và một phần là “hàng
hóa”. Trong khách sạn cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ phục vụ có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Người ta tổng quát “Sản phẩm của ngành khách sạn là sự kết hợp của
sản phẩm vật chất và sự tham gia phục vụ của nhân viên. Đây là hai yếu tố không thể
thiếu được của hoạt động kinh doanh khách sạn”. Việc cung ứng dịch vụ phục vụ là
một trong những tiêu chuẩn quan trọng của khách sạn (Trịnh Xuân Dũng, 2002).
“Sản phẩm” của ngành khách sạn không thể lưu kho, không thể đem đến nơi
khác quảng cáo hay tiêu thụ, mà chỉ có thể “sản xuất và tiêu dùng ngay tại chỗ” (Trịnh
Xuân Dũng, 2002).
- Vị trí của khách sạn
Bên cạnh đặc điểm về sản phẩm của ngành khách sạn được nêu rõ ở trên thì vị
trí xây dựng và tổ chức kinh doanh khách sạn cũng mang tính quyết định quan trọng
đến kinh doanh khách sạn. Vị trí khách sạn phải đảm bảo tính thuận tiện cho khách
hàng và công việc kinh doanh khách sạn. Một vị trí thuận lợi sẽ góp phần đem lại hiệu
quả kinh doanh cao cho khách sạn (Trịnh Xuân Dũng, 2002).
- Vốn đầu tư
Khách sạn là một tổ chức đa dạng về dịch vụ, thõa mãn những nhu cầu khác
nhau của khách du lịch. Vì vậy, để khách sạn luôn ở trạng thái hoạt động được đều đặn 9
trong quá trình tổ chức kinh doanh cần có sự tập trung rất lớn về vốn đầu tư xây dựng,
bảo tồn, nâng cấp, sửa chữa và mua sắm trang thiết bị của khách sạn để phục vụ nhu
cầu của khách đến lưu trú. Kinh
doanh khách sạn phải làm cho “cái áo” luôn luôn hợp
mốt trong mọi trường hợp.
- Về đối tượng phục vụ
- Về tính sẵn sàng đón tiếp
Hoạt động kinh doanh khách sạn diễn ra liên tục 24/24h. Bởi khách hàng tiêu
dùng các sản phẩm dịch vụ của khách sạn vào bất cứ thời gian nào mà họ có thể. Thêm
vào đó là tính thời vụ cho nên thời gian làm việc của nhân viên trong khách sạn phụ
thuộc phần lớn vào thời gian khách đến khách sạn. Do vậy lao động trong khách sạn
thường là lao động bán thời gian và làm theo ca. Mặt khác giữa các bộ phận trong
khách sạn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại giúp đỡ nhau trong
quá trình phục vụ khách. Đảm bảo cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất,
nhanh chóng, kịp thời thoả mãn sự trông đợi của khách.
- Nhân viên phục vụ
Khi nói đến khách sạn là nói đến một loại hình kinh doanh đặc biệt mà nhân tố
con người được nhấn mạnh. Trong hoạt động kinh doanh khách sạn không thể cơ giới
hóa, tự động hóa việc phục vụ khách ăn, uống, dọn dẹp buồng cho khách, không thể tự
động hóa quá trình đón tiếp và tiễn đưa cũng như thanh toán với khách Tất cả các
khâu phục vụ khách du lịch đều đòi hỏi con người phục vụ trực tiếp.
Mặt khác, nhân viên phục vụ trực tiếp trong khách sạn thường là những người
có trình độ học vấn trung bình, còn khách hàng nhiều khi lại là những người có tiền, có
học, ở trong những căn phòng sang trọng. Đây là sự đối nghịch đương nhiên, nhưng
các nhà quản lý khách sạn lại mong muốn nhân viên phải là chìa khóa của sự thành
công trong kinh doanh khách sạn và phải có thái độ tích cực, cầu tiến bộ, tất cả đều vì
mục tiêu chung là thõa mãn yêu cầu của khách. Do vậy, kinh doanh khách sạn là một
chu kỳ không bao giờ chấm dứt quá trình phỏng vấn, tuyển dụng, huấn luyện và kết
thúc hợp đồng một số lượng nhân viên nhất định. Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu
xây dựng chính sách sử dụng lao động hợp lý trong ngành khách sạn.
- Về tổ chức quá trình kinh doanh khách sạn
Tính tổng hợp và phức tạp trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách sạn
được thể hiện ở đặc điểm này. Khách sạn là sự hỗn hợp của những loại hình kinh
doanh khác nhau, thực hiện những chức năng khác nhau có những kiến thức, quan
điểm khác nhau. Tất cả cán bộ quản lý và nhân viên khách sạn đều có cùng một mục
- Dịch vụ bổ sung là loại dịch vụ tuỳ theo nhu cầu của khách hàng mà khách
sạn mở ra để nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một phong phú của khách hàng.
+ Dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của khách như dịch vụ đưa đón
khách, dịch vụ giặt là, vui chơi giải trí, tắm hơi, massage, thông tin liên lạc.
+ Dịch vụ nâng cao nhận thức: thông tin kinh tế, khoa học kĩ thuật. Khách sạn
cung cấp hàng ngày cho khách hàng thông tin mới nhất về tình hình kinh tế, văn hoá,
xã hội biến đổi trong ngày nếu có nhu cầu. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tìm hiểu về các
lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.
