Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
BH Bảo hiểm
NH Ngắn hạn
DH Dài hạn
VLĐ Vốn lưu động
CSH Chủ sở hữu
TC Tài chính
HĐKD Hoạt động kinh doanh
VCĐ Vốn cố định
VKD Vốn kinh doanh
KN Khả năng
TT Thanh toán
LN Lợi nhuận
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động bảo hiểm có từ rất lâu và nhanh chóng phát triển trở thành một
lĩnh vực có đóng góp rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội. Hoạt động
của bảo hiểm hỗ trợ về mặt tài chính thông qua công tác bồi thường cho các đơn
vị và cá nhân tham gia bảo hiểm khi có những tổn thất, hoặc thiệt hại hay
thương tật bản thân phát sinh từ những rủi ro được bảo hiểm. Ngoài ra bảo hiểm
còn đóng góp vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của thị trường tài
chính thông qua hoạt động đầu tư vốn và các quỹ nhàn rỗi được hình thành từ
phí bảo hiểm.
đời sống kinh tế - xã hội nói chung. Để đối phó và khắc phục những hậu quả do
rủi ro gây ra, từ trước đến nay người ta đã đưa ra nhiều biện pháp khác nhau như
việc thành lập các hội tương hỗ, đi vay…Tuy nhiên khi xã hội ngày càng phát
triển, nền sản xuất ngày càng lớn và khó kiểm soát. Bên cạnh đó, sự phát triển
của khoa học công nghệ, mối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia ngày
càng mở rộng đã làm cho con người tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, song cũng
gây ra nhiều nguy cơ làm ảnh hưởng tới sự an toàn của chính con người. Đó
chính là điều kiện khách quan để ngành bảo hiểm ra đời và ngày càng phát triển
cùng với sự phát triển không ngừng của các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đã có nhiều định nghĩa về bảo hiểm, tuy nhiên thật khó để có thể đưa ra
một định nghĩa hoàn hảo có thể phản ánh đầy đủ bản chất và bao quát nhất một
lĩnh vực đa dạng như bảo hiểm:
Theo Ts. Nguyễn Ngọc Định: “Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá
nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc
cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ
chức trả. Tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các
thiệt hại theo phương pháp thống kê”.
Bảo hiểm là hoạt động theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của
người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
5
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hoặc có thể nói BH là sự đóng góp của
số đông vào sự bất hạnh của số ít.
Kinh doanh bảo hiểm là việc người nhận bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế
trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm mà theo đó, đổi lấy phí bảo hiểm, người nhận bảo
hiểm cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo
hiểm khi xảy ra những rủi ro được bảo hiểm theo hợp đồng .
1.1.2 Vai trò, chức năng của bảo hiểm.
Nhưng nếu tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm chỉ phải đóng cho công ty
bảo hiểm một khoản chi phí rất nhỏ so với số tiền họ nhận được khi có tổn thất
xảy ra, với số tiền này họ có thể nhanh chóng ổn định được đời sống, sản xuất
kinh doanh của mình.
- Tạo ra sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm: Bất kì
ai cũng mong muốn bản thân, gia đình và doanh nghiệp của mình luôn được an
toàn, do vậy họ tham gia bảo hiểm. Khi tham gia bảo hiểm họ đã chuyển mọi rủi
ro thường trực xung quanh mình cho các công ty bảo hiểm, nhờ đó tạo sự an tâm
tập trung vào việc phát triển sản xuất kinh doanh.
- Khuyến khích tiết kiệm: Các hình thức bảo hiểm thường khuyến khích
người ta tiết kiệm để chăm lo tuổi già, đề phòng tai nạn xảy ra đối với mình và
người thân, để hoạch định những nhu cầu về tài chính lớn trong tương lai: xây
nhà, mua xe, chu cấp các khoản chi phí cho con cái…
- Đầu tư phát triển kinh tế: Do đặc trưng của ngành bảo hiểm là tại thời
điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm người được bảo hiểm bắt buộc phải thanh toán
phí bảo hiểm. Nếu trong thời hạn hợp đồng người được bảo hiểm không may
gặp rủi ro họ sẽ nhận được số tiền bồi thường từ công ty bảo hiểm. Trong thời
gian thu phí đến khi thanh toán bồi thường (nếu có tổn thất xảy ra) số phí bảo
hiểm này có một thời gian nhàn rỗi, vì vậy các công ty bảo hiểm sử dụng nó để
đầu tư trở lại vào nền kinh tế quốc dân như mua trái phiếu, gửi ngân hàng, đầu
tư kinh doanh vào sản xuất…
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Các công ty bảo hiểm ra
đời và phát triển đã thu hút được một lực lượng lao động đông đảo tham gia
vào các vị trí : nhân viên văn phòng, đại lý, cộng tác viên…với mức thu nhập
khá hấp dẫn.
