MỤC LỤCMỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU CHẾ XUẤT KHU CÔNG
NGHIỆP ......................................................................................... 1
1.1 Một số khái niệm ............................................................................................1
1.1.1 Khu chế xuất ..................................................................................... 1
1.1.2 Khu công nghiệp ............................................................................... 1
1.1.3 Khu công nghệ cao............................................................................. 2
1.1.4 Khu sản xuất hàng thay thế nhập khẩu.............................................. 2
1.1.5 Khu kinh tế tự do ............................................................................... 2
1.1.6 Khu mậu dòch tự do ............................................................................ 3
1.1.7 Đặc khu kinh tế ................................................................................. 3
1.2 Các loại hình khu công nghiệp ....................................................................... 3
1.2.1 Loại hình thứ nhất.............................................................................. 3
1.2.2 Loại hình thứ hai ............................................................................... 4
1.2.3 Loại hình thứ ba ................................................................................ 4
1.2.4 Loại hình thứ tư ................................................................................. 4
1.3 Một số điều kiện hình thành và phát triển khu chế xuất – khu công nghiệp ............. 4
1.4 Vai trò của khu chế xuất – khu công nghiệp đối với công cuộc công
nghiếp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam. ..........................................................6
1.4.1 Vài nét về tình hình phát triển khu chế xuất – khu công nghiệp ở
Việt Nam .......................................................................................................... 6
1.4.2 Vai trò của khu chế xuất – khu công nghiệp .................................. 15
1.5 Lợi ích về phát triển khu chế xuất khu công nghiệp trong tương lai............. 17
1.6 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển các khu chế xuất – khu
công nghiệp của các nước Châu Á ................................................................ 20
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam còn
mới mẻ so với thế giới và nhiều nước trong khu vực, nhưng đã được khẳng đònh là
mô hình sản xuất công nghiệp hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích trong giai đoạn
nền kinh tế đang chuyển đổi ở nước ta. Xây dựng và phát triển các KCX – KCN ở
nước ta còn có ý nghóa lớn là phát huy nội lực và là động lực đẩy mạnh công
nghiệp hóa đất nước. Bởi vậy đònh hướng phát triển KCX – KCN ở nước ta vừa
cấp thiết, vừa có tính chiến lược. Nghò quyết lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa 8 ghi: “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả hoạt động của các
KCX – KCN. Nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu
dòch tự do ở những đòa bàn ven biển có đủ điều kiện”. Theo tinh thần đó, Chính
phủ đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư với những quy đònh thông
thoáng, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là cho các doanh nghiệp ở KCN.
Mỗi KCN ra đời đã trở thành đòa điểm quan trọng trong việc thu hút nguồn
vốn đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo động lực lớn cho
quá trình tiếp thu công nghệ, chuyển dòch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao
động phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng công
nghiệp, chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, hạn chế tình trạng ô
nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Việc phát triển KCX – KCN thu hút đầu
tư cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các đô thò mới, phát triển các
ngành phụ trợ và dòch vụ, tạo việc làm cho người lao động, góp phần đào tạo phát
triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật.
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm phát triển KCX – KCN, bên cạnh những thành
MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
1.1.1-
KHU CHẾ XUẤT (EXPORT PROCESSING ZONE. EPZ) :
− Là loại hình đặc khu kinh tế có diện tích tương đối nhỏ, có hàng rào phân
cách về đòa lý trong một quốc gia, không có dân cư sinh sống, nhằm thu hút các doanh
nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và dòch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu.
− Khu chế xuất được hưởng nhiều ưu đãi, nhất là ưu đãi về thuế và thủ tục
hải quan, song đòi hỏi phải xuất khẩu gần như toàn bộ sản phẩm. Khu chế xuất do
Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết đònh thành lập.
1.1.2-
KHU CÔNG NGHIỆP (INDUSTRIAL PROCESSING ZONE) :
− Là hình thức tổng hợp của khu chế xuất (EPZ) và khu sản xuất hàng
thay thế nhập khẩu (IPZ). Các khu công nghiệp này có vò trí quan trọng đặc biệt
trong sự phát triển kinh tế, vì nó vừa kích thích xu hướng sản xuất hướng ra xuất
khẩu vừa động viên phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu và chế biến nguyên
liệu thô trong nước.
