Quản lý Khoa Ngoại ngữ, Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÝ LAN HƢƠNG

QUẢN LÝ KHOA NGOẠI NGỮ, TRƢỜNG CAO ĐẲNG

HÀ NỘI - 2010 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CĐ
Cao đẳng
2. CBQL
Cán bộ quản lý
3. ĐNGV
Đội ngũ giảng viên
4. ĐH
Đại học
5. QL, QLGD

Kiểm tra - đánh giá

2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Phạm vi nghiên cứu

Quản lý hoạt động
17
1.3.
Vai trò, vị trí cấp khoa trong quản lý nhà trường cao đẳng, đại học

17
1.3.1.
Khái niệm trường cao đẳng, khoa trong trường cao đẳng
17
1.3.2.
Nội dung hoạt động cấp khoa
20
1.3.3.
Vai trò của hoạt động cấp khoa đối với hoạt động của nhà trường
21
1.3.4.
Đặc thù của chương trình đào tạo cao đẳng
21
1.3.5.
Đặc thù của khoa ngoại ngữ trong trường cao đẳng
24
1.4.
Quản lý cấp khoa của trường cao đẳng trong bối cảnh mới
25
1.4.1.
Đặc thù của quản lý cấp khoa của chương trình đào tạo cao đẳng
25
1.4.2.
Nội dung quản lý cấp khoa
26

Tình hình sinh viên do khoa chịu trách nhiệm giảng dạy
38
2.2.3.
Chương trình đào tạo
42
2.2.4.
Hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ dạy - học, nghiên cứu
43
2.2.5.
Thực trạng cơ sở vật chất, phương tiện - kỹ thuật phục vụ hoạt
động dạy -học

45
2.3.
Thực trạng quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương
mại và Du lịch Hà Nội

46

3.1.1.
Nguyên tắc đồng bộ
67
3.1.2.
Nguyên tắc khả thi
67
3.1.3.
Nguyên tắc kế thừa và phát triển
67
3.2.
Các biện pháp quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương
mại và Du lịch Hà Nội

68
3.2.1.
Nhóm biện pháp bồi dưỡng CBQL kiến thức và kỹ năng QL
khoa hiệu quả 68 4
3.2.2.
Biện pháp đổi mới QL hoạt động giảng dạy của giáo viên
76
3.2.3.
Biện pháp đổi mới QL hoạt động học tập của sinh viên
82
3.2.4.

103
PHỤ LỤC
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình hội nhập quốc tế mang đến cho chúng ta những cơ hội chưa
từng có để phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực, song cũng đặt ra cho chúng ta
những thách thức to lớn, đặc biệt về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho
phát triển kinh tế - xã hội. Trong xu thế hội nhập, nguồn nhân lực có chất
lượng, ngoài các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ là những tiêu chuẩn nhất thiết. Ngoại ngữ
đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, giáo dục,

không tốt tới chất lượng đào tạo.
Là giáo viên giảng dạy lâu năm môn Tiếng Anh ở khoa và tham gia quản
lý khoa, tôi nhận thấy việc quản lý khoa chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đối
với một khoa chuyên ngành của trường cao đẳng trong giai đoạn mới. Để đảm
bảo và nâng cao chất lượng quản lý khoa cần phải đánh giá đúng thực trạng
công tác quản lý, phân tích rõ điểm mạnh, điểm yếu, chỉ ra nguyên nhân trên cơ
sở đó đưa ra biện pháp tạo nên sự đổi mới trong quản lý khoa, góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ và tin học cho sinh viên đồng thời góp
phần đổi mới công tác quản lý nhà trường đúng với tầm của một trường cao
đẳng. Được học tập và nghiên cứu tại khoa Sư phạm, Đại học quốc gia Hà Nội,
với luận văn tốt nghiệp của mình tôi chọn đề tài “Quản lý khoa Ngoại ngữ,
trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tế, đề xuất các biện pháp quản lý khoa
Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội để góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo của khoa.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động của khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng
Thương mại và Du lịch Hà Nội.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao
đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội. 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý khoa Ngoại ngữ, trường
Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội.
- Đề ra những biện pháp quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương
mại và Du lịch trong giai đoạn hiện nay.

cấp khoa ở trường Cao đẳng, Đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương
mại và Du lịch Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý khoa Ngoại ngữ, trường Cao đẳng Thương
mại và Du lịch Hà Nội.