- Góp phần đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Bảo hiểm góp
phần mở rộng các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài. Điều này được thể hiện
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
7
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
Tính không thể cất trữ, không thể tách rời đòi hỏi các doanh nghiệp bảo
hiểm phải chú trọng đến lượng thời gian dành cho bán hàng cá nhân và cần nâng
cao năng lực của các bộ phân cung cấp dịch vụ. Các doanh nghiệp cần phải đào
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
8
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
tạo những nhân viên có thể nhận biết và đáp ứng nhu cầu khách hàng từ đó bán
được nhiều sản phẩm.
•Tính không đồng nhất: Dịch vụ bảo hiểm cũng như các dịch vụ khác,
chủ yếu được thực hiện bởi con người, do đó không phải lúc nào cũng nhất
quán. Vì vậy để nâng cao chất lượng dịch vụ, ổn định không giảm sút về chất
lượng các doanh nghiệp bảo hiểm cần chú trọng đến công tác tuyển chọn, đào
tạo và khuyến khích những người trực tiếp bán hàng.
•Tính không bảo hộ bản quyền: Mặc dù khi tung sản phẩm nào đó ra thị
trường các doanh nghiệp đều phải đăng kí sản phẩm để nhận được sự phê chuẩn
của cơ quan quản lý Nhà nước và kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên việc phê
chuẩn này chỉ mang tính nghiệp vụ kỹ thuật chứ không mang tính bảo hộ bản
quyền. Vì vậy chỉ sau một thời gian ngắn các công ty bảo hiểm khác có thể sao
chép sản phẩm mới để kinh doanh mà không hề vi phạm bảo quyền.
1.1.3.2 Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm:
• Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm “không mong đợi”: Việc xảy ra rủi ro
gây tổn thất cho người mua bảo hiểm là hoàn toàn ngẫu nhiên và không được
mong muốn dù bên bán hay bên mua. Đặc tính này làm cho việc giới thiệu, chào
bán sản phẩm trở nên vô cùng khó khăn nên sản phẩm bảo hiểm thường được
xếp vào nhóm sản phẩm “được bán chứ không phải được mua”. Nói cách khác,
sản pphẩm bảo hiểm là sản phẩm của “nhu cầu thụ động”- người tiêu dùng
không chủ động tìm mua mà chỉ mua khi có các nỗ lực Marketing của người
bán.
•Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của chu trình kinh doanh đảo ngược:
Trong các lĩnh vực khác, giá cả sản phẩm được dựa trên cơ sở chi phí thực tế
tham gia bảo hiểm là tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế và
chủ yếu mang tính chất tự nguyện, nhằm đảm bảo ổn định tài chính cho người
tham gia bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong bảo hiểm thương
mại chia ra làm 2 loại chính:
Bảo hiểm nhân thọ: Bao gồm các sản phẩm (dịch vụ) bảo hiểm phục vụ
cho việc ổn định cuộc sống của con người.
Bảo hiểm phi nhân thọ: Bao gồn các sản phẩm (dịch vụ) bảo hiểm phục
vụ cho việc sản xuất kinh doanh của các cá nhân hay doanh nghiệp.
1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Cơ chế hoạt động của bao rhiểm dựa trên các nguyên tắc sau:
*Nguyên tắc 1: Hoạt đông theo quy luật số đông
Như đã biết, hoạt động bảo hiểm tạo ra được một “sự đóng góp của số đông
vào sự bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành
cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số người
tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
10
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi
người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sản xuất của mình.
Hệ quả:
Nguyên tắc dàn trải rủi ro: thể hiện ở việc dàn trải về không gian, thời
gian và về giá trị để phân tán rủi ro.