− Thu hút các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dòch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới đòa lý xác đònh, không có
dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết đònh thành lập.
Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
− Theo quy chế Khu công nghiệp (KCN) của Chính phủ Việt Nam thì Khu
chế xuất (KCX) và Khu công nghiệp (KCN) có những điểm giống và khác biệt
như sau:
− Khu chế xuất và khu công nghiệp đều sản xuất hàng công nghiệp, phần
lớn là hàng tiêu dùng áp dụng cơ chế quản lý đơn giản, thuận tiện, trong khu
không có dân cư sinh sống.
1
− Khu chế xuất có đặc điểm khác với khu công nghiệp là khu chế xuất
xuất khẩu 100% sản phẩm, trong khi khu công nghiệp được sử dụng một phần thò
tải, … khu vực kinh tế tự do đã được Trung Quốc áp dụng để thử nghiệm mô hình
kinh tế thò trường mở ở nước này.
− Khác với KCN, KCX là những khu vực không có dân cư sinh sống, còn
khu kinh tế tự do có diện tích lên đến hàng chục, hàng trăm km
2
với dân số hàng
triệu người, tức là ngang với quy mô của một huyện hoặc một tỉnh.
1.1.6-
KHU MẬU DỊCH TỰ DO (FREE TRADE ZONE. FTZ) :
− Loại hình này thường được áp dụng cho các thành phố có diện tích tương
đối nhỏ nhưng có vò trí đòa lý đặc biệt. Trước đây FTZ thường chỉ có chức năng
phát triển quan hệ thương mại tự do với các nước khác nhưng hiện nay các hoạt
động khác như tài chính, bảo hiểm, vận tải, nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng
đã trở thành các chức năng quan trọng của nó.
1.1.7-
ĐẶC KHU KINH TẾ:
− Là một khu vực đòa lý nhất đònh, có dân cư sinh sống, được Chính phủ
dành cho những quy chế đặc biệt so với các vùng khác của đất nước – Quy chế
này bao gồm các điều khoản ưu đãi về thuế, về chế độ hải quan, về giá thuê đất,
về sử dụng cơ sở hạ tầng và ngoại tệ, về cung cấp lao động ….
− Khác với các mô hình khác, đặc điểm của đặc khu kinh tế là mặc dù vẫn
có một ranh giới hành chính, nhưng sự phát triển của khu vực không bò giới hạn
bởi ranh giời này. Việc phát triển đặc khu tạo điều kiện cho việc tăng cường mối
quan hệ kinh tế với các vùng khác của quốc gia và đồng thời phát huy tối đa các
tác động tích cực về đầu tư, chuyển giao công nghệ và chất lượng nguồn nhân
lực. Mô hình đặc khu kinh tế có một cơ cấu kinh tế đa ngành dựa vào một cấu
trúc đô thò hiện đại với các dòch vụ cơ sở hạ tầng phát triển. Các nước phát triển
tận dụng các điều kiện thuận lợi của đặc khu kinh tế để thực hiện chuyển giao
công nghiệp, tăng hiệu quả đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
1.2.
thò trường thế giới.
1.3. MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU CHẾ
XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP :
− Có hai điều kiện chung và bốn điều kiện căn bản để xây dựng KCX – KCN:
a)
Điều kiện chung : 2 điều kiện chung để hình thành KCX – KCN trên một
Quốc gia đó là:
− Chính trò ổn đònh.
4
− Luật pháp cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm.
b)
Điều kiện cơ bản: ngoài 2 điều kiện chung nêu trên, khi xây dựng
KCX – KCN phải có những điều kiện cơ bản sau:
− Hạ tầng cơ sở phải đảm bảo sẵn sàng tiện lợi và thông suốt, nếu
chưa đáp ứng trước mắt thì phải có khả năng hoàn thiện trong thời gian phù hợp.
− Môi trường không bò ô nhiễm hoặc có nơi chấp nhận ô nhiễm nhưng
trong mức độ luật pháp cho phép.
− Lao động phải đủ sức cung ứng.
− Phải có cơ chế quản lý và chính sách năng động, phù hợp.