9
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CẤP KHOA Ở
TRƢỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

quản lý hoạt động cấp khoa nói chung, như tác giả Nguyễn Khánh Hiếu với đề
tài: “Một số biện pháp quản lý nhằm phát huy hiệu quả hoạt động ở cấp khoa
của trường Cao đẳng Du lịch Hà nội trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn
Thanh Hải nghiên cứu: “Một số biên pháp quản lý chất lượng đào tạo của khoa
Quản lý doanh nghiệp của trường Đại học Dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà
Nội”, tác giả Thân Thị Hoa Chi với luận văn: “Các biện pháp quản lý dạy học
Tiếng Anh của khoa tại chức - Đại học Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, tác
giả Mai Hồng Quảng với nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động ở cấp khoa
tại trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn”. Cho đến nay, hầu như chưa có công
trình nào nghiên cứu về quản lý một khoa cụ thể cũng như một khoa Ngoại ngữ
của trường cao đẳng. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý khoa Ngoại ngữ,
trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ cho SV của trường CĐ
Thương mại và Du lịch Hà Nội.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Ngay từ khi loài người xuất hiện, con người đã biết liên kết lại với nhau
thành những nhóm để chống lại thiên nhiên, chống lại thú dữ đảm bảo sự sinh
tồn. Cũng từ đó các mối quan hệ của con người xuất hiện: quan hệ giữa con
người với tự nhiên, con người với con người, con người với xã hội, con người
với chính bản thân mình. Những mối quan hệ này ngày càng đan xen, phức tạp
hơn, đặc biệt là mối quan hệ giữa con người với con người. Trong quá trình phát
triển của những nhóm người này bắt đầu xuất hiện những người có năng lực chi
phối người khác, có khả năng giải quyết, điều hành những công việc chung để
đạt được mục tiêu của nhóm. Họ là những thủ lĩnh, những người quản lý nhóm.
Hoạt động quản lý ra đời như một tất yếu để gắn kết các cá nhân của một nhóm,
một tổ chức hướng tới mục tiêu chung. Hoạt động quản lý tồn tại và phát triển
cùng với sự phát triển của loài người.
Henry Fayol thì cho rằng: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các
khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên
trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt
mục tiêu đã định trước.
 
21,17

Xất phát từ những góc nhìn khác nhau nhiều nhà nghiên cứu về quản lý
của Việt Nam đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này. Trong đó
phải kể đến nghiên cứu của các tác giả Nguyễn quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ 12
Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các
hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”
 
5,1
.
Các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước có thể
khác nhau song có thể hiểu một cách cụ thể quản lý là hệ thống những tác động
có chủ định, phù hợp với qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý (đối tượng quản lý) nhằm khai thác và vận dụng tôt những tiềm năng và
cơ hội của khách thể quản lý để đạt đến mục tiêu quản lý trong môi trường luôn
biến động.
Có thể thấy rõ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ
biện chứng. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một tổ chức. Chủ thể
quản lý tạo ra động lực quản lý thúc đẩy khách thể quản lý tạo ra các giá trị vật
chất, tinh thần đáp ứng nhu cầu của chính khách thể quản lý và thỏa mãn mục
đích của chủ thể quản lý. Trong quá trình này hiệu quả quản lý phụ thuộc vào
các yếu tố chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý.

được hình thành, nó đã được quản lý trên bình diện thực tiễn như bất kỳ hoạt
động nào khác của xã hội loài người. Vì vậy quản lý giáo dục (QLGD) được
hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan. QLGD là một bộ phận quản
lý nhà nước và là một chuyên ngành khoa học. Có nhiều định nghĩa về QLGD,
dưới đây là một số định nghĩa cơ bản:
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động
điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
 
1

Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: “QLGD là quản lý trường học, thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là
đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục
đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và tới từng học sinh”.
 
16

GS Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hoạt động có mục đích,
có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính
Công cụ quản

Mục tiêu
quản lý
Chủ thể
quản lý
Khách
thể quản


lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”
 
24,37 38

Như vậy, cho dù ở cấp độ nào QLGD cũng luôn hướng tới việc sử dụng
mọi nguồn lực dành cho giáo dục một cách có hiệu quả để đạt mục tiêu giáo dục
có chất lượng nhất.
1.2.3. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những chức năng gắn liền với hoạt động quản lý của
cá chủ thể quản lý. Thực chất chức năng quản lý chính là các dạng hoạt động
tương đối độc lập được tách ra từ hoạt động quản lý. Bốn chức năng cơ bản của
quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo (chỉ đạo) và kiểm tra. Các chức năng
quản lý được coi là những hoạt động nghiệp vụ đặc trưng của người quản lý.
15
- Chức năng kế hoạch hóa
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Kế hoạch
hóa có ghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ
chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục đích, mục tiêu
đó”.
 
