4
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTH Bảng tuần hoàn
ĐC Đối chứng
e Electron
GD Giáo dục
GDĐT Giáo dục đào tạo
GQVĐ Giải quyết vấn đề
GV Giáo viên
HS Học sinh
PH Phụ huynh
PHHS Phụ huynh học sinh
PP Phương pháp
PPDH Phương pháp dạy học
PTDH Phương tiện dạy học
QTDH Quá trình dạy học
SGK Sách giáo khoa
SOXH Số oxi hóa
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm
TNSP Thực nghiệm sư phạm
tr Trang
6 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 97
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 97
Hình 3.3. Phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 98
Hình 3.3. Phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 98
1.3.2. Những đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học 11
1.3.3. Phân loại các phương pháp dạy học 11
1.4. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 12
1.4.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 12
1.4.2. Dạy học theo hướng “Tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học” 15
1.5. Học sinh yếu kém 16
1.5.1. Đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của học sinh yếu kém 16
1.5.2 Chỉ số IQ và mối quan hệ với khả năng học tập của học sinh 17
1.5.3 Thực trạng học sinh yếu kém trong quá trình học tập môn hóa học 19
1.5.4. Biểu hiện của học sinh yếu kém 20
1.5.5. Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh trong học tập môn hóa
học lớp 10 trung học phổ thông 21
Tiểu kết chương 1 26
8
Chƣơng 2: NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH YẾU
KÉM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƢƠNG 2 VÀ 4 LỚP 10
CHƢƠNG TRÌNH CƠ BẢN - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 27
2.1. Cấu trúc chương 2 “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật
tuần hoàn” 27
2.1.1. Vị trí và mục tiêu chung của chương 27
2.1.2. Cấu trúc nội dung 27
2.1.3. Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 2 29
2.2. Cấu trúc chương 4 “Phản ứng oxi hóa – khử” 30
2.2.1. Vị trí và mục tiêu chung của chương 30
2.2.2. Cấu trúc nội dung 31
2.2.3. Một số điểm chú ý trong giảng dạy chương 4 32
2.3. Một số biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém trong quá trình
dạy học Hóa học lớp 10 trung học phổ thông 33
2.3.1. Cơ sở xây dựng biện pháp 33
10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cũng như trong sự nghiệp đổi
mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo dục là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của sự phát triển. Mục tiêu của giáo dục nhằm đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài và nâng cao dân trí. Trong công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà
trường phải tạo ra những con người tự chủ, năng động và sáng tạo đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
Trong luật giáo dục Việt Nam, phần mục tiêu giáo dục phổ thông ghi rõ: “Mục
tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Sự thành công của việc dạy học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy
và bước vào cuộc sống một cách tự tin. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài: “Nâng cao
khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học Hóa học chương 2 và 4 lớp
10 chương trình cơ bản – trung học phổ thông”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém, từ đó đề xuất các biện pháp khắc
phục tình trạng học sinh yếu kém góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng
dạy học.
3. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học
môn Hóa học lớp 10 chương trình cơ bản.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung kiến thức chương 2 và 4 hóa học lớp 10
chương trình cơ bản THPT:
+ Chương 2: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn
+ Chương 4: Phản ứng oxi hóa – khử
Địa điểm tại 3 trường trung học phổ thông huyện Tiên Du – Bắc Ninh (Tiên
Du 1, Nguyễn Đăng Đạo, Lý Thường Kiệt).
12
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, giáo viên xác định đúng nguyên nhân yếu kém của học
sinh và sử dụng các biện pháp tích cực, phù hợp với từng đối tượng sẽ kích thích
hoạt động học tập của học sinh. Học sinh sẽ tích cực, chủ động trong học tập, việc
dạy và học sẽ thực sự mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu chương trình, nội dung kiến thức và kĩ năng 2 chương:
- Chương 4: Phản ứng oxi hóa – khử
+ Tập hợp hệ thống bài tập của chương 2 và chương 4 hóa học lớp 10 chương
trình cơ bản.
+ Xây dựng một số giáo án theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh
yếu kém.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nâng cao khả năng học tập môn Hóa học
cho học sinh yếu kém
Chương 2: Nâng cao khả năng học tập cho học sinh yếu kém trong dạy học hóa học
chương 2 và 4 lớp 10 chương trình cơ bản – trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
14
CHƢƠNG 1
Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896 – 1934) và nhiều nhà giáo dục đương
thời “dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động
học của HS”. Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy,
HS là chủ thể của hoạt động học.
