BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN DOÃN LONG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ
TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
TRỰC THUỘC TỈNH NGHỆ A
N LUẬN VĂN THẠC SĨ Khánh Hòa - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề tại các
trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi.
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ
luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố dưới bất cứ hình thức nào
trước đây.
Tác giả luận văn Nguyễn Doãn Long
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn.
Mặc dầu đã có nhiều cố gắng dành thời gian nghiên cứu, song luận văn không thể
tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết. Mong nhận được sự góp ý tận tình của các
thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và các chuyên gia trong lĩnh vực để luận văn được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Doãn Long
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN DẠY NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 6
1.1. Tổng quan về phát triển nguồn nhân lực 6
giảng viên 22
1.4.1. Kinh nghiệm của Trường Cao đẳng nghề Đắk Lắk 22
1.4.2. Kinh nghiệm của Trường Cao đẳng nghề Việt Đức - Vĩnh Phúc 24
1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An 26
Tóm tắt chương 1 27
iv
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN DẠY NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRỰC THUỘC
TỈNH NGHỆ AN 28
2.1. Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nghề tại
tỉnh Nghệ An 28
2.1.1. Vị trí địa lý 28
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 29
2.1.3. Tình hình giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nghề tại tỉnh Nghệ An 30
2.2. Khái quát về các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An 32
2.2.1. Trường Cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại Nghệ An 32
2.2.2. Trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc 35
đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An 66
3.1.1. Quan điểm phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề tại các trường Cao đẳng nghề
trực thuộc tỉnh Nghệ An 66
3.1.2. Mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng nghề trực thuộc
tỉnh Nghệ An 67
v
3.2. Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề tại các trường Cao đẳng
nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An 68
3.2.1. Hoàn thiện công tác hoạch định đội ngũ giảng viên dạy nghề 69
3.2.2. Nâng cao kiến thức, chất lượng cho đội ngũ giảng viên dạy nghề 70
3.2.3. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính cầp thiết tất yếu của công tác phát
triển đội ngũ giảng viên trong lãnh đạo nhà trường 78
3.2.4. Xây dựng các tiêu chí đánh giá giảng viên 79
3.2.5. Tăng cường các nguồn lực phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề 80
3.2.6. Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề 81
Tóm tắt chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
Bảng 2.6. Đánh giá về xác định nhu cầu đào tạo phát triển đội ngũ giảng viên 44
Bảng 2.7. Thống kê số lượng giảng viên đi tập huấn tại nước ngoài giai đoạn 2011- 2013 46
Bảng 2.8. Các khóa tập huấn, bồi dưỡng cho Giảng viên dạy nghề từ năm 2012-2013 47
Bảng 2.9. Thống kê số lượng giảng viên đào tạo nâng cao trình độ giai đoạn 2011-2013 51
Bảng 2.10. Kết quả phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề giai đoạn 2011 – 2013 59
Bảng 2.11. Đánh giá về công tác đào tạo – phát triển đội ngũ giảng viên 60 viii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1. Năng lực của giảng viên dạy nghề 71
Sơ đồ 3.1. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng giảng viên 72
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Ưu tiên hàng đầu
cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất
của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên”
Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương về việc xây dựng,
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) đã nêu:
biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm trong nghề
của nhà giáo. Thông qua việc phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp CNH-HĐH địa phương.
Với những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển đội ngũ
giảng viên dạy nghề tại các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giảng viên dạy nghề, phát triển đội ngũ giảng
viên dạy nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề.
- Đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác phát triển đội ngũ giảng
viên dạy nghề các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề các trường
Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác phát triển đội ngũ giảng viên các trường dạy nghề
- Phạm vi nghiên cứu: các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An, cụ
thể là Trường Cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại Nghệ An và Trường Cao đẳng
nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp: phân loại, tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu
có liên quan đến cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối với cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy
ở các trường Cao đẳng nghề để thu thập những thông tin về thực trạng tình hình công
tác phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng nghề.
- Phương pháp chuyên gia xin ý kiến góp ý về cách xử lý kết quả điều tra và các
biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở các trường Cao đẳng nghề.
- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, điều tra bằng bảng hỏi và phỏng
vấn sâu.
nghề Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp như: hoàn thiện công tác hoạch định đội
ngũ giáo viên dạy nghề; nâng cao kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ cho đội ngũ
giáo viên; phát triển môi trường học tập, nâng cao động cơ thúc đẩy cho đội ngũ giáo
4
viên. Luận văn thạc sỹ: “Biện pháp pháp triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
kinh tế - kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên” của tác giả Đặng Văn Doanh cũng đã
nghiên cứu và đưa ra năm biện pháp đó là: lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ
giảng viên; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên; sử dụng hợp lý
đội ngũ giảng viên hiện có; xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách cho đội ngũ giảng
viên; tăng cường các điều kiện cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra còn có luận văn thạc sỹ “Phát triển đội ngũ giáo viên trường cao đẳng nghề cơ
khí nông nghiệp trong giai đoạn mới” của tác giả Phan Huy Hoàng. Trong luận văn đã
nêu lên “Với đội ngũ giáo viên dạy nghề ngoài những tính chất chung của nghề nghiệp
làm thầy, còn mang những yếu tố, đặc điểm riêng, đặc thù mà rất cần được quan tâm
nghiên cứu, ứng dụng trong quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ.” Các luận văn
nêu trên đã đi sâu nghiên cứu các khía cạnh về công tác phát triển đội ngũ giáo viên
(giảng viên) ở các trường Cao đẳng nghề và đề xuất một số giải pháp khá sát thực, phù
hợp với đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, những giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng
viên dạy nghề tại các trường Cao đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An thì chưa đề tài nào
trước đây nghiên cứu. Do đó, đề tài này sẽ cố gắng đề cập đến những vấn đề mà các đề tài
khác chưa có điều kiện làm rõ. Đó là những vấn đề của đội ngũ giảng viên các trường Cao
đẳng nghề trực thuộc tỉnh Nghệ An với tư cách là những trường đào tạo nghề được ưu tiên
đầu tư tập trung, đồng bộ theo tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 theo
Quyết định số 761/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đó đưa ra các giải
pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề đáp ứng tốt các mục tiêu
đề ra.
6. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN DẠY NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
1.1. Tổng quan về phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực.
Theo Giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nguồn
nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó
đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn
nhân lực xã hội”. [22]
Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần
được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức
khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động” [30]
Theo Liên Hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và
năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển
kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.” [32]
Nhân lực dưới góc độ từ và ngữ là danh từ (từ Hán Việt): nhân là người, lực là
sức. Ngay trong phạm trù sức người lao động cũng chứa một nội hàm rất rộng. Nếu
dừng lại ở các bộ phận cấu thành đó là sức óc, sức bắp thịt, sức xương… Sức thể hiện
thông qua các giác quan mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, da cảm giác… Còn chất lượng
của sức lao động đó là trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, lành nghề…
Nếu xét theo nghĩa rộng, toàn bộ tổng thể nền kinh tế được coi là một nguồn lực
thì nguồn lực con người (Human Resources) là một bộ phận của các nguồn lực trong
nền sản xuất xã hội. Chẳng hạn nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài
chính (Financial Resources)…
Theo đại từ điển kinh tế thị trường, nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực
lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhân lực là chỉ
tổng nhân khẩu xã hội, là nguồn tài nguyên. Tài nguyên nhân lực là tiền đề vật chất của
tái sản xuất xã hội. Tài nguyên nhân lực vừa là động lực vừa là chủ thể của sự phát triển,
có tính năng động trong tái sản xuất xã hội. Chính vì lẽ đó khi phân tích về nguồn tài
nguyên nhân lực, phải xem xét nó trong mối quan hệ với tốc độ tăng dân số, sự phát
người lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương. Trong một
chừng mực nào đó nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động, nhưng nói về
nguồn nhân lực là nói tới chất lượng của lao động.
Đề cập đến nguồn nhân lực, việc sử dụng nguồn nhân lực liên quan đến việc
làm. Đây chính là tiêu chí xác định hiệu quả nguồn nhân lực. Guy Hân-tơ, chuyên gia
Viện phát triển hải ngoại (ODI) tại Luân đôn đã đưa ra định nghĩa: “ Việc làm theo
nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì
8
quan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu
chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” [19,62].