21 3

Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là xác định, hình thành
mục tiêu đối với tổ chức, xác định và đảm bảo các nguồn lực của tổ chức để đạt
được mục tiêu và quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được
mục tiêu đó. Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch. Có
ba loại kế hoạch sau:

hợp, hiệu quả.
Để thực hiện tốt chức năng kiểm tra cần chú ý tới ba yếu tố cơ bản; xây
dựng tiêu chí chuẩn thực hiện, đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với
tiêu chuẩn, điều chỉnh hoạt động hoặc điều chỉnh kế hoạch, mục tiêu nếu có sự
sai lệch do các yếu tố khách quan mang lại.
Các chức năng có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng hỗ trợ, bổ
xung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý khép kín. Chu trình này không
thể thiếu một yếu tố vô cùng quan trọng là thông tin. Thông tin có vai trò điều
khiển và là phương tiện để thưc hiện các chức năng quản lý.
Có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các chức năng quản lý theo sơ đồ dưới
đây:
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Kế hoạch
hóa
Kiểm tra
Chỉ đạo
Tổ chức
Thông tin 17

giáo dục đào tạo nhà trường được giao phó.
QLNT là tổ hợp những hoạt động quản lý toàn diện, bao gồm:
- Quản lý đội ngũ nhà giáo
- Quản lý học sinh
- Quản lý quá trình dạy học - giáo dục 18
- Quản lý cơ sở vật chất - trang thiết bị trường học
- Quản lý tài chính trường học
- Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
1.2.4.2. Quản lý nhà trường cao đẳng, đại học
Cao đẳng, đại học là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, quản
lý nhà trường cao đẳng, đại học trước hết phải tuân theo những nguyên tắc quản
lý trường học nói chung. Song đây là bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục
quốc dân nên quản lý trường cao đẳng, đại học có những đặc điểm riêng.
Trước hết nói về đội ngũ nhà giáo. Luật Giáo dục qui định ở điều 77 về
trình độ chuẩn đội ngũ nhà giáo: “Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và chứng
chỉ bồi dưỡng nghệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học;
có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận
văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn
luận án tiến sĩ”. Đội ngũ nhà giáo trong các trường cao đẳng, đại học đều là
những người có trình độ học vấn cao, họ gắn kết với nhau bằng hệ thống mục
tiêu, cùng có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục sinh viên, cùng chịu sự ràng buộc
của những qui tắc có tính hành chính của ngành và của nhà nước. Quản lý đội
ngũ nhà giáo cao đẳng, đại học là quản lý đội ngũ trí thức. Người quản lý phải
nắm bắt được đặc thù của đội ngũ trí thức là ở chỗ lao động trí óc sáng tạo theo
thiên hướng cá nhân. Tính đặc thù còn thể hiện qua những nét đặc trưng của lĩnh
vực sản xuất tinh thần, trong đó sản xuất trí tuệ không phải lúc nào cũng có thể
trở thành hành hóa và có thể hạch toán kinh tế được. Nhà quản lý phải biết xử lý