Tác giả Nguyễn Xuân Trường “Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn
bao gồm nội dung dạy học, việc dạy và việc học” [ 32 tr. 15]
Việc dạy: Đó là toàn bộ hoạt động vủa người thầy trong quá trình dạy học
nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức và kĩ năng, trên cơ sở đó phát triển ở họ
những năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, chủ
nghĩa khoa học vô thần và tình cảm thái độ.
Việc học: Đó là hoạt động của trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm nắm vững
kiến thức, kĩ năng phát triển những năng lực nhận thức, hình thành quan điểm
duy vật biện chứng, đạo đức, nhân cách. Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát
triển nội tại. Trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá
trị con người mình, bằng các thu nhận, xử lí thông tin lấy từ môi trường sống
xung quanh mình.
Trong quá trình dạy học, GV thực hiện hoạt động dạy, HS thực hiện hoạt
động học. Hai hoạt động dạy – học được tiến hành phối hợp, tương tác với nhau.
Mục đích cuối cùng của hoạt động này nhằm bồi dưỡng cho HS hệ thống tri
thức, hiểu biết về mọi vấn đề diễn ra trong cuộc sống, hệ thống kỹ năng sống (kỹ
năng hoạt động trí và lực) để thông qua đó hình thành cho HS quan điểm và thái
độ đúng đắn đối với bản thân, đối với cuộc sống.
Vậy QTDH, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của HS do GV tổ
chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông. Nói cách khác,
dạy học là quá trinh nhận thức độc đáo của HS dưới vai trò chủ đạo của giáo
viên nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học.
1.2.2. Cấu trúc của quá trình dạy học [7], [23]
Cấu trúc của quá trình dạy học là cấu trúc hệ thống. Cấu trúc của quá trình
dạy học bao gồm một hệ thống các thành tố vận động và phát triển trong mối
Trong đó môi trường xã hội đóng vai trò quyết định.
Theo lí thuyết phát triển: Quá trình dạy học chịu sự tác động và ảnh hưởng
qua lại của yếu tố môi trường kinh tế và xã hội. Các thành tố của quá trình dạy
17
học ảnh hưởng tới nhau trong một thể thống nhất, các thành tố bình đẳng với
nhau, chúng liên hệ với nhau theo sơ đồ sau:
1.2.3. Bản chất của quá trình dạy học [7], [23], [29]
1.2.3.1. Cơ sở xác định bản chất của quá trình dạy học
Dựa vào hai mối quan hệ cơ bản để xác định bản chất của quá trình dạy
học:
+ Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức có tính chất lịch sử xã hội loài
người (thể hiện ở các hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học) với hoạt động
dạy học.
Văn hóa
Xã hội
18
Quá trình dạy học là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS. Xét cho
cùng thì mọi tác động của GV đến HS đều nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa HS
và tài liệu học tập, tức là thúc đẩy hoạt động nhận thức thong qua tài liệu học tập
của HS. Kết quả dạy phản ánh tập trung ở kết quả nhận thức tài liệu học tập của
HS.
1.2.3.2. Bản chất của quá trình dạy học
Từ hai cơ sở trên có thể nói bản chất của QTDH là quá trình nhận thức độc
đáo của HS (hay bản chất của QTDH là quá trình nhận thức của HS dưới sự
hướng dẫn của GV)
+ Bản chất của QTDH là quá trình nhận thức của HS: Nhận thức là sự
phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phản ánh tâm lý của con
người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng. Sự học tập của HS cũng là
quá trình như vậy. Đó là sự phản ánh đi trước có tính chất cải tạo mà mức độ cao
nhất là sự sáng tạo. Sự phản ánh đó bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi
người và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể.
Quá trình học tập của HS cũng diễn ra theo công thức của V. I. Lenin về
quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan”.
