I.I VV VAST TH Ạ C SỸ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯÒNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÒI SỐNG SINH VIÊN NỘI TRÚ
■
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘỊ
■ a •
Chuyên mành: Quản lý giáo dục
Mã sô : 60.14.05
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Sư PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Quốc Bảo
Người thực hiện : Đinh Thị Tuyết Mai
Hả Nội, tháng 10 năm 2003
MỤC LỤC
MỞ Đ Ầ U
01
1. Lý đo chọn để tài 01
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứ u 03
3. Mục đích nghiên cứ u 03
4. Đối tượng nghiên c ứ u 03
5. Nhiệm vụ nghiên c ứ u 03
6. Giả thuyết khoa h ọ c 04
7. Phạm vi nghiên c ứ u 04
8. Phương pháp nghiên cứu 04
9. Cấu trúc luận v ăn 05
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đê nghiên cứu
06
1.1. Một số khái niệm cơ b ản
06
1.1.1. Khái niệm quản lý 06
31
2.1.3. Cơ chế quản lý ở Đại học Quốc gia Hà N ộ i 33
2.2. Thực trạng công tác quản lý đời sông sinh viên nội trú Đại học Quốc
gia Hà N ộ i 34
2.2.1. Hệ thống tổ chức của Trung tâm Nội trú sinh viên - Đại học
Quốc gia Hà Nội 35
2.2.2.CƠ chế quản lý sinh viên nội trú 36
2.2.3.Đánh giá thực trạng công tác quản lý Sinh viên nội trú thông qua
kết quả khảo s á t 38
2.2.4. Nhận xét và đánh giá chung về tình hình quản lý đời sống cho
Sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà N ộ i
54
Chương 3: Một sô biện pháp tăng cường công tác quản lý đờỉ sống
sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà N ộ i
57
3.1. Nguyên tắc xây dựng những biện pháp
57
3.2. Một sô biện pháp tăng cường công tác quản lý đời sống sinh viên
nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội
57
3.2.1. Tăng cường sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, các đoàn thể trong
nhà trường cùng với việc giáo dục ý thức cho sinh v iên
57
3.2.2. Đổi mới công tác quản lý đời sống sinh viên nội trú
59
3.2.3. Tăng cường quản lý các hoạt động tự học, văn thể mỹ, giao lưu,
nghiên cứu khoa học sinh viên nói chung và đời sống sinh viên nội trú nói
riêng còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong khi đó hầu hết các trường đại học
lại tập trung ở các thành phố lớn, nơi có đời sống sinh hoạt cao, sinh viên ở các
tỉnh xa về học tập gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Chất lượng đào tạo bị ảnh
1
hưởng ít nhiều do sinh viên cứ thường xuyên phải lo canh cánh trong lòng về
nơi ăn, chốn ở. Do đó muốn đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo thì cần
tạo cho sinh viên nội trú một môi trường sống trong sạch, lành mạnh, đầy đủ
cả về vật chất lẫn tinh thần.
Ngay tại Đại học Quốc gia Hà Nội - một trung tâm đào tạo đại học đa
ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trực thuộc Chính phủ nhưng cuộc sống của
sinh viên nội trú vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại. Có một bộ phận không
nhỏ học sinh, sinh viên nội trú, do sống xa gia đình, bị ảnh hưởng những mặt
trái của cơ chế thị trường, không làm chủ được bản thân, đã có những biểu
hiện xuống cấp về đạo đức. Một nguyên nhân nữa là do việc quản lý thời gian
ngoài giờ iên lớp của sinh viên nội trú vẫn chưa được quan tâm đúng mức, các
điều kiện đảm bảo cho việc tự học và sinh hoạt của sinh viên còn thiếu thốn;
đời sống tinh thần còn chưa đủ hấp dẫn để lôi cuốn sinh viên tham gia vào các
trò giải trí lành mạnh, hạn chế các tệ nạn xã hội.
Chính điều này nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp vế lý luận và thực tiễn
đòi hỏi cần phải nghiên cứu và giải quyết. Quá trình quản lý sinh viên nội trú
là quá trình đề ra mục đích, nội dung, biện pháp và tổ chức cho sinh viên tham
gia các họat động giáo dục để tự hoàn thiện nhân cách của mình. Với ý nghĩa
đó, công tác quản lý sinh viên nội trú giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong quá
trình rèn luyện nhân cách và hình thành phẩm chất nghề nghiệp cho sinh viên.