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực.
Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu tổng quát về phát triển
nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng
lao động, thể lực, tâm hồn… để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện
tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất
nước, làm giàu cho xã hội.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách
hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực.
“Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng
lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ
cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm
nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động
nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao
động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo
và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn
luyện thân thể và chăm sóc y tế”. [13]
Khái niệm này xem xét phát triển nguồn nhân lực của đất nước, từ đó khuyến
nghị cho nhà nước những chính sách về giáo dục, đào tạo, y tế để phát triển nguồn
nhân lực ở tầm vĩ mô.
Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi phải có nguồn nhân lực
không chỉ về chất lượng và số lượng mà còn phải có một cơ cấu đồng bộ. Nguồn nhân
lực được coi là vấn đề trung tâm của sự phát triển. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng khẳng định “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [25,108], “con người và nguồn nhân lực là
nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
[25,201]. Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của nguồn nội lực, do đó phải
bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực.
Vai trò và vị trí của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của đất nước ngày
càng cao đặc biệt đối với khoa học xã hội và nhân văn. Nó là cơ sở “cung cấp luận cứ
khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách phát triển kinh tế xã hội, xây dựng
con người, phát huy những di sản văn hóa dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hóa mới
của Việt Nam”. [25,112]
Trong chương trình KX.05 “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, chương trình khoa học công nghệ cấp
10
Nhà nước do Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, Viện Nghiên cứu Con người
thực hiện, đã phản ánh một cách đầy đủ và súc tích về mối quan hệ các vấn đề văn
hóa, con người nguồn nhân lực gắn quyện với nhau: hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần do con người tạo ra qua giáo dục lại trở lại với con người được con người
thừa kế và phát triển, phải trở thành sức mạnh ở mỗi con người cũng như trong từng
tập thể lao động thành vốn người, nguồn lực con người tạo ra các giá trị mới, đáp ứng
nhu cầu phát triển của từng người nhóm người, đội lao động, tập thể một đơn vị sản
xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nói chung và của từng tế bào
kinh tế nói riêng.
Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau. Trước hết sự phát triển nguồn nhân lực xuất phát từ nhu cầu về lao
động. Sở dĩ như vậy bởi yêu cầu phát triển của xã hội nguồn nhân lực xã hội ngày
càng tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng lớn, ngày càng phong phú đa dạng.
Văn Đồng đã khẳng định: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao
quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo. Vì nó sáng tạo ra những con người sáng
tạo ra của cải vật chất cho xã hội". Như vậy, theo đồng chí Phạm Văn Đồng thì giáo
viên là những người cao quý, được xã hội tôn vinh vì họ đào tạo ra những con người
làm ra của cải vật chất cho xã hội”.
Như vậy, khái niệm giáo viên trình bày đã rõ, nhưng tập trung và đầy đủ hơn cả
là khái niệm giáo viên được thể hiện ở Điều 70, Luật Giáo dục 2005:
1) Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở
giáo dục khác.
2) Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng.
3) Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp gọi là giáo viên, ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.
Như vậy, tuỳ thuộc cách tiếp cận mà các khái niệm đã nêu ra theo nghĩa rộng hay
hẹp, nhưng đề cập đến bản chất của người giáo viên. Đó là những người làm nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học để người học tích cực chủ
động nắm được tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và xây dựng, phát triển nhân cách,
bằng chính nỗ lực chủ quan của mình.
Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các trường cao đẳng
và đại học. Giảng viên là viên chức thuộc ngành giáo dục đào tạo.
