1
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN,
HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM.
1.1. Hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.1.1. Khái niệm nguồn vốn huy động.
Vốn huy động được hiểu là nguồn vốn mà các NHTM huy động được từ
những nguồn vốn tạm thời trong nền kinh tế. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu
và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng, vốn huy động là cơ sở để ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ sinh lời, tạo lợi nhuận cho ngân hàng.
1.1.2. Nguyên tắc huy động vốn.
Việc huy động vốn phải trên cơ sở nhu cầu cho vay. Ngân hàng phải tính toán
nhu cầu cho vay để xác định số vốn cần huy động. Phải đảm bảo cân đối giữa huy
động vốn và sử dụng vốn về quy mô, về thời hạn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của ngân hàng.
Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ,
đúng hạn cả vốn lẫn lãi theo thỏa thuận trước giữa ngân hàng và khách hàng.
1.1.3. Mục tiêu huy động vốn.
− Tìm kiếm nguồn vốn rẻ.
− Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.
− Xây dựng quy mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định.
− Điều hành tốt nguồn vốn phục vụ kinh doanh.
1.1.4. Vai trò của hoạt động huy động vốn.
Đối với nền kinh tế.
Chức năng huy động nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng có vai trò quan trọng
trong việc thúc đầy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho
2
quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất. Nhờ đó,
ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân
chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đối với NHTM.
tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng
cho tương lai.
Mặc khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an
toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.
Nghiệp vụ huy động vốn còn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch
vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu
dùng.
Vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển, ngoài vốn chủ sở hữu, các ngân hàng
còn phải chú trọng tới việc tăng trưởng nguồn vốn nghĩa là phải làm tốt công tác
huy động vốn.
1.1.5. Ý nghĩa của hoạt động huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân
hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có nghiệp vụ huy động vốn xem
như không có hoạt động của NHTM. Một NHTM khi được cấp phép thành lập phải
có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên, vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố
định chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như
cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn phục vụ cho hoạt động này
ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng. Do vậy, nghiệp vụ huy động vốn có ý
nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng.
4
Nghiệp vụ này góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không đủ
nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động của mình. Mặc khác, thông qua nghiệp vụ huy
động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách
hàng đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng mới có các biện pháp không ngừng hoàn
thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Có
thể nói, nghiệp vụ huy động vốn đã góp phần giải quyết “ đầu vào” cho ngân hàng.
1.2. Các hình thức huy động vốn của NHTM.
1.2.1. Huy động từ tài khoản tiền gửi.
lời. Đối với khách hàng đây là một tài khoản mà họ ký gửi, ủy nhiệm cho ngân hàng
bảo quản và thực hiện các nghiệp vụ liên quan theo yêu cầu của họ. Khách hàng gửi
tiền không mất quyền sở hữu cũng như quyền sử dụng số tiền đó, họ có quyền lấy
ra hoặc chuyển nhượng, chi trả bất kỳ lúc nào và bất kỳ ai. Khách hàng sử dụng số
tiền của mình bằng cách lập ủy nhiệm chi, dùng sec, thẻ chi trả.
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ ngân hàng luôn phải trả cho khách
hàng bất kỳ lúc nào, ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu chi trả của họ, nếu chậm trễ
coi như ngân hàng bị vi phạm và phải chịu phạt theo luật định.
Tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là khoản tiền qua lại giữa chủ nợ và con nợ. Dư có thể hiện tiền gửi của
khách hàng. Trường hợp gửi tiền dưới hình thức này là do khách hàng không có
điều kiện hoặc không muốn mở tài khoản tiền gửi thanh toán mà chỉ mở tài khoản
tiền gửi không kỳ hạn và gửi tiền vào nhằm mục đích an toàn, khi cần đến ngân
hàng rút tiền ra để chi tiêu. Ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu của khách hàng, khi
6
họ có nhu cầu rút tiền ra, ngân hàng cũng có thể sử dụng tồn khoản nhưng phải đảm
bảo khả năng thanh toán chi trả.