Nguyên tắc lựa chọn: trong thực tế các rủi ro do mỗi khách hàng mang
đến là không giống nhau. Do đó, nhà bảo hiểm sẽ không chấp nhận đảm bảo cho
tất cả các rủi ro đó mà phải lựa chọn và từ chối những trường mà độ trầm trọng
của rủi ro qua lớn vì khi xảy ra tổn thất, phí BH thu được không đủ để bù đắp cà
có thể đe dọa cả cộng đồng
Nguyên tắc phân chia rủi ro: để giảm nhẹ bớt trách nhiệm bảo hiểm,
DNBH cần phải tìm cách chia sẻ rủi ro mà họ đã nhận cho các nhà BH khác,
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
12
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
1.2.Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh:
1.2.1.Khái niệm về HQKD và HQKD bảo hiểm:
Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội
đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh mang lại. Hiệu quả kinh doanh bao
gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế có
ý nghĩa quyết định.
- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể đạt được kết quả cao nhất với chi phí
thấp nhất.
- Hiệu quả xã hội: Phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá
trình hoạt động kinh doanh.
1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh bảo hiểm.
1.2.2.1.Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
•Khả năng thanh toán hiện thời (Rc)
Giá trị tài sản ngắn hạn
Rc
=
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này thể hiện cứ một đồng vốn nợ ngắn hạn thì doanh nghiệp có bao
nhiêu đồng tài sản lưu động để đảm bảo thanh toán. Tỷ lệ này càng lớn thì khả
năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao. Nếu Rc < 1, điều này chứng tỏ
doanh nghiệp khó khăn trong việc thanh toán nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá
lớn, chứng tỏ tiền đã tông đọng nhiều ở tài sản lưu động, có nghĩa là doanh nghiệp
sử dụng vốn không hiệu quả. Nếu vốn tập trung nhiều ở khoản đầu tư ngắn hạn (ví
dụ: gửi ngân hàng có kì hạn) thì có thể hợp lý. Nếu vốn tập trung ở khoản phải thu
thì doanh nghiệp đã bị chiếm dụng vốn. Đối với kinh doanh bảo hiểm, giá trị hàng
tồn kho không đáng kể, không ảnh hưởng gì đến tính thanh khoản của doanh
•Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Là chỉ tiêu phản ánh 1 đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tham gia và tạo ra bao
nhiêu đồng doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Vốn lưu động
1.2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động:
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
14
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
•Tỷ lệ chi kinh doanh.
*Tỷ lệ chi kinh doanh
Chi quản lý + Chi khác
Doanh thu thuần
1.2.2.4.Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi.
•Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) :
Là tỷ số đo lường hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn tài sản của một doanh
nghiệp. Tỷ số ROA đo lường suất sinh lời của cả vốn chủ sở hữu và cả của nhà
đầu tư.
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROA =
Tổng giá trị tài sản
Tỷ số ROA nối kết các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với hoạt động
đầu tư của một doanh nghiệp không kể doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn nào để
phục vụ cho các hoạt động đầu tư của mình. ROA đo lường hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp.
•Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE):
Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp
để tạo ra thu nhập và lãi cho các cổ đông cổ phần thường. Nói cách khác, nó đo
1.3.2.Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài.
Là những lực lượng ở bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động của doanh nghiệp. Những biến động của môi trường bên ngoài có thể mở
ra những cơ hội thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh, đồng thời chứa đựng
những nguy cơ tác động xấu đên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là
những yếu tố cơ bản sau:
- Môi trường về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội.