12
1.2.1.2. Khái niệm đội ngũ giảng viên
Trong các tổ chức xã hội, khái niệm đội ngũ được dùng như: Đội ngũ trí thức,
đội ngũ công nhân viên chức, đội ngũ giảng viên,… đều có gốc xuất phát từ đội ngũ
theo thuật ngữ quân sự, đó là một khối đông người được tổ chức thành một lực lượng
để chiến đấu hoặc để bảo vệ …
Phát triển đội ngũ giảng viên trước hết phải tạo ra một đội ngũ (một tổ chức)
các nhà giáo, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức, độ
tuổi, giới tính Phát triển đội ngũ giảng viên là làm cho số lượng và chất lượng đội
ngũ giảng viên vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho
nhau tạo nên một hệ thống - đội ngũ giảng viên bền vững.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ giảng viên dạy nghề
1.2.3.1. Phẩm chất, năng lực và nhận thức của giảng viên
- Đối với mỗi giảng viên
Người giảng viên là người cán bộ khoa học, nắm vững các phương pháp khoa
học về giảng dạy và giáo dục, sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật trong giảng
dạy, tham gia tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học và đời sống xã hội. Họ là
những người tiên tiến của xã hội. Nhân cách của người giảng viên là nhân cách của
người tri thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Nhân cách là tổ hợp các thái độ,
những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng
người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với
bản thân. Nhân cách của người giảng viên bao gồm rất nhiều những bản chất như tư
tưởng chính trị, đạo đức, năng lực và các phẩm chất tâm lý khác.
Về phẩm chất chính trị người giảng viên trước hết phải hội tụ đầy đủ phẩm chất
người công chức Nhà nước, đó là: trung thành với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chủ trương của Đảng và chính
sách pháp luật của Nhà nước; tận tụy phục vụ nhân dân; có nếp sống lành mạnh, trung
thực, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm
trong công việc; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ; chấp hành sự điều động,
phân công công tác của cơ quan.
Là người viên chức trong lĩnh vực giáo dục, người giảng viên phải có được
phẩm chất của một nhà giáo, đó là: phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn
được đào tào về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp, lý
lịch bản thân rõ ràng.
Cùng với những phẩm chất chính trị, những phẩm chất năng lực có ý nghĩa nhất
- Kiến thức cơ bản, hệ thống chuyên sâu về bộ môn mình giảng dạy, thường
xuyên cập nhật kiến thức.
- Năng lực nghiên cứu khoa học
Ở các trường cao đẳng nghề, sự sáng tạo sư phạm đi liền với sự sáng tạo
khoa học. Người giảng viên giảng dạy một bộ môn khoa học đồng thời phải là nhà
nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện cái mới trong đó, mở rộng và làm phong phú, sâu
sắc hơn những tri thức khoa học của bộ môn mình giảng dạy.
15
Tóm lại, yêu cầu đối với mỗi người giảng viên Cao đẳng nghề là phải hội tụ
đầy đủ ba thành tố đó là kiến thức, kỹ năng, thái độ, trong đó kiến thức là thành tố
cơ bản nhất. Kiến thức chuyên môn vững vàng là tiền đề đầu tiên để đảm bảo hiệu
quả hoạt động của giảng viên trong cả giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Cùng
với kiến thức chuyên môn, người giảng viên cần phải nắm được các kiến thức về
môi trường hoạt động của mình là nhà trường đào tạo nghề, nắm bắt được các
chức năng, nhiệm vụ và các quy định của nó, đồng thời người giảng viên cần phải
có những hiểu biết về tâm lý, về xã hội, sư phạm để hoạt động dạy học của mình
phù hợp với sinh viên nhằm kích thích nhu cầu, động cơ và khả năng nhận thức
của họ.
Kiến thức là cơ sở cho năng lực hoạt động của giảng viên, nhưng bản thân
kiến thức không thể mang lại kết quả mong muốn nếu người giảng viên không
nắm được các kỹ năng cần thiết. Thông qua kỹ năng, kiến thức và thái độ mới
biến thành kết quả hoạt động. Kỹ năng cơ bản nhất của giảng viên là kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng sử dụng thiết bị và kỹ năng cập nhật kiến thức. Các kỹ năng này
không phải tự nhiên có được mà phải được trau dồi qua hoạt động thực tiễn, tự học, tự bồi
dưỡng, tự nghiên cứu.
Hiệu quả hoạt động của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào kiến thức, kỹ
năng mà còn phụ thuộc vào giá trị, niềm tin, thái độ và sự tận tụy của họ, các
phẩm chất cần có một thời gian dài mới được hình thành và củng cố.
Vậy, làm thế nào để người giảng viên có thể trau dồi được các kiến thức,