Việc nghiên cứu đề tài “ Một sô biện pháp tăng cường quản lý đời
sống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội” sẽ phần nào giải quyết
được vấn đề còn tồn tại trong các ký túc xá, hơn nữa đây cũng thuộc chuyên
ngành quản lý giáo dục mà tác giả đang theo đuổi, nên tác giả đã chọn đề tài
trên để có dịp vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn công tác, nhằm
gia Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác quản lý- đời sống sinh viên nội trú.
5.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý đời sống sinh viên nội trú của Đại
học Quốc gia Hà Nội.
5.3. Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý đòi sống sinh viên nội trú
trong Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Giả thuyết khoa học
Với đề tài này, tác giả hy vọng đưa ra được một số giải pháp có tính khả
thi, áp dụng vào công tác quản lý đời sống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia
Hà Nội. Nhằm nâng cao đời sống cho sinh viên, phục vụ nhiệm vụ đào tạo
ngày càng cao của Đại học Quốc gia Hà Nội, đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước trong giai đoạn hiện nay, đổng thời mang tính chất đột phá, tiên
phong trong việc phục vụ sinh viên nội trú.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình quản lý đời sống sinh viên từ năm 1996 đến năm
2002 tại 2 ký túc xá thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệu lý
luận liên quan đến vấn đề quản lý sinh viên nói chung và sinh viên nội trú nói
riêng. Làm cơ sở lý luận cho khảo sát thực trạng và đề xuất những biện pháp
4
tăng cường quản lý đời sống sinh viên trong các ký túc xá Đại học Quốc gia
Hà Nội.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tổng kết công tác sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội trong
những năm qua.
- Điều tra bằng phiếu hói ý kiến sinh viên nội trú, cán bộ quản lý, giáo
vụ trường, khoa.
người. Do đó việc nghiên cứu nên tập trung vào mối liên hệ giữa người với
người. Đ ây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý
và vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu
thì “ con người nên hiểu con người” [ 11, tr 39]. Học thuyết này giúp cho người
quản lý ứng xử m ột cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Thay vì
Chương 1:
cơ sở LÝ LUẬN CỦA VÂN ĐỂ NGHIÊN cứu
6
quá chú trọng tới các chức năng của người quản lý, Ihuyết này gắng hướng cỉẫn
cách (how) người quản lý thực hiện cái (what) họ phái làm.
- Tiếp cận theo ỉỷ thuyết quyết đinh: Dựa trên sự tin tưởng vào quyết
định của những người quản lý, người ta chỉ cần tập trung vào việc ra quyết
định, sau đó là việc xây dựng lý luận xung quanh việc ra quyết định, tức là lựa
chọn trong số các khả năng để có thể rút ra m ột đường lối hành động. Theo
quan điểm này, trước hết các nhà quản lý phải ra các quyết định (quyết định cá
nhân hoặc theo nhóm có tổ chức) sau đó phân tích quá trình ra quyết định.
b. Tiếp cận theo ỉý thuyết hệ thống
Đây là m ột quan điểm hiện đại, được áp dụng trong các lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau, đặc biệt trong quản lý.
Hệ thống, được hiểu là một tập hợp các bộ phận hay thành tố liên hệ
tương hỗ hoặc phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên m ột thể thống nhất hoàn
chỉnh, bao gồm:
+ Đ ầu vào của hệ thống: Là các nguồn nhân lực, vật lực và thông tin sẽ
được đưa vào quá trình chuyển đổi.
+ Quá trình chuyển đổi: Chính là các công nghệ được sử dụng để biến
đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống.
+ Đầu ra của hệ thống: Là kết quả quá trình chuyển đổi.
+ Liên hệ ngược: Là một dạng thông tin về trạng thái và kết quả hoạt
động của hệ thống.
Lý thuyết hệ thống đã được nhận thấy có khả năng áp dụng vào lý
3. Quyết định xem những hoạỉ động nào là cần thiết để đạt được
các mục tiêu đó.
• Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và
các nguồn lực cho các thành viên của đơn vị để họ có thể đạt được các mục
tiêu của đơn vị m ột cách có hiệu quả. ú hg với những m ục tiêu khác nhau đòi
hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn
cấu trúc cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Quá trình đó
gọi là thiết k ế tổ chức và quan trọng nhất là tổ chức thực hiện k ế hoạch để đạt
m ục tiêu.
• Lãnh đạo: Đ ó là việc định hướng và điều khiển, tác động và giúp đỡ
những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công. Hoạt
động lãnh đạo là làm việc với con người (tập thể, cá nhân).
• K iểm tra: Đ ó là công việc quản lý xem xét đối chiếu, đánh giá các
hoạt động của đơn vị và thực hiện các m ục tiêu đề ra.
Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
+ X ây dựng chuẩn thực hiện
+ Đ ánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn
+ Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động. Trong trường học
cần thiết thì có thể điều chỉnh mục tiêu.
Khi nói đến quản lý con người, quản lý quá trình (việc) hay quản lý cơ
sở vật chất (trường sở, trang thiết bị, quản lý nhà xưởng, phòng học, phòng thí
nghiệm , m áy m óc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu ), ta cần hiểu là quản
lý nội dung của các hoạt động tương ứng với từng nhiệm vụ quản lý ở các đối
tượng quản lý đó.
1.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục;
a. Một vài định nghĩa về quản lý giáo clục
K hoa học quản lý giáo dục là một bộ phận chuyên biệt của khoa học
9
quản lý nói chung, nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù
của nền giáo dục quốc dân.
làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ.
c. Đối tượng của quản ỉý giáo dục
Về thực chất, đối tượng quản lý trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều
phải là sự hoạt động của m ột người hay m ột tập thể, với những đối tượng và
nhiệm vụ nhất định.
Theo Nguyễn Đức Trí: Đối tượng của quản lý quá trình giáo dục đào tạo
là sự hoạt động của cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên và tổ chức sư phạm
của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình giáo dục đào
tạo nhằm đạt được m ục tiêu giáo dục đào tạo đã quy định với chất lượng cao.
[ 15, tr 2]
Người ta cũng có thể nói ngắn gọn rằng: đối tượng của quản lý quá trình
giáo dục - đào tạo là các hoạt động giáo dục - đào tạo hay các quá trình giáo
dục đào tạo ở nhà trường.
Q uá trình giáo dục đào tạo được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình dạy
học và giáo dục, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động
của nhà trường. Do đó, quản ỉý quá trình giáo dục và đào tạo là bộ phận chủ
yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường. Sự phân hóa của quá trình
giáo dục đào tạo trong nhà trường chính là nền tảng phân hóa chức năng, xác
định cơ ch ế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạo hoạt động giáo dục đào tạo
trong nhà trường.
11
Công tác quản lý quá trình giáo dục đào tạo có nhiệm vụ quản lý sự họat
động của cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong việc thực hiện k ế hoạch
và nội dung chương trình giáo dục đào tạo của nhà trường.
cỉ. Phương pháp quản lý ỳ áo dục
Cũng như bất cứ một hệ thống quản lý nào khầc, quản lý giáo dục phải
sử dụng các phương pháp quản lý chung. Tuy nhiên, các phương pháp quản lý
khác phải là đa năng, hoàn toàn đúng với mọi trường hợp, vấn đề là người sử
dụng, vận dụng nó m ột cách linh hoạt sẽ cho kết quả cao hơn.
Có nhiều phương pháp quản lý được áp dụng trong quản lý quá trình
m uốn. Người quản lý cầi phải đáp ứng một số yêu cầu sau:
* Phải n ắ m vững bải chất của quá trình.
G iáo dụiG đào tạo 'à quá trình kết hợp hoạt động của cán bộ, giáo viên,
học sinh, sinh viên nhằn cải biến nhân cách của học sinh, sinh viên theo mục
tiêu xác định đlo nhà trườig tổ chức và chỉ đạo.
Đối tượmg của qui trình giáo dục đào tạo chính là nhân cách của học
sinh, sinh viên nói chunị trong nhà trường và nhân cách của cá nhân từng học
sinh, sinh viên nói riêng.