Ngoài ra các cấp chính quyền đòa phương phải có 3 khả năng cơ bản sau
đây mới có thể xây dựng phát triển KCX – KCN có ích cho Quốc gia:
− Về di dời đền bù: Công ty phát triển hạ tầng KCX – KCN không
những có khả năng chỉ di dời đền bù mà còn phải có khả năng xây dựng cuộc
sống mới cho người di dời ngày càng tốt hơn cuộc sống trước đó.
− Có khả năng huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng … bằng nhiều nguồn
khác nhau ở các thành phần kinh tế, cả trong nước và ngoài nước.
− Tổ chức bộ máy của Ban Quản lý các bộ phải đủ năng lực thực hiện
tốt cơ chế “một cửa – một chỗ” và phải có đội ngũ cán bộ đầu tư kinh doanh năng
CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM :
1.4.1.
VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU CHẾ XUẤT - KHU
CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM :
− Khu chế xuất (KCX) Khu công nghiệp (KCN) hình thành và phát triển
gắn liền với công việc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc
Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) với những đổi mới cơ bản về
nhận thức và tư duy về kinh tế mà trọng tâm là chủ trương chuyển từ cơ chế kinh
tế kế hoạch tập trung sang cơ chế kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Theo đó,
việc hình thành hệ thống KCX – KCN hiện nay đã thay thế mô hình KCN kiểu cũ
6
từ chỗ chỉ là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh thành nơi
thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dòch vụ công nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế.
Hàng lọat các chương trình phát triển kinh tế – xã hội được triển khai để
thực hiện Nghò quyết của Đại hội VII, trong đó có chính sách phát triển KCX –
KCN với sự ra đời KCX Tân Thuận TP.HCM (1991) và việc ban hành Quy chế
KCX (Nghò đònh 322/HĐBT của Hội đồng Bộ Trưởng ngày 18/10/1991) và Quy
chế KCN (Nghò đònh 192/CP của Chính phủ ngày 28/12/1994). Các Nghò quyết
của Đảng tại Đại hội từ năm 1986 đến nay đã hình thành hệ thống các quan điểm
nhất quán của Đảng về phát triển KCX – KCN, khẳng đònh vai trò của KCX –
KCN trong việc “tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại” như Nghò quyết Đại hội X đã nêu rõ; là cơ sở để
triển khai xây dựng quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển KCX – KCN trong
15 năm qua và trong giai đoạn tới.
Việc xây dựng và phát triển KCX – KCN giai đoạn 1991 – 2006 đã được
những kết quả sau:
− Hình thành hệ thống KCX – KCN trên cơ sở chiến lược, quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế – xã hội cả nước. Đến cuối tháng 12/2005 cả nước đã có
nhiều KCN như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương thì ưu tiên cho việc mở
rộng xem xét thành lập các KCN mới khi các KCN hiện có được doanh nghiệp
đăng ký đầu tư chiếm ít nhất 50% diện tích KCN.
8
Biểu phân bố KCX – KCN theo vùng đến tháng 12/2005
Vùng Số lượng KCX – KCN Diện tích KCX – KCN (ha)
Đồng Bằng Sông Hồng 26 4.515
Đồng Bằng Bắc Bộ 6 867
Bắc Trung Bộ 8 791
Duyên Hải Nam Trung Bộ 12 2.596
Tây Nguyên 4 463
Đông Nam Bộ 58 14.694
Đồng Bằng Sông Cửu Long 17 3.060
Cả nước 131 26.986
Nguồn : Vụ quản lý KCX và KCN – Bộ KH & ĐT
Trên cơ sở tương quan về điều kiện và tiềm năng phát triển công nghiệp của
các vùng kinh tế, các đòa phương, KCX – KCN được phân bố tập trung ở các vùng
có tiềm năng và lợi thế như Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ, Duyên Hải
Miền Trung, các Tỉnh, Thành phố thuộc chiến lược phát triển công nghiệp các
vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, miền Trung và phía Nam. Riêng 3 vùng kinh tế
trọng điểm đã chiếm tới 73% số lượng KCX – KCN cả nước (96 KCN, KCX);
vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ & Duyên Hải Nam Trung Bộ chiếm
73% (96 KCN).