- Khách hàng
- Vị thế cạnh tranh của công ty
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
16
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
CHƯƠNG 2: THỰC TRANG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY BẢO VIỆT ĐÔNG ĐÔ
2.1 Giới thiệu tổng quát về công ty
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tên doanh nghiệp: Công ty Bảo Việt Đông Đô
Tên viết tắt: Bảo Việt Đông Đô
Hình thức pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước
Ngành nghề hoạt động: Bảo hiểm phi nhân thọ
Địa chỉ doanh nghiệp: 271 Quang Trung, thị xã Hà Đông, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 33821700, 33824332, 33827334
Fax: (84-4) 33826333
Email: [email protected]
Website: www.baoviet.com.vn
Công ty Bảo Việt Đông Đô là đơn vị trực thuộc Tổng công ty bảo hiểm bảo
Việt, tập đoàn Bảo Việt tiền thân là công ty Bảo Việt Hà Tây được thành lập
ngày 30 tháng 12 năm 1980. Năm 2008 thực hiện nghị quyết 15/2008/QH12 của
quốc hội, tỉnh Hà Tây hợp nhất với thủ đô Hà Nội kể từ ngày 01/08/2008. Công
ty Bảo Việt Hà Tây được đổi thành công ty Bảo Việt Đông Đô theo giấy phép
- Bảo hiểm trách nhiệm chủ phương tiện đối với hàng hóa
- Bảo hiểm trách nhiệm chủ phương tiện đối với người trên xe
- Bảo hiểm toàn diện học sinh
- Bảo hiểm tai nạn con người 24h/24h
- Bảo hiểm kết hợp con người
- Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
- Bảo hiểm tài sản
- Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
Ngoài ra còn có một số loại hình bảo hiểm khác đang được triển khai
thực hiện.
Cùng với sự đa dạng hóa các nghiệp vụ bảo hiểm. Bảo Việt Đông Đô còn
nghiên cứu tìm ra những bước đi và đối sách thích hợp để đáp ứng nhu cầu
khách hàng ngày một tốt hơn. Một trong những phương thức quan trọng nhằm
nâng cao uy tín của công ty đó là sự mở rộng quan hệ với nhiều công ty bảo
hiểm trên thế giới. Hiện nay Bảo Việt Đông Đô thông qua Tổng công ty Bảo
Việt Việt Nam đã quan hệ với nhiều công ty tái Bảo Hiểm, và các tập đoàn lớn
bảo hiểmm trên thế giới như: Tokyo Marine, Yasuda Mitsui Marine (Nhật),
Munich Re(Đức), Swiss Re(Thụy Sĩ), Commerical Union(UK) nhờ hoạt đông
tái bảo hiểm, bảo việt đông đô đã không những tham gia ký kết được các hợp
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
18
Trng i hc Kinh doanh v Cụng ngh Khoa: Ti chớnh
ng bo him cú giỏ tr ln m cũn m bo c cụng tỏc bi thng cho
khỏch hng nhanh chúng v thun tin.
2.1.3 C cu t chc
S 1: C cu t chc
Qua s trờn ta thy c c cu t chc ca cụng ty Bo Vit ụng ụ.
Sau õy ta s i sõu vo nghiờn cu chc nng v quyn hn ca cỏc phũng ban
trc thuc.
Giỏm c:
kim
tra ni
b
Phũng
giỏm
nh bi
thng
Phũng
BH phi
hng hi
Phũng
BH hng
hi
Phũng BH
chỏy v ru
ro hng húa
Phũng BH
ri ro k
thut
19
Trng i hc Kinh doanh v Cụng ngh Khoa: Ti chớnh
- Duy trì hoạt động của văn phòng Công ty theo quyết định và phân cấp
của Giám đốc, đôn đốc Ban giám đốc, phòng, các bộ phận thực hiện đúng tiến
độ nội dung công việc.
- Chủ trì các vấn đề khác khi đợc giám đốc uỷ quyền
Phòng Tài chính - Kế toán
* Chức năng:
- Quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, tài chính kế toán. Giám đốc bằng
tiền các hoạt động tài chính kinh tế. Hạch toán phản ánh các hoạt động kinh tế
tài chính theo qui định pháp luật.
- Quản lý nghiệp vụ giám định bồi thờng trong toàn Công ty.
- Tham mu giúp giám đốc phối hợp với các phòng liên quan.
SV: Nguyn Thu H Lp: TC14.33
21
Trng i hc Kinh doanh v Cụng ngh Khoa: Ti chớnh
* Quyền hạn:
- Kiểm tra hớng dẫn các phòng về công tác giám định bồi thờng theo phân
cấp của Giám đốc. Đợc yêu cầu các phòng phối hợp để giải quyết nhanh chóng
chính xác việc giám định bồi thờng khách hàng.
Phòng bảo hiểm phi hàng hải:
*Chức năng:
Quản lý và trực tiếp kinh doanh các nghiệp vụ phi hàng hải theo phân công
phân cấp của Giám đốc Công ty.
- Phối hợp với các phòng trong hoạt động kinh doanh và tham mu giúp việc
Giám đốc Công ty.
* Quyền hạn