Nhân cá«.ch của COI người là một vấn đề phức tạp, tuy nhiôn chúng ta có
thể hiểu về nhâm cách nhr sau:
Nhân cátđh của m à con người là tổng thể những đặc điểm tâm lý riêng
tương đối ổn đỊỊrah gọi cbdiỉg là thuộc tính tâm lý, kết hợp với nhau thành một
13
chính thể, tạo nên phẩm chất năng lực và bản sắc riêng của người đó. Một cách
tổng quan, nhân cách gồm 2 bộ phận chủ yếu: phẩm chất và năng lực.
N hân cách của con người được biểu hiện ra cũng như chỉ hình thành và
phát triển trong hoạt động giao tiếp xã hội của người đó.
N hân cách vừa có tính chủ thể vừa có tính khách thể.
Tính chủ thể của nhân cách thể hiện trong mối quan hệ thông qua nhân
cách của mình mà từng cá nhân tác động lên đối tượng (tự nhiên - xã hội) bằng
việc tham gia các hoạt động lao động sản xuất, học tập cũng như các hoạt
động chính trị, xã hội khác
Tính khách thể của nhân cách thể hiện trong mối quan hệ thông qua
nhân cách của m ình m à từng cá nhân thừa nhận, tiếp thu và thực hiện những
yêu cầu do xã hội quy định.
Kết quả quá trình giáo dục đào tạo tác động lên mặt khách thể của nhân
cách học sinh, sinh viên chỉ phát huy tác dụng tối đa khi nó thúc đẩy, hướng
dẫn được m ặt chủ thể nhân cách học sinh, sinh viên, tức là làm cho họ tích
cực, độc lập, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tu
dưỡng rèn luyện đạo đức, tác phong. N hân cách học sinh, sinh viên với tính
trình đó.
* P h ả i n ắ m v ữ n g n ộ i d u n g c ủ a quá trình.
Nội dung của quá trình giáo dục đào tạo là nội dung của các quá trình
bộ phận hợp thành quá trình giáo dục đào tạo, các quá trình này có những mục
tiêu, nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều phải đóng góp vào việc thực hiện mục
tiêu quản lý cũng như m ục tiêu chung của nhà trường.
15
v ề mặt nội dung, quá trình giáo dục đào tạo có thể được phân chia
thành 2 quá trình bộ phận là:
- Q uá trình giáo dục đào tạo trên lớp, trong nhà trường: là toàn bộ các
hoạt động dạy học và giáo dục được tiến hành trong lớp, trong nhà trường theo
các m ục tiêu giáo dục đào tạo, khung k ế hoạch giảng dạy và chương trình môn
học, chuyên đề mô đun đ ã được các cơ quan quản lý giáo dục đào tạo cấp trên
của nhà trường quy định.
- Quá trình giáo dục đào tạo ngoài lớp, ngoài nhà trường: là toàn bộ các
hoạt động dạy học và giáo dục được thực hiện ngoài giờ lên lớp như quy định
trong k ế hoạch giảng dạy và chương trình các môn học bắt buộc.
Các hoạt động giáo dục đào tạo ngoài lớp bao gổm: việc tự học ngoài
giờ lên lớp, sinh hoạt hướng nghiệp, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt câu lạc bộ,
hoạt động chính xã hội, lao động sản xuất trong nhà trường.
Các hoạt động giáo dục đào tạo ngoài nhà trường bao gồm: Các hoạt
động chính trị xã hội, họ at động đoàn thể, hoạt động đội, lao động công ích
vófi địa phương, cộng đồng, tham quan, thực tế tại các địa phương, thực tập tốt
nghiệp.
* Phải nắm vững các yếu tố của quá trình.
Q uá trình giáo dục đào tạo là sự vận động của m ột hệ thống do nhiều
yếu tố cấu thành, chúng được gọi là các yếu tố của quá trình giáo dục đào tạo.
Mỗi yếu tố của quá trình giáo dục đào tạo có những tính chất, đặc điểm riêng
và có những tác động khác nhau đến kết quả của quá trình giáo dục đào tạo.
Giữa các yếu tố có m ôi quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Ta có thể chia các
lượng và chủ thể đào tạo đồng thời quản lý lâì cả các mặt về tổ chức, môi
trường, điểu kiện, cơ chế và bộ máy đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.1.4. Khái niệm sinh viên
Theo ngôn ngữ H án Việt, từ “ sinh viên” được diễn nghĩa ra là người
bước vào cuộc sống, cuộc đời. Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm sinh
viên được dùng để chỉ người học ở bậc đại học {Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất
bản Đà N ẵng - Trung tâm từ điển học , Hà Nội - Đ ã N ẩng, 1997).
H iện nay, khái niệm sinh viên cũng đã được Nhà nước thể chế hóa, pháp
lý hóa thuật ngữ bằng Luật giáo dục do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt N am , kỳ họp thứ 4, khóa X thông qua, đã thống nhất cách gọi đối
với học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh. Trong đó khái niệm sinh viên như
sau:
Sinh viên là danh từ được gọi chung cho những người đang học tại các
trường đại học và cao đẳng.
1.1.5. Khái niệm ký túc xá
Theo Quy chế công tác học sinh, sinh viên nội trú trong các trường đại
học, cao đẳng trung học chuyên nghệp và dạy nạhề do Bộ giáo dục đào tạo
ban hành năm 1997, thì ký túc xá sinh viên (hay còn gọi là khu nội trú) là
những cơ sở thuộc quyền quản lý của trường bao gồm : nhà ở, nhà ăn, sân chơi,
bãi tập, câu lạc bộ và các phương tiện khác để phục vụ học sinh, sinh viên nội
trú ăn, ở, sinh họat, học tập và rèn luyện nhằm góp phần thực hiện tốt mục
tiêu, nhiệm vụ đào tạo của trường.
Theo cách định nghĩa trên, có thể nói:
Ký túc xá chính là ngôi nhà thứ 2 của sinh viên nôi trú, là nơi sinh viên
trở về sau những giờ học tập (thậm chí là lao động) m ệt m ỏi, căng thẳng. Ở
đây, các em nghỉ ngơi, thư giãn, và thực hiện các hoạt động sinh hoạt thường
18
nhật khác phục vụ nhiệm vụ học tập của mình. N ên rất cần tạo ra một không
khí vui tươi, đầm ấm , thoải mái và nề nếp để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh
viên những bước tự lập đẩu đời.
N hư trên đã nói, đời sống sinh viên nội trú là toàn bộ các hoạt động
ngoài giờ lên lớp của sinh viên. Bao gồm các hoạt động chính sau:
1.2.1. Hoạt động tự học
Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học
bằng hành động của chính m ình hướng tới những mục đích nhất định. Nó vừa
ià phương tiện, vừa là mục tiêu của quá trình giáo dục đào tạo nói chung ở nhà
trường. Có hai loại tự học: tự học trong giờ lên lớp và tự học ngoài giờ lên lớp.
Tự học trong giờ lên lớp thường được thực hiện dưới sự hướng dãn của
giáo viên bộ môn.
Tự học ngoài giờ lên lớp đối với sinh viên nội trú thường được thực hiện
tại Ký túc xá. Trong quá trình tự học, người học tự xác định m ục tiêu, sắp xếp
bố trí công việc theo m ột trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng công
việc, lựa chọn địa điểm và phương tiện, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn
thành từng công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình
để hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra.
Đ ây là một hoạt động chủ yếu của sinh viên sau giờ lên lớp nên rất cần
được tổ chức và quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên, với chức năng của m ình, ban
quản lý các ký túc xá chỉ có thể tạo điều kiện cho sinh viên nội trú tự tổ chức
các hình thức tự học của mình như dành riêng phòng với đầy đủ những trang
thiết bị cần thiết cho sinh viên tự học với những nội quy, quy định cụ thể. Để
20
hoạt động tự học của sinh viên đạt hiệu quả cao hơn cần có sự phối hợp của
nhiều tổ chức trong trường đại học.
1.2.2. Hoạt động văn hóa, thể thao
Việc học tập là nhiệm vụ chính của học sinh, sinh viên. Song không thể
phủ nhận được vai trò của các hoạt động văn hóa thể thao. Những hoạt động
này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Chính vì vậy,
nhu cầu sinh hoạt văn hóa thể thao của sinh viên là rất lớn, thể hiện; họ đòi hỏi
được thưởng thức, tham gia sáng tạo các giá trị văn hóa tinh thần. Đây ỉà nhu
cầu chính đáng, cần được đáp ứng, tuy nhiên khi tổ chức cho sinh viên nội trú