+ Quá trình nhận thức của HS là quá trình nhận thức mang tính độc đáo:
Thể hiện ở chỗ, mặc dù cũng là quá trình nhận thức, nhưng sự nhận thức
của HS lại nằm trong môi trường sư phạm với sự điều khiển của GV. Đây là
điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động nhận thức của HS với hoạt động nhận
điểm hiện đại có liên quan với xu hướng tối ưu hóa quá trình dạy học như: tích
cực hóa, cá biệt hóa, công nghệ hóa và tương ứng với các xu hướng đó là một hệ
thống các PPDH tích cực như DH tình huống, DH theo nhóm…
PPDH có tác dụng trong thực hiện mục tiêu, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài. PPDH là phương tiện, là con đường, là cách thức hoạt
động chung của cả người dạy và người học, nhằm trang bị tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo và phát triển trí tuệ cho HS. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các
phẩm chất nhân cách cho các em.
20
Vậy, PPDH là cách thức hoạt động của thấy và trò trong mối liên hệ qua
lại, thầy giữ vai trò chủ đạo, điều khiển, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức các hoạt
động học tập của trò một cách tích cực, chủ động nhằm đạt các mục tiêu dạy học
đề ra.
1.3.2. Những đặc trưng của phương pháp dạy học hóa học
Trong “Lý luận dạy học hóa học” tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra hai
đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học hóa học:
Những đặc trưng của phương pháp nhận thức hóa học phải được phản ánh
vào trong phương pháp dạy học. Đó là phương pháp học tập có lập luận trên cơ
sở thực nghiệm – trực quan, có nghĩa là phải kết hợp thống nhất phương pháp
thực nghiệm với tư duy khái niệm.
Tâm lý lĩnh hội khái niệm hóa học cũng nẩy sinh ra những đặc thù của việc
dạy hóa học. Đối tượng của hóa học là chất cấu tạo bới phân tử, nguyên tử,
ion…đều là những phân tử vi mô, tương ứng với những khái niệm trừu tượng mà
học sinh cần được lĩnh hội, trong dạy học hóa học dùng mô hình cụ thể có kích
thước vĩ mô để diễn tả cấu tạo phân tử các chất và cơ chế phản ứng hóa học của
thế giới vi mô.
1.3.3. Phân loại các phương pháp dạy học
Các PPDH rất phong phú, đa dạng có tới hàng trăm PPDH đã được mô tả.
Do đó việc phân loại các PPDH có nhiều cách khác nhau. Dưới đây chúng tôi đã
Đổi mới PPDH cần bắt đầu từ việc đổi mới về thiết kế và chuẩn bị bài dạy
học.
Thiết kế bài dạy học (soạn giáo án) cần xác định các mục tiêu dạy học: Về
kiến thức, kỹ năng một cách rõ ràng, có thể đạt được và có thể kiểm tra, đánh giá
được.
Xác định nội dung dạy học: Không chỉ chú ý đến các kiến thức kỹ năng
chuyên môn mà cần chú ý những nội dung có thể phát triển các năng lực hành
động khác như: năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Xác định PPDH: Cần được lập luận trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố
của quá trình dạy học, đặc biệt là mối quan hệ mục đích – nội dung PPDH.
Trong việc thiết kế PPDH cần bắt đầu từ bình diện vĩ mô: xác định các quan
điểm, hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Từ đó xác định các PPDH cụ thể và
thiết kế hoạt động của GV và HS theo trình tự các tình huống dạy học nhỏ ở bình
diện vi mô.
Sử dụng công nghệ thông tin: sử dụng phần mền trình diễn PowerPoint là
một phương hướng cải tiến việc thiết kế bài dạy cũng như hoạt động dạy học.
22
Tuy nhiên giáo án điện tử không phải là tất cả của việc đổi mới PPDH.
1.4.1.2. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống và kết hợp đa dạng các
phương pháp dạy học tích cực
a. Cải tiến các PPDH truyền thống
Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập luôn là
những PP quan trọng trong dạy học. Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ
các PPDH truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng
cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng.
Để nâng cao hiệu quả của PPDH, người GV trước hết cần nắm vững những
yêu cầu và sử dụng thành thạo các kĩ thuật của từng phương pháp trong việc
chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp như: kĩ thuật mở bài, kĩ thuật trình bày,
giải thích trong khi thuyết trình, kĩ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời
Phương tiện dạy học (PTDH) có vai trò quan trọng trong việc đổi mới
PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học.