1.2.1.2. Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là những giá trị tiền tệ mà khách hàng gửi vào ngân hàng
nhưng có thoả thuận thời gian rút tiền và khách hàng không được phép rút tiền
trước thời hạn. Mục đích chính của người gửi tiền là sinh lời và ngân hàng có thể
chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này vì tính thời hạn của nguồn vốn. Mức lãi
suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thoả thuận giữa ngân hàng và
khách hàng trên cơ sở xem xét mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ
cung cầu về vốn tại thời điểm đó. Tuy nhiên, để tạo tính lỏng cho các loại tiền gửi
có kỳ hạn mà từ đó hấp dẫn khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng rút
tiền trước kỳ hạn, tuỳ theo chính sách của mỗi ngân hàng mà có hình thức trả lãi
phù hợp.
1.2.1.3. Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với mục
các loại tiết kiệm nội tệ, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người gửi, tạo niềm tin để
khuyến khích dân cư gửi vào ngân hàng ngày càng lớn.
1.2.2. Phát hành giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều
kiện trả lãi và điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.
Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn
trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào
đó. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên
thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Các giấy tờ có giá ngân hàng thường phát hành để huy động vốn gồm:
Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
8
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định
và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được
hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ
cấp. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360
ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn.
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình trạng
tài chính của ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs. Mức lãi suất
của CDs do ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín
phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi ro của từng
ngân hàng. Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất giúp các
NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường cạnh tranh
mới.
Trái phiếu:
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối
với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất
định. Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn
trung và dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc phát hành
nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết
kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Chủ nhân của các khoản tiền gửi tiết kiệm thường là cá nhân và hộ gia đình.
Họ gửi vào ngân hàng các khoản thu nhập chưa sử dụng trong kỳ hiện tại, không vì
mục đích giao dịch mà vì nhu cầu tiết kiệm để tiêu dùng trong tương lai.
Việc đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng có thể được thiết kế theo những kỹ thuật
khác nhau. Về nguyên tắc, người gửi tiết kiệm có quyền rút tiền khi đến hạn nếu là
tiền gửi tiết kiệm có kì hạn. Tuy nhiên nếu là tiền tiết kiệm không kỳ hạn thì người
10
gửi được rút theo yêu cầu và ngân hàng có thể thanh toán trong một khoảng thời
gian tương đối ngắn.
Đối với ngân hàng, tiền tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, cho phép ngân
hàng chủ động trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời. Tuy nhiên, ngân
hàng phải chịu các khoản phí tương tự như tiền gửi không kỳ hạn, song tiền lãi mà
ngân hàng trả cho tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn.
1.3.2. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm.
− Chiếm tỷ trọng cao và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động huy động vốn của
NHTM.
− Là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, phải mua bảo hiểm tiền gửi.
− Là nguồn vốn tương đối ổn định, phát triển với tiềm tàng lớn trong dân.
− Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: trong suốt thời gian gửi khách hàng không
được nộp thêm tiền vào sổ tiết kiệm đã gửi.
− Là nguồn vốn rất nhại cảm với lãi suất, đặc biệt là vốn ngắn hạn.
− Nguồn thu nhập, thói quen tiêu dùng và xu hướng tiết kiệm của người dân ảnh
hưởng đến quy mô và thời hạn tiền gửi.
− Đa dạng, phong phú về kỳ hạn gửi (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) và loại tiền gửi
( VNĐ, ngoại tệ).
1.3.3. Các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
1.3.3.1. Thủ tục gửi tiền tiết kiệm.
Đối với khách hàng gửi tiền lần đầu.
gửi tiết kiệm, đảm bảo việc nhận tiền gửi tiết kiệm tiện lợi, chính xác và an toàn.