Quy mô các KCX – KCN đa dạng và phù hợp với từng điều kiện và trình độ
phát triển cụ thể của mỗi đòa phương. Quy mô trung bình của các KCX – KCN
đến 12/2005 là 206 ha. Các vùng có điều kiện tương đối khó khăn, ít có lợi thế
phát triển công nghiệp được bố trí các KCX – KCN có quy mô trung bình các
có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 16.843
triệu USD. Tỷ trọng tổng vốn đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài
10
trong KCX – KCN trong tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trên cả nước tăng
dần qua các năm và đạt mức 45% năm 2005.
Nhìn lại chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển cho thấy KCX – KCN
đóng góp ngày càng quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài
ra KCX – KCN còn là một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương phát
huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước. Nếu như kế hoạch 5 năm 1991
– 1995, chỉ có gần 50 dự án đầu tư trong nước đầu tư vào KCX – KCN, thì đến kế
hoạch 5 năm 1996 -2000 số dự án trong nước tăng thêm đạt 450 dự án, tăng 9 lần
so với kế hoạch 5 năm 1991 – 1995, kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 thu hút được
1870 dự án, tăng gấp 4,16 lần so với kế hoạch 5 năm trước. Tổng vốn đầu tư trong
nước tăng thêm tương ứng trong các thời kỳ kế hoạch là 200 tỷ VNĐ, 35.000 tỷ
VNĐ và trên 80.000 tỷ VNĐ. Trong hai năm kế hoạch 5 năm 1996 – 200 và 2001
– 2005, xu hướng gia tăng đầu tư trong nước vào KCX – KCN ngày càng rõ rệt,
đặc biệt trong hai năm 2004 và 2005, số dự án trong nước còn hiệu lực đầu tư vào
các KCX – KCN đã vượt số dự án đầu tư nước ngoài. Đến cuối tháng 12/2005,
tổng số có 2.367 dự án trong nước còn hiệu lực trong KCX – KCN với tổng số
vốn đầu tư trên 113 nghìn tỷ đồng.
SỐ DỰ ÁN VÀ ĐẦU TƯ ĐĂNG KÝ CỦA CÁC KCN TỪ 1995 – 2005
Nguồn : Vụ quản lý KCN và KCX – Bộ KH & ĐT
11
Các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài trong KCX – KCN đa dạng về
hình thức đầu tư. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư dưới hình
thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (khoảng 1.820 dự án với tổng vốn
đầu tư đăng ký gần 13.600 triệu USD, chiếm 85% về số dự án và hơn 80% về
trên 22,3 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân
giá trò xuất khẩu công nghiệp của cả nước (đạt bình quân khoảng 17%/năm). Tỷ
trọng giá trò xuất khẩu các doanh nghiệp KCX – KCN trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước đã tăng từ mức khoảng 15% năm 2000 lên khoảng 20% năm
2005. Tổng trò giá trò nhập khẩu của các doanh nghiệp KCX – KCN thời kỳ 2001
– 2005 đạt được khoảng 27,3 tỷ USD, tăng bình quân khoảng 32%/năm và tăng
3,4 lần so với tổng giá trò nhập khẩu trong kế hoạch 5 năm 1996 -2000.
Các doanh nghiệp KCX – KCN bước đầu có đóng góp tích cực vào ngân
sách Nhà nước, trong thời kỳ 2001 -2005, tổng giá trò nộp ngân sách của các
doanh nghiệp KCX – KCN tăng mạnh và đạt khoảng 2 tỷ USD, tăng bình quân
khoảng 45%/năm và gấp 6 lần so với kế hoạch năm 1996 – 2000.
Đến cuối tháng 12/2005, 131 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ
tầng trên cả nước bao gồm 19 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 112 dự án trong
nước với tổng số vốn đầu tư đạt hơn 1 tỷ USD và 33 nghìn tỷ đồng. Trong đó các
KCX – KCN do doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm chủ đầu tư chiếm số lượng
lớn nhất: 45 KCX – KCN với tổng vốn đầu tư 15.673 tỷ đồng; 33 KCX – KCN
được đầu tư theo cơ chế đơn vò sự nghiệp có thu vốn tổng số vốn đầu tư hạ tầng
đạt trên 7.424 tỷ đồng, các KCX – KCN còn lại do doanh nghiệp Nhà nước làm
chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 9.835 tỷ đồng (34 KCN). Nhìn vào hình thức
đầu tư cơ sở hạ tầng KCX – KCN cho thấy nhìn chung KCX – KCN được đầu tư
theo hướng phát huy nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, trong đó khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là chủ yếu.