Việc sử dụng các PTDH cần phù hợp với mối quan hệ giữa PTDH và PPDH,
việc trang bị các PTDH mới cho các trường học cần được tăng cường.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là
PTDH trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều
khả năng ứng dụng trong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như
một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng
như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E –Learning). Phương tiện
dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới.
Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy
học sử dụng mạng điện tử, trong đó HS khám phá tri thức trên mạng một cách có
định hướng.
1.4.1.4. Cải tiến việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học [6], [26]
Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá QTDH cũng như đổi
mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của HS. Trong quá trình đánh
giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình
học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không
giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức
trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
24
Khi xây dựng các bài tập cũng như các bài kiểm tra theo quan điểm phát
triển năng lực người ta chia thành 3 mức độ chính như sau:
+ Tái hiện: Trọng tâm là tái hiện, nhận biết các tri thức đã học.
+ Vận dụng: Trọng tâm là việc ứng dụng tri thức đã học để giải quyết các
nhiệm vụ trong những tình huống khác nhau: phân tích, tổng hợp, so sánh…để
xác định các mối quan hệ của các đối tượng.
+ Đánh giá: Trọng tâm là vận dụng tri thức, kỹ năng đã học để giải quyết
các nhiệm vụ phức hợp, giải quyết các vấn đề, đánh giá các phương án khác
cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này. Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai
trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học, đáp
ứng yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới. Trong đó học sinh chuyển từ
vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm
kiếm kiến thức. Giáo viên chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ
chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự khám phá kiến thức mới.
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm
cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa GV và HS ngày càng trở lên gắn bó. Tích
cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rèn
luyện cho HS những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng
tạo.
1.5. Học sinh yếu kém
1.5.1. Đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của học sinh yếu kém [14], [15]
+ Về nhận thức: các em rất hay quên, khối lượng ghi nhớ các thuộc tính và
quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp hơn so với tuổi. Trí nhớ máy móc khá phát
triển nên HS thường hay học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức.
+ Tư duy: chỉ đạt ở mức trực quan – hình ảnh. Kiến thức thu được dễ dàng
nhất trên cơ sở vật thể cụ thể hoặc hình ảnh các sự vật. Trình độ tư duy, vốn kiến
thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
+ Khả năng suy nghĩ: học sinh lười suy nghĩ, còn phụ thuộc, trông chờ giáo
viên giải giúp.
+ Khả năng tính toán: yếu các kĩ năng tính toán cơ bản, vận dụng công thức
tính toán kém linh hoạt.
26
+ Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong
học tập do chưa hiểu sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
+ Chưa tự giác trong học tập, chưa có động cơ học tập. Khả năng tự điều
chỉnh hành vi, lập chương trình hành động, hoạch định công việc kém. Khi làm
việc, các em nhanh chóng mệt mỏi, khả năng chú ý tập trung vào bài giảng
Mô tả ý nghĩa
Tỷ lệ % trong dân số
40 – 55
Rất kém
0.13%
55 – 70
Chậm phát triển tâm thần
2,14%
70 – 85
Kém thông minh
13,59%
85 – 115
Trí tuệ bình thường
68,26%
115 – 130
Thông minh
13,59%
130 – 145
Trí thông minh cao (có tài)
2,14%
145 – 160
Thiên tài
0,13%
1.5.2.2. Mối quan hệ IQ và khả năng học tập của học sinh
IQ đạt được tại điểm khởi một giai đoạn học tập có khả năng tiên đoán
thành tích học tập. Nói cách khác, IQ đạt được ở một độ tuổi nhất định có thể dự
báo thành tích học ở độ tuổi sau (Venon, 1947, Mackintosh, Mácie-Taylor,
1986).
Chỉ số IQ thường được cho là có liên quan đến sự thành công trong học tập,
80 phiếu hỏi của GV, 264 phiếu hỏi của HS và 80 phiếu hỏi của PHHS) của 3
trường THPT (THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Đăng Đạo, THPT Tiên
Du 1) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các em tự nhận xét thì nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém là do:
HS mất căn bản từ lớp dưới
HS lười học
HS không có mục đích học tập
Bên cạnh đó là do phương pháp dạy của GV chưa phù hợp nên các
em chưa thực sự hứng thú, say mê trong học tập.
Dưới đây là bảng kết quả điều tra thăm dò ý kiến của HS 3 trường THPT
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Kết quả thu được như sau: