1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DƯƠNG NGỌC THANH
PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nghiên
cứu, điều tra nêu trong luận án là trung thực.
Kết luận khoa học của luận án chưa từng được
ai công bố trong các công trình khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Dương Ngọc Thanh 4
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành PGS.TS Phạm Văn
4
MỤC LỤC
5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
9
DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
10
MỞ ĐẦU
11
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
22
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG 22
1.1.1. Khái luận về lợi ích kinh tế 22
1.1.2. Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường 28
1.1.3. Lược thuật các lý thuyết phân phối trong nền kinh tế thị trường 31
1.2. PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI 43
1.2.1. Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ảnh hưởng đến
quan hệ phân phối thu nhập 43
1.2.2. Thể chế phân phối thu nhập trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 48
1.2.3. Công bằng xã hội trong phân phối thu nhập trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài 66
1.3. PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI Ở BẮC KINH (TRUNG QUỐC) VÀ BÀI HỌC CHO HÀ NỘI 73
1.3.1. Đột phá về lý luận phân phối thu nhập ở Trung Quốc 74
1.3.2. Phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Bắc Kinh
159
3.1. BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN THỂ CHẾ PHÂN PHỐI THU NHẬP
TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI 159
3.1.1. Bối cảnh quốc tế 159
3.1.2. Bối cảnh trong nước 162
3.1.3. Bối cảnh Thủ đô Hà Nội 165
3.2. QUAN ĐIỂM VỀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI
172
3.2.1. Phân phối thu nhập phải lấy hài hoà các lợi ích làm mục tiêu 172
3.2.2. Thể chế phân phối thu nhập là phương tiện đảm bảo hài hoà các lợi ích 173
3.2.3. Đảm bảo sự tương hợp giữa Nhà nước và thị trường trong phân phối thu nhập
ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 174
7
3.3. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÂN PHỐI TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI 176
3.3.1. Hoàn thiện khung pháp luật 176
3.3.2. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường 187
3.3.3. Nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia phân phối thu nhập ở doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 193
3.3.4. Hoàn thiện các cơ chế thực thi phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài 203
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 210
KẾT LUẬN CHUNG
211
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
214
TÀI LIỆU THAM KHẢO 215
PHỤ LỤC 221
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Mức lương tối thiểu vùng I áp dụng cho doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Hà Nội giai đoạn 2007-2011
90
Bảng 2.2 Số cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
102
Bảng 2.3 Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phân chia
theo quy mô lao động đến 31/12 hàng năm
104
Bảng 2.4 Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phân chia theo quy
mô vốn có tính đến 31/ 12 hàng năm
105
Bảng 2.5 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần hàng năm chia theo khu
vực kinh tế
108
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân tháng của 1 lao động trong doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài hàng năm chia theo ngành kinh tế
110
Bảng 2.7 Thu nhập bình quân tháng theo loại lao động trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2010
111
Bảng 2.8 Số doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội hàng năm chia theo khu
vực kinh tế
115
Bảng 2.9 Một số chỉ tiêu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
121
Bảng 2.10 Tình hình các cuộc đình công trên địa bàn Hà Nội
Hình 2.3 Tỷ lệ lợi nhuận các khu vực kinh tế năm 2010 107
Hình 2.4 Thu nhập bình quân tháng của một lao động 109
Hộp 2.1 Qui định lương tối thiểu 92
Hộp 2.2 Công tác thanh, kiểm tra chống thất thu ngân sách 98
Hộp 2.3 Chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
100
11
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân phối thu nhập trong doanh nghiệp ở nước ta, đặc biệt trong doanh nghiệp
sở tư duy, mục tiêu, giải pháp như thế nào nhằm thực hiện công bằng và tiến bộ xã
hội? Đây là vấn đề lớn của Thủ đô và đất nước. Vì vậy, việc tập trung đi sâu nghiên
cứu đưa ra bức tranh toàn cảnh thực trạng phân phối thu nhập trong loại hình doanh
nghiệp này ở góc độ thể chế và công bằng, từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp cho
quan hệ phân phối thu nhập trong loại hình doanh nghiệp này của Thủ đô nói riêng
và cả nước nói chung là thực sự cần thiết.
Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu về phân phối thu nhập trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
Bởi vậy, luận án “Phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Hà Nội” của tác giả lựa chọn có ý nghĩa cấp thiết. Tác giả hy vọng,
luận án sẽ góp phần đề xuất chính sách và giải pháp xây dựng quan hệ phân phối
thu nhập theo hướng công bằng và tiến bộ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài của Thủ đô và của cả nước.
2. Tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài: Phân phối là một mặt của quan hệ
sản xuất có tác động thúc đẩy sản xuất thực hiện công bằng và ổn định xã hội. Do
vậy, việc nghiên cứu phân phối thu nhập được nhiều trường phái kinh tế quan tâm.