Đối với giao dịch gửi tiền vào thẻ tiết kiệm đã cấp, người gửi tiền có thể thực
hiện trực tiếp hoặc gửi thông qua người khác theo quy định của tổ chức nhận tiền
gửi tiết kiệm.
1.3.3.2. Rút gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm.
− Người gửi tiền thực hiện các thủ tục sau:
• Xuất trình thẻ tiết kiệm.
12
• Nộp giấy rút tiền có chữ ký đúng với chữ ký mẫu đã đăng ký tại tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm.
• Đối với cá nhân Việt Nam phải xuất trình CMND hoặc hộ chiếu còn thời
hạn hiệu lực. Đối với người gửi tiền là cá nhân nước ngoài phải xuất trình
hộ chiếu được cấp thị thực còn thời hạn hiệu lực; nếu người gửi tiền nhập
cảnh miễn thị thực theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, thì xuất trình
hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực.
• Đối với người gửi tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật,
người gửi tiền phải xuất trình các giấy tờ chứng minh tư cách người giám
hộ hoặc người đại diện theo pháp puật của ngưởi chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự.
− Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm cho phù
hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của mình, đảm bảo việc chi trả tiền gửi tiết
kiệm chính xác và an toàn.
− Đồng tiền chi trả gốc và lãi là đồng tiền mà người gửi tiền đã gửi. Đối với tiền gửi
tiết kiệm bằng ngoại tệ, khi người gửi tiền có yêu cầu, tổ chức nhận tiển gửi tiết
kiệm có thể chi trả gốc và lãi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá do tổ chứ nhận tiền
gửi tiết kiệm quy định. Việc chi trả đối với ngoại tệ lẻ được thực hiện theo quy định
của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
− Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, trường hợp ngày đến hạn thanh toán trùng với
ngày nghỉ, ngày nghỉ lễ theo quy định của pháp, việc chi trả gốc và lãi tiền gửi tiết
kiệm được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo đầu tiên.
giao dịch thanh toán như tiền gửi thanh toán.
1.3.4.2. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
14
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho khách hàng là cá nhân và tổ chức có
nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng
trong tương lai.
Đối tượng chủ yếu của loại tiền gửi này thường là cá nhân có thu nhập thường
xuyên và ổn định.
Mục tiêu quan trọng của khách hàng khi lựa chọn hình thức gửi tiền này là
sinh lợi, do đó, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút loại khách hàng này.
Lãi suất trả cho tiền gửi có kỳ hạn cao hơn cho tiền gửi tiết kiệm không kỳ
hạn. Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi theo loại kỳ hạn gửi, tùy theo loại tiền gửi.
Khi gửi tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng thường chỉ được rút vốn khi đến hạn,
nếu rút trước hạn phải được sự đồng ý của ngân hàng và chỉ được hưởng mức lãi
suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Đến hết kỳ hạn gửi tiền (đáo hạn), nếu khách hàng không rút tiền ngân hàng sẽ
nhập tiền lãi vào gốc và tái gửi tự động theo kỳ hạn ban đầu khách hàng đăng ký.
Đặc biệt với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, sổ tiết kiệm đều có thể được xem là
tài sản cầm cố, thể chấp để vay vốn khi khách hàng cần hay là chứng từ có giá để
chiết khấu đối với một số ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể chia thành nhiều loại. Việc phân chia tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm sản phẩm tiền gửi của ngân
hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu cầu tiền gửi đa dạng
của khách hàng.
1.3.4.3. Tiền gửi tiết kiệm khác.
Để đa dạng hóa và tạo thêm tiện ích của sản phẩm tiết kiệm, nhằm mục đích
thu hút khách hàng giúp ngân hàng tăng thêm thị phần huy động, ngân hàng còn
đưa ra một số loại hình tiết kiệm mới như:
− Tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo số dư.
15
thu hút được nhiều nguồn tiền nhàn rỗi cũng như thu được nhiều lợi nhuận từ các
dịch vụ khác.
Sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ thể hiện thông qua sự đa dạng về kỳ hạn, về
loại hình sản phẩm dịch vụ, về đối tượng gửi tiền. Danh mục sản phẩm dịch vụ càng
đa dạng và phong phú, khách hàng càng có nhiều sự lựa chọn để thỏa mãn nhu cầu
của mình.
1.4.1.3. Thời gian giao dịch.
Thời gian giao dịch của ngân hàng càng nhiều thì số lượng người đến giao
dịch càng đông và nhờ đó khối lượng nguồn vốn huy động ngày càng lớn.
Hiệ nay, các ngân hàng chủ yếu giao dịch trong giờ hành chánh đều này rất bất
tiện cho những người cũng làm trong giờ hành chánh, họ khó mà thuận tiện giao
dịch được với ngân hàng. Một số ngân hàng phải tăng giờ giao dịch bằng cách phân
công nhân viên làm việc theo ca hoặc làm việc ngoài giờ hành chính, tạo điều kiện
cho khách hàng đến giao dịch mà không ảnh hưởng đến công việc của họ.
1.4.1.4. Chính sách khách hàng.
Chính sách khách hàng bao gồm các chính sách và giải pháp mà ngân hàng
xây dựng và áp dụng nhằm khuyến khích khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ
của ngân hàng mình. Các chương trình này có thể là các chương trình khuyến mãi,
tặng quá, quay số trúng thưởng,
Nếu ngân hàng áp dụng chính sách tốt và hiệu quả đối với khách hàng nhát
định sẽ thu hút một lượng lớn khách hàng đối với ngân hàng và nhờ vậy sẽ tăng
lượng vốn huy động của ngân hàng.
1.4.1.5. Uy tín và năng lực tài chính của ngân
hàng.
17
Năng lực tài chính là một trong những thế mạnh trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Một ngân hàng có
nguồn lực tài chính tốt sẽ có nguồn lực để phát triển hoạt động kinh doanh, tạo được
sự tin tưởng từ nhà đầu tư và khách hàng. Ngược lại, tình hình tài chính của ngân
hàng có vấn đề sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh cũng như mất đi lòng
Chính sách tiền tệ của NHTW tác động đến công tác huy động vốn của
NHTM qua công cụ của chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu điều tiết,
tăng giảm lượng tiền cung ứng cho lưu thông, đồng thời có tác dụng đảm bảo khả
năng thanh toán nhất định của tổ chức tín dụng. Trong từng thời kỳ cụ thể mà tỷ lệ
dự trữ bắc buộc là khác nhau. Nếu tỷ lệ dự trữ cao đối với loại hình tiền gửi nhất
định sẽ không khuyến khích ngân hàng mở rộng việc huy động loại tiền gửi này vì
chi phí huy động cao.
Nếu quy định của ngân hàng về lãi suất hợp lý, phù hợp với diễn biến thị
trường sẽ góp phần ổn định thị trường, tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn và
cho vay của ngân hàng cạnh tranh một cách lành mạnh.
1.5. Một số quy định về huy động tiền gửi tiết kiệm.
1.5.1. Đối tượng.
Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam
và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.
19
1.5.2. Phạm vi áp dụng.
Ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân được nhận tiền gửi tiết kiệm
của mọi cá nhân theo các loại kỳ hạn khác nhau.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ một
năm trở lên của mọi cá nhân.
Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, tổ chức tín
dụng 100% vốn nước ngoài, phạm vi nhận tiền gửi tiết kiệm được thực hiện theo
quy định hiện hành của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về đối tượng gửi tiền, kỳ
hạn và mức huy động tối đa.
Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm theo
quy định tại giấy phép hoạt động và các văn bản pháp luật khác có liên quan về tiền
gửi tiết kiệm.
giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi; phối
hợp xử lý kịp thời các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả năng
chi trả, vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ quá
hạn cao.
Trường hợp tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, Ban
Kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm thông báo định kỳ về tình hình hoạt động của tổ
chức đó cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để phối hợp xử lý.
Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả
năng chi trả nhưng chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, tổ chức
bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ dưới các hình thức sau:
− Cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm;
− Bảo lãnh cho các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả tiền gửi được bảo hiểm.
− Mua lại nợ trong trường hợp khoản nợ đó có tài sản bảo đảm.
Việc hỗ trợ này do Hội đồng quản trị tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét quyết
định.
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ tiến hành các biện pháp hỗ trợ sau khi xác định
rằng việc tiếp tục hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đang gặp
21
khó khăn có vai trò quan trọng đối với sự bảo đảm an toàn của toàn hệ thống và sự
ổn định chính trị, kinh tế và xã hội.
Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có
văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó mất khả năng thanh toán, tổ chức bảo
hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo nguyên tắc được qui định tại Điều 4 của Nghị
định này.
Số tiền gửi (gồm gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền
gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với qui định của Luật Phá sản.
Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện thông qua các
ngân hàng, hoặc theo thoả thuận với người gửi tiền.
CHƯƠNG 2.GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP
PHƯƠNG NAM – PGD XÓM CỦI.
2.1. Giới thiệu Ngân hàng TMCP Phương Nam – PGD Xóm
Củi.
2.1.1. Quá trình hình thành của PGD Xóm Củi.
Nhằm mở rộng quy mô hoạt động và thực hiện những dự kiến, kế hoạch phát
triển đã đề ra, vào ngày 26/09/2006 Ngân hàng TMCP Phương Nam đã khai trương
PGD Quận 8 và đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 27/09/2006, trụ sở chính
được đặt tại số 23 Xóm Củi, phường 11, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó,
đến năm 2008 PGD Quận 8 được đổi tên thành PGD Xóm Củi và tháng 7/2011
chuyển trụ sở sang số 384 – 386 Tùng Thiện Vương, phường 13, quận 8, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Cùng với sự phát triển của các NHTM và các ngân hàng quốc doanh trong
thời gian đó, Ngân hàng TMCP Phương Nam – PGD Xóm Củi đã được thành lập
nhằm mở rộng thị phần của ngân hàng Phương Nam và phát triển kênh phân phối
bán lẻ để đáp ứng một cách nhanh nhất nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng Phương
Nam – PGD Xóm Củi từ khi thành lập đến nay đã không ngừng đổi mới, nâng cấp
cơ sở vật chất kỹ thuật, gia tăng số lượng nhân viên về số lượng và chất lượng phục
vụ với mục đích cuối cùng là tạo sự thỏa mãn tối đa cho khách hàng khi tiếp cận với
hệ thống ngân hàng. Hiện tại thì PGD Xóm Củi hoạt động với 4 phòng ban gồm:
phòng Trưởng phòng, phòng Phó phòng, phòng Kinh doanh và phòng Kế toán -
Ngân Quỹ.
2.1.2. Nhiệm vụ và chức năng của PGD Xóm Củi.
Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi của các pháp
nhân, cá nhân trong và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ theo quy định
của NHNN và Ngân hàng TMCP Phương Nam
24
Cho vay ngắn, trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ
chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theo sự ủy nhiệm của giám đốc Ngân hàng
TMCP Phương Nam.
từ và
Thẫm
định tài
sản
Phó phòng
Phòng Kế toán -
Ngân quỹ
Teller
Ngân
quỹ
Kiểm
soát
viên
25
2.2. Hệ thống tổ chức của Ngân hàng TMCP Phương Nam –
PGD Xóm Củi.
2.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PGD Xóm Củi.
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức của PGD Xóm Củi
( Nguồn: Ngân hàng TMCP Phương Nam – PGD Xóm Củi)
2.2.2. Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban.
Trưởng PGD: là người đứng đầu PGD, điều hành mọi hoạt động của PGD,
chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, giám đốc và trước pháp luật về các hoạt
động của PGD.