viên, người quản lý hướng sinh viên tới những hoạt động nhằm khuyến khích họ
tự tìm hiểu, khám phá tri thức nghề nghiệp; tạo điều kiện để họ rèn luyện kỹ
năng và đạo đức nghề nghiệp; giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho sinh viên.
Trong nhà trường, hoạt động dạy học - giáo dục là hoạt động cơ bản, nó
quyết định sự tồn tại của nhà trường. Quá trình dạy học - giáo dục trong nhà
trường cao đẳng đại học có đặc thù là quá trình nhận thức mang tính tự giác
cao. Quá trình này gắn liền với ngành nghề đào tạo, thay đổi theo loại trường
cao đẳng, đại học và gắn liền với các trang thiết bị, các phương tiện dạy học
hiện đại. Chính vì vậy quản lý quá trình dạy học - giáo dục ở cao đẳng, đại 20
học là quản lý mục tiêu, nội dung chương trình, giáo trình, hoạt động giảng
dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên, phương pháp, phương
tiện, kiểm tra - đánh giá, …. để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà trường của các trường cao đẳng, đại học
rất đa dạng, từ giảng đường, nhà xưởng, thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học
đa năng, phòng giáo dục thể chất, … đến ký túc xá, căng-tin phục vụ sinh viên
đều được trang bị đầy đủ, hiện đại. Quản lý cơ sở vật chất nhằm phục vụ tốt quá
trình dạy học - giáo dục của nhà trường đồng thời sử dụng và khai thác nhằm đạt
được những hiệu quả kinh tế cho nhà trường.
Giáo dục đại học được xem là một dịch vụ công. Trong khi cần huy động
nguồn ngân quỹ đa dạng, thì hỗ trợ của nhà nước cho giáo dục đại học vẫn là
quan trọng nhất. Các trường cao đẳng, đại học là những đơn vị hành chính sự
nghiệp có nguồn thu (chủ yếu từ học phí của sinh viên), nên ngoài khoản ngân
sách nhà nước cấp, hàng năm nhà trường có thêm nguồn thu đáng kể. Quản lý
tài chính trong các trường cao đẳng, đại học cần trở thành công cụ đắc lực để
tăng cường chất lượng và tính phù hợp của nó. Điều này đòi hỏi phải có năng
lực lập kế hoạch và phân tích chính sách thích hợp và các chiến lược dựa trên sự

- Hoạt động có sử dụng phương tiện, công cụ để tác động vào đối tượng
Quản lý hoạt động, thực chất là quản lý chủ thể của hoạt động - là con
người và quản lý đối tượng, phương tiện, công cụ, môi trường của hoạt động.
1.3. Vai trò vị trí cấp khoa trong quản lý nhà trƣờng cao đẳng, đại học
1.3.1. Khái niệm trường cao đẳng, khoa trong trường cao đẳng
Trường cao đẳng là những cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục
đại học. Đào tạo cao đẳng được qui định trong Điều 38 Luật giáo dục được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02 tháng
12 năm 1998: “Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học
tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành”. 22
Điều 4 Điều lệ trường cao đẳng qui định rõ quản lý nhà nước đối với
trường cao đẳng:
“-Trường cao đẳng trực thuộc cơ quan chủ quản, đồng thời chịu sự quản
lý nhà nước của bộ Giáo dục và đào tạo về chiến lược, qui hoạch, kế hoạch và
chính sách phát triển giáo dục; tiêu chuẩn giảng viên, mục tiêu, nội dung,
chương trình, phương pháp đào tạo; về tuyển sinh, tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra,
công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, về thanh tra giáo dục.
- Trường cao đẳng chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban
nhân dân tỉnh) nơi trường đặt trụ sở”.
Trường cao đẳng là một thiết chế giáo dục thuộc bậc giáo dục đại học, nhiệm
vụ của trường cao đẳng được qui định trong Điều lệ Trường cao đẳng như sau:
“- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, kiến thức và năng
lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có
năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho

hoạt động giáo dục khác theo chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy chung
của nhà trường;
b) Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; chủ động khai thác các dự
án hợp tác, phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất
kinh doanh, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và đời
sống xã hội;
c) Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên, sinh viên thuộc khoa theo phân
cấp của Hiệu trưởng;
d) Tổ chức phát triển chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình môn học,
tài liệu giảng dạy do Hiệu trưởng giao. Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương
pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy
học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học;
e) Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên và cán bộ nhân viên thuộc
khoa”. 24
Theo qui định trên khoa của trường cao đẳng có nhiệm vụ, có cơ cấu tổ
chức của một đơn vị hành chính cơ sở. Tùy theo qui mô đào tạo và đặc điểm
ngành nghề đào tạo của từng trường, Hiệu trưởng đưa ra những những quyết
định về cán bộ quản lý cấp khoa, các bộ môn trực thuộc khoa theo Quy chế tổ
chức và hoạt động của trường.
1.3.2. Nội dung hoạt động cấp khoa
Là đơn vị hành chính cơ sở trực thuộc trường, nhưng chức năng chủ yếu
của khoa, tổ bộ môn là thực hiện những hoạt động thuộc lĩnh vực chuyên môn
nên nội dung hoạt động cấp khoa tập trung vào công tác chuyên môn. Trong đó
hoạt động quan trọng nhất của cấp khoa là tổ chức thực hiện quá trình đào tạo
những chuyên ngành mà khoa đảm nhiệm. Những nội dung cụ thể bao gồm việc
lên kế hoạch giảng dạy của giáo viên, kế hoạch học tập của sinh viên, thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status