+ Dịch vụ nâng cao tiện nghi sinh hoạt: Bổ sung một số trang thiết bị theo yêu
cầu của khách. 12
+ Dịch vụ đáp ứng nhu cầu cao: Đó là các dịch vụ nằm ngoài khách sạn như đặt
vé xem phim, xem ca nhạc…
1.1.5. Ý nghĩa của kinh doanh khách sạn
1.1.5.1. Ý nghĩa kinh tế
Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động chính của ngành du lịch và
thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của ngành. Kinh doanh khách sạn cũng tác động
đến sự phát triển của ngành du lịch và đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung của một
quốc gia.
Thông qua kinh doanh lưu trú và ăn uống của khách sạn, một phần trong qũy
tiêu dùng của người dân được sử dụng vào việc tiêu dùng các dịch vụ và hàng
hóa của các doanh nghiệp khách sạn tại điểm du lịch.
Ngoài ra, kinh doanh khách sạn phát triển góp phần tăng cường thu hút vốn đầu
tư trong và ngoài nước, huy động được vốn nhàn rỗi trong nhân dân.
Các khách sạn là bạn hàng lớn của nhiều ngành khác trong nền kinh tế, vì hàng
ngày các khách sạn tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của nhiều ngành
như: ngành công nghiệp nặng, ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, ngành
chỗ đứng trên thị trường, nơi mà họ có thể chống chọi lại với các lực lượng cạnh tranh
một cách tốt nhất.
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Mác đã có những nhận xét về cạnh tranh
như sau: “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng
hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Khái niệm này chỉ xem xét cạnh tranh ở
một phạm vi hẹp, đó là xã hội tư bản chủ nghĩa, là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất. Do vậy, cạnh tranh có nguồn gốc từ chế độ tư hữu. Khi đó cạnh tranh được coi là
hiện tượng tiêu cực trong xã hội dẫn đến khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh nghiệp phá
sản, có nhiều người thất nghiệp. Khi xã hội phát triển, khái niệm cạnh tranh đã được
cải thiện. Cho đến ngày nay thì hầu hết các nước trên thế giới đều nhìn nhận cạnh
tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là yếu tố quan
trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, nâng cao hiểu biết dân cư. Như vậy cạnh
tranh là việc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh dựa trên
chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển
(Michael E.Porter, 2008).
Còn theo các nhà kinh doanh thì cạnh tranh được hiểu như sau: “Cạnh tranh là
sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa những
người sản xuất với người tiêu dùng sản phẩm hàng hoá dịch vụ nhằm giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hoá dịch vụ để thu được nhiều lợi
ích cho mình”.
Cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà
kinh doanh khách sạn nhằm giành được tập khách hàng trong cùng một loại sản phẩm
dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn còn
được hiểu là sự phấn đấu cải tiến, hoàn thiện về chất lượng sản phẩm dịch vụ của
khách sạn mình sao cho tốt hơn các khách sạn khác. Nhằm khẳng định chỗ đứng của 14
phải lựa chọn cho mình phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất để mang lại hiệu
quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trưởng
kinh tế. 15
* Đối với người tiêu dùng
Trên thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ làm cho người tiêu dùng
được lợi. Trong cạnh tranh thì người tiêu dùng là những người được hưởng lợi nhiều
nhất do các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tạo ấn tượng, gây dựng hình ảnh của
doanh nghiệp, uy tín cũng như chỗ đứng trong lòng khách hàng. Người tiêu dùng sẽ
được sử dụng những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giá bán rẻ hơn và được phục vụ
tốt hơn, chu đáo hơn. Nhiều khi còn nhận được các sản phẩm khuyến mại, dùng thử
không mất tiền.
Khi nhu cầu của người tiêu dùng càng cao thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
càng mãnh liệt để giành được thị phần, thu hút khách hàng nhiều hơn.
* Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh là một tất yếu đối với doanh nghịêp trong nền kinh tế thị trường. Cạnh
tranh có thể là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể né tránh mà phải
tìm cách đối diện với nó để vươn lên chiếm ưu thế và chiến thắng. Cạnh tranh buộc các
doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu
dáng mẫu mã, cải tiến đáp ứng nhu cầu khách hàng. Cạnh tranh khuyến khích các doanh
nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm giảm chi phí, sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực. Từ đó tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, chất lượng được
nâng cao, mẫu mã được cải tiến, tạo ra các sản phẩm khác biệt có sức cạnh tranh cao.
Cạnh tranh cũng sẽ tạo điều kiện kéo dài chu kì sống của sản phẩm, giảm bớt rủi
ro do khách hàng đem lại.
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế
nói chung và đối với từng doanh nghiệp nói riêng nên viêc nâng cao khả năng cạnh
- Các khách sạn liên doanh có vốn đầu tư lớn thì có khả năng xây dựng những
chiến lược cạnh tranh có qui mô lớn, sức cạnh tranh lớn, tính khả thi cao. Bên cạnh
khách sạn liên doanh, khách sạn có vị trí thuận lợi cũng mang lại nhiều lợi thế rõ rệt.
Đó là những khách sạn có vị trí gần với tài nguyên du lịch.
- Cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn ở nước ta có đặc điểm là cạnh tranh
không hoàn hảo. Do việc xây dựng một số khách sạn tư nhân và sự liên kết giữa các
khách sạn còn lỏng lẻo nên sự giảm giá ở mỗi khách sạn một cách khác nhau làm cho
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn rất khó xây dựng chiến lược cạnh
tranh cho phù hợp.
1.3. Năng lực cạnh tranh trong ngành khách sạn
1.3.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh đã được sử dụng rộng rãi, nhưng cho đến nay
vẫn chưa có sự nhất trí về khái niệm năng lực cạnh tranh giữa các học giả, các nhà
chuyên môn cũng như các doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được
nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường. Hay nói