13
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN TỪ 1995 -2005
Nguồn : Vụ quản lý KCN và KCX – Bộ KH & ĐT
− Phát triển KCX – KCN mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh
mới có tiềm năng để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã hội. Lực
lượng lao động trong KCX – KCN gia tăng cùng với sự gia tăng các KCX – KCN
hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài là chủ yếu.
− Tạo công ăn việc làm cho người lao động , đây là một trong những mục
tiêu quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển trong quá trình xây dựng và
phát triển các KCX – KCN. Các nhà đầu tư có thể sử dụng nguồn nhân công rẻ
và khá dồi dào để tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường. Thông qua việc
thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh,
các KCX-KCN sẽ tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động tại chỗ và
các đòa phương lân cận. Người lao động tại các xí nghiệp có điều kiện phát triển
chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng lao động, sẽ là nguồn lực quý giá trong quá
trình phát triển kinh tế quốc gia.
− Giúp kiểm soát và xử lý chất thải công nghiệp có hiệu quả, đảm bảo vệ
sinh môi trường. Với qui mô thích hợp và tập trung các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp tách biệt với khu dân cư thêm vào đó các KCX - KCN được đầu tư
xây dựng các hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh và hệ thống cây xanh, thảm cỏ
nên sẽ đảm bảo cảnh quan và vệ sinh môi trường.
− Là công cụ thúc đẩy mậu dòch quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo
nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Thông thường các KCX – KCN được qui hoạch
nhằm các mục tiêu chủ yếu sau : di đời các nhà máy ra khỏi khu vực thành thò,
tránh ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước, thu hút đầu tư, tập trung sản
15
xuất hướng về xuất khẩu ( các KCX, ĐKKT). Hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế
của các doanh nghiệp sẽ làm gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu. Thông qua quá
trình sản xuất, gia công chế biến, các doanh nghiệp sẽ tạo ra phần giá trò tăng, là
nguồn thu ngoại tệ ròng của mỗi quốc gia sở tại. Ngoài ra các quốc gia còn có
nguồn thu ngoại tệ khác thông qua việc xuất khẩu lao động tại chỗ, hoạt động gia
công chế biến cho các doanh nghiệp đang KCX – KCN, ĐKKT …
− Là công cụ công nghiệp hoá và qui hoạch tổng thể quốc gia. Các KCX –
KCN với hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và được hưởng chính sách ưu đãi của
Nhà nước, có thể nói đây là nơi lý tưởng để tiến hành các hoạt động sản xuất công
gia của sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam, đảm bảo sức cạnh tranh của hàng
hoá Việt Nam trên trường quốc tế và trước hết là các nước trong khu vực.
1.5.
LI ÍCH VỀ PHÁT TRIỂN KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
TRONG TƯƠNG LAI :
Trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam năm 2010, Đảng và Nhà
nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển những vùng, ngành kinh tế trọng điểm. Chủ
trương của Đảng và Nhà nước là phấn đấu hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá
- hiện đại hoá đất nước vào năm 2020. Lúc đó, sản phẩm nông nghiệp sẽ chỉ
chiếm 10%, GDP và các KCX – KCN được xây dựng ở các miền đất nước sẽ trở
thành xương sống của nền kinh tế quốc dân. Chính phủ đã ban hành qui chế KCX
– KCN nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trong nước để xây dựng cơ sở hạ
tầng các KCX – KCN tạo điều kiện đầu tư dễ dàng và hấp dẫn, giảm nhẹ các thủ
tục hành chánh do thực hiện chế độ “ một cửa, một dấu” … thu hút các công ty
nước ngoài và công ty trong nước thiết lập các xí nghiệp công nghiệp ở đây. Các
nhà kinh tế thế giới trong diễn đàn kinh tế Việt Nam vừa qua đã đánh giá rằng
việc cho ra đời các KCX – KCN là bước tiến lớn của Việt Nam trong quá trình
theo đuổi cơ chế thò trường. Nền kinh tế Việt Nam cũng không phải chỉ hướng
17
vào các xí nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu. Một thò trường với 83 triệu
dân với mức độ tăng trưởng GDP hàng năm có sức thuyết phục rất lớn.