Các đại diện của các trường phái kinh tế cổ điển, tiêu biểu là A.Smith (1723-
1790), D.Ricardo (1772-1823) đã cố gắng sử dụng lý thuyết giá trị - lao động để
giải thích các hình thức thu nhập trong CNTB. Các nhà kinh tế học Mác- xít, tiêu
biểu là Mác (1818-1883), Ănghen (1820-1895) và Lênin (1870-1924) lại nghiên
cứu phân phối thu nhập với tư cách là một mặt của quan hệ sản xuất, do quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Nhiều nhà kinh tế của các trường phái cổ điển
mới, trường phái Keynes, trường phái tự do mới đã bàn tới phân phối thu nhập.
13
Trong tác phẩm “Alternative Theories of Distribution” (1956), N.Kaldor đã
xác nhận tư tưởng của các truờng phái cổ điển về tính không cân xứng trong phân
phối thu nhập của các yếu tố sản xuất, trong đó lợi nhuận được phân phối trước, tiền
lương được xác định sau [70]. Trong tác phẩm “Economic Growth and income
nhân lực [62]. Attanasio và Binelli (2003) kết luận rằng: Mỗi nước có mức độ phát
triển kinh tế, văn hóa và hệ thống giáo dục khác nhau, vì vậy, không có một khuôn
mẫu chính sách chung cho tất cả các nước. Các chính sách có thể thực hiện tốt ở
nước này nhưng có kết quả không tốt ở nước khác. Đầu tư vào giáo dục nên đuợc
coi là ưu tiên chính sách hàng đầu để khuyến khích tăng trưởng kinh tế và xóa đói
giảm nghèo (kết luận này được tìm thấy tương tự trong các công trình của Becker
(1995); UNDP (1990) và báo cáo thường niên của Ngân hàng Thế Giới).
Khảo sát về vấn đề phân phối thu nhập trong quá trình chuyển đổi kinh tế, so sánh
sự khác biệt giữa phân phối trong nền kinh tế thị trường và nền kinh tế kế hoạch hoá có các
đại diện như Anthony Atkinson (1992); John Flemming and John Micklewright (1999);
Lu Ai-guo (2001); G.Bertocchi và các cộng sự (2006)…
Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra khuôn khổ lý thuyết phong phú và
sâu sắc cho phép nhận diện và lý giải nhiều vấn đề về phân phối thu nhập trong điều
kiện nền kinh tế thị trường. Đây là nguồn tư liệu quan trọng để xem xét, đánh giá
vấn đề phân phối thu nhập trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở một đất
nước đang chuyển đổi như Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước: Trong những năm gần đây, các
công trình nghiên cứu về vấn đề phân phối thu nhập tiêu biểu theo hướng này là:
Đề tài cấp Nhà nước KX.01.10: “Vấn đề phân phối nhằm đảm bảo phát triển
kinh tế nhằm thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN” của Nguyễn Công Nghiệp (2006), tác giả đã khẳng định phân phối
trong nền kinh tế thị trường XHCN cần được thực hiện theo kết quả lao động và
hiệu quả kinh tế đóng góp theo tài sản và vốn góp, theo quỹ phúc lợi; làm rõ vai trò
và cơ chế phân phối đối với phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội [42, tr.70].
Đề tài B2002.38.40: “Vai trò của Nhà nước trong phân phối thu nhập ở nước ta”
15
của Mai Hữu Thực (2004) chỉ ra rằng cần phải đảm bảo hiệu quả và công bằng;
hiệu quả và công bằng không mâu thuẫn với nhau mà bổ trợ cho nhau, kích thích
nhau phát triển [55, tr.35]. Để thực hiện được yêu cầu và hiệu quả công bằng, Nhà
chính trị - xã hội đến vấn đề phân phối và chưa có khung khổ để hình thành cách
thức phân phối thu nhập trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [41, tr.131].
Năm 2010, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội đã nghiệm thu đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu chính sách và
giải pháp đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối tiền lương và thu nhập trong
các loại hình doanh nghiệp”, đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận, phương pháp
luận về hoàn thiện chính sách và giải pháp đảm bảo công bằng xã hội trong phân
phối tiền lương và thu nhập trong các loại hình doanh nghiệp; đánh giá thực trạng
về chính sách và giải pháp đảm bảo công bằng xã hội; dự báo xu hướng tác động
của các yếu tố đến công bằng xã hội [59, tr.115-210]. Nghiên cứu “Quan hệ phân
phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” của Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội (2008) nêu rõ: Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là tiền đề, là
điều kiện thực hiện phân phối công bằng và ngược lại, phân phối công bằng sẽ tạo
động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi
một quan hệ phù hợp với nó; thừa nhận mức độ khác nhau về thu nhập và mức
sống; phải có nhiều hình thức phân phối phù hợp và đan xen lẫn nhau để đáp ứng sự
tồn tại khách quan của nền kinh tế đa sở hữu; thực hiện quan hệ tiền lương và thu
nhập theo định hướng thị trường, phản ánh thị trường; phân phối lại qua chính sách
xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội [7, tr.10].
Đã có nhiều luận án và nghiên cứu trên các tạp chí liên quan về phân phối
thu nhập và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: Luận án “Hoàn thiện
quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”
của Nguyễn Ngọc Quân (1997), đã phân tích một số lợi ích cơ bản, mối liên hệ giữa
lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, các đặc điểm chủ yếu của quan hệ giữa các lợi ích
kinh tế ở nước ta, những mâu thuẫn và giải pháp giải quyết mâu thuẫn; công trình
đã bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện lợi ích kinh tế, một số
nguyên tắc chung và giải pháp nhằm giải quyết thoả đáng vấn đề lợi ích kinh tế
17
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam [48]. Luận án “Hoàn
ngoài. Song các nghiên cứu này chưa nghiên cứu một cách kỹ lưỡng các yếu tố như
nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá, những khái niệm về công bằng, hiệu quả chưa
được làm rõ, mới chỉ dừng lại công bằng ở kết quả phân phối và cũng chưa đề cập
đến nội hàm khái niệm này đối với phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Trong thực tiễn, nhiều vấn đề bất cập nảy sinh ở khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài như: Thu nhập thấp, đời sống người lao động gặp rất nhiều khó khăn;
việc chuyển giá, trốn, nợ thuế diễn ra nhiều; tình trạng đình công gia tăng ảnh
hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và tình hình trật tự trị an ở địa phương.
Vậy đâu là nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng dẫn đến tình trạng này? Thực tế đó
đòi hỏi phải xem xét nhiều vấn đề, trong đó có phân phối thu nhập ở loại hình
doanh nghiệp này. Những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên làm cho việc tiếp tục
nghiên cứu phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
trở nên cấp thiết.
Câu hỏi nghiên cứu của luận án là: Phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội có những ưu nhược điểm gì? Cần phải làm gì
và làm như thế nào để khắc phục các nhược điểm, tạo sự hài hòa các lợi ích kinh tế
trong các doanh nghiệp này, góp phần thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp và phát
triển kinh tế - xã hội Thủ đô?
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm quốc
tế và thực trạng quan hệ phân phối thu nhập, chỉ ra những bất cập trong phân phối
thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội, luận án đề
xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện quan hệ phân phối thu nhập trong các
doanh nghiệp này, nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của các chủ thể trong doanh
nghiệp và lợi ích của đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Hệ thống hoá lý luận về phân phối thu nhập và phân phối thu nhập trong
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện
đại, đặc biệt trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hoá và phát triển kinh tế tri thức.
thu nhập và công bằng xã hội trong phân phối thu nhập trong loại hình doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Hà Nội.
20
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được tiếp cận trước hết dưới góc độ là một khâu của quá trình tái sản
xuất, tác động qua lại với các khâu khác. Đồng thời, phân phối thu nhập là nhân tố
trực tiếp quyết định mức độ thực hiện các lợi ích kinh tế của các chủ thể trong
doanh nghiệp. Công bằng trong phân phối thu nhập tại các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được tiếp cận theo các nguyên tắc thị trường. Sự điều tiết của nhà
nước dù quan trọng đến đâu cũng phải dựa trên nguyên tắc này.
Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, luận án
sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp logic và lịch sử: Những phương pháp này được dùng trong
toàn bộ luận án và sử dụng kết hợp 2 phương pháp được thể hiện tập trung trong
chương 1 và chương 2. Sự kết hợp giữa hai phương pháp này cho phép tác giả luận
án tìm hiểu các liên hệ bên trong, bản chất phân phối thu nhập trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời kiểm nghiệm nhận thức của mình bằng
thực tiễn, phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị ứng với từng giai đoạn phát
triển nhất định.
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học: Là phương pháp truyền thống của
kinh tế chính trị, phương pháp này đã được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý
thuyết ở chương 1 và được sử dụng ở chương 2 nhằm làm rõ những nhân tố bên
trong, bản chất, tất nhiên, ổn định trong phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh: Đây là các
phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án,
đặc biệt là phần khảo cứu kinh nghiệm ở chương 1 và được sử dụng phổ biến trong
22
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG CƠ
CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Khái luận về lợi ích kinh tế
1.1.1.1. Bản chất lợi ích kinh tế
Để thoả mãn các nhu cầu của mình, con người không thể trông chờ vào những
gì có sẵn trong tự nhiên mà phải tiến hành quá trình sản xuất. Chính những kết quả
của quá trình sản xuất là cơ sở, điều kiện để thoả mãn các nhu cầu của con người.
Nhưng kết quả của quá trình sản xuất lại phụ thuộc vào quy mô và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất không những
quyết định mức độ thoả mãn các nhu cầu của con người, mà quyết định cả phương
thức thoả mãn các nhu cầu đó. Trình độ phát triển lực lượng sản xuất càng cao,
phương thức thoả mãn các nhu cầu của con người càng văn minh.
Phương thức và mức độ thoả mãn các nhu cầu của con người không chỉ tuỳ
thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà còn tuỳ thuộc vào địa vị của con
người trong hệ thống các quan hệ sản xuất xã hội. Tại một thời điểm nhất định, kết
quả của quá trình sản xuất là một lượng xác định. Phần mỗi người nhận được từ kết
quả đó nhiều ít khác nhau tuỳ thuộc chủ yếu và trước hết vào địa vị của họ đối với
tư liệu sản xuất. Ai làm chủ tư liệu sản xuất, quá trình phân phối sẽ được thực hiện
vì lợi ích của người đó.
Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế mang tính khách quan trong hoạt động
kinh tế của con người, do quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất quy định. Lợi ích
kinh tế quy định động cơ, mục đích các hoạt động kinh tế của mỗi người và của cả
loài người. Xét về bản chất thì tính chất và đặc điểm của lợi ích kinh tế phụ thuộc
vào tính chất và đặc điểm của QHSX, phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX
giữa con người với tự nhiên. Đồng thời, cũng không thể tán thành quan điểm đem
đồng nhất nhu cầu vật chất và lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế và nhu cầu vật chất
không phải là một, nhưng chúng có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Lợi ích kinh tế
24
và nhu cầu vật chất là hai phạm trù cùng loại, vừa giống nhau vừa khác nhau. Nhu
cầu vật chất thể hiện quan hệ chung của con người với hoàn cảnh vật chất xung
quanh, còn lợi ích kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người với người có cùng nhu
cầu vật chất và đối tượng thoả mãn nhu cầu vật chất với nhau trong việc thực hiện
nhu cầu vật chất ở giai đoạn lịch sử nhất định. Điều này lý giải cơ sở xã hội của sự
hình thành lợi ích vật chất cụ thể. Giữa nhu cầu vật chất và lợi ích kinh tế có cái
chung. Cả hai đều chịu sự chi phối bởi sự phát triển của trình độ LLSX và QHSX
xã hội, do đó chúng đều mang tính lịch sử. Nhu cầu vật chất và lợi ích kinh tế đều
chịu sự chi phối của những quan hệ xã hội, nhưng ở mức độ khác nhau. Chẳng hạn
do địa vị khác nhau của những người trong hệ thống sản xuất, tuy họ có nhu cầu vật
chất như nhau nhưng lợi ích kinh tế của họ lại khác nhau. Nhu cầu vật chất thể hiện
nội dung vật chất của lợi ích kinh tế và lợi ích kinh tế thể hiện quan hệ nhu cầu vật
chất của các QHSX.
Thứ năm, lợi ích kinh tế hình thành một cách khách quan, là động cơ khách
quan của hoạt động con người, phản ánh vị trí của con người trong hệ thống sản
xuất xã hội. Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của các quan hệ xã hội. Lợi ích
kinh tế nguyên nhân sâu xa nhất của sự vận động xã hội và của đấu tranh giai cấp.
Hoạt động chính trị - xã hội xét đến cùng là nhằm thoả mãn lợi ích căn bản của các
giai cấp. Hoạt động chính trị - xã hội xét cho cùng là nhằm thoả mãn lợi ích kinh tế
căn bản của các giai cấp.
Từ những phân tích trên, kết luận được rút ra là: Lợi ích kinh tế là những quan
hệ kinh tế, phản ánh những nhu cầu, những động cơ khách quan về sự hoạt động của
các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ
sản xuất quyết định [60].
Xét ở góc độ phân phối thu nhập: Lợi ích kinh tế là quyền lợi (quyền được
được thực hiện trong mối quan hệ và phù hợp với mục tiêu của các chủ thể khác.
Như vậy, các lợi ích kinh tế của các chủ chể độc lập có sự thống nhất với nhau.
Các lợi ích kinh tế mâu thuẫn với nhau vì các chủ thể kinh tế có thể hành động
theo những phương thức khác nhau để thực hiện các lợi ích của mình. Sự khác nhau
đó đến mức đối lập thì trở thành mâu thuẫn. Chẳng hạn, để thực hiện lợi ích của