Việc hình thành KCX – KCN làm tăng trưởng nhanh và vững chắc tổng sản
phẩm quốc nội , tạo việc làm. Việc tập trung các doanh nghiệp trong các KCX –
KCN sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và xử lý chất thải công
nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả vốn
đầu tư. Vì rằng trong KCX – KCN các doanh nghiệp dùng chung các công trình hạ
tầng nên giảm được chi phí trên một đơn vò điện tích và đơn vò sản phẩm.
− Các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi liên kết, hợp tác với nhau, đổi
mới công nghệ, nâng cao hiệu qủa và sức cạnh tranh tạo điều kiện thuận lợi hơn
đầu tư, nguồn nhân lực, khả năng hoàn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng. Phát triển
các KCX – KCN là giải pháp quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư sản xuất
công nghiệp và kinh doanh dòch vụ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo vệ
môi trường sinh thái thông qua kiểm soát chất thải và nước thải công nghiệp, giải
quyết việc làm cho nhiều lao động, tiếp thu công nghệ mới ở số lónh vực, sử dụng
đất có hiệu quả cao, thực nghiệm cơ chế quản lý tiếp cận với thông lệ quốc tế,
góp phần hình thành các đô thò mới.
Mô hình phát triển KCN là đúng đắn, đáp ứng việc phát triển công nghiệp
nói riêng và về kinh tế xã hội nói chung theo qui hoạch lâu dài và bền vững.
KCN là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Với sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, sự hổ trợ của các cấp, các ngành, hoạt động của KCX – KCN Việt Nam sẽ
phát triển lên tầm cao hơn trong thời gian tới.
Theo đề án điều chỉnh qui hoạch phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam
thời kỳ 2005 – 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tờ trình 3678/TTr-
BKH ngày 2/6/2005) từ năm 2005 đến 2010 dự kiến thành lập mới (có chọn lọc)
19
trên cả nước 132 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 25.229 ha. Vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có 24 KCN, vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có 9
KCN và vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ có 34 KCN nằm trong danh mục qui
hoạch đến 2010 .
Tóm lại, các thành tựu đã đạt được trong hơn 15 năm xây dựng và phát
triển trước hết thể hiện chủ trương đúng đắn của việc phát triển mô hình KCX –
KCN của Đảng và Nhà nước ta, sau nữa thể hiện vai trò lợi ích không thể thiếu
của KCX – KCN trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cuối cùng đặt
ra cho các cơ quan quản lý nhà Nhà nước trung ương và đòa phương mục tiêu khắc
phục yếu kém đang tồn tại, nâng cao hơn nữa hiệu quả và vai trò của KCX –
KCN trong thời gian tới.
1.6.
NHỮNG BÀI HỌC RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM PHÁP TRIỂN CÁC
và 0,78% dân số cả nước. Ngoài ra 5 đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã đạt được
giá trò xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài xấp xỉ 1/3 cả nước.
− Các đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã khai thác các lợi thế vò trí đòa lý
và các chính sách ưu đãi dành cho đặc khu kinh tế nhằm thu hút FDI và cầu nối
hợp tác kinh tế với các khu vực khác trong nội đòa. Đây là những khu vực phát
triển rất nhanh cả về kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế thò trường và
công nghiệp hướng theo xuất khẩu hoạt động một cách tốt nhất. Hiện nay 5 đặc
khu kinh tế là khu vực phát triển nhất của đất nước. Từ sự thành công của đặc khu
kinh tế Trung Quốc có thể rút ra được 1 số bài học sau :
− Bài học 1 : Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã đánh giá đúng
tình hình và kiên trì thực hiện một chính sách lớn.
Những năm đầu, do đặc khu còn trong thời kỳ khó khăn, thu hút đầu tư
nước ngoài còn tự phát, chưa có quy hoạch, lối sống thực dụng phát triển, nên có
không ít ý kiến đòi xóa bỏ. Nhưng với quyết tâm cao, kiên trì theo đuổi, từ năm
1992 thì đặc khu kinh tế mới thực sự bước vào thời kỳ phát triển hướng ngoại, hội
nhập quốc tế và sự thống nhất nhận thức được nâng lên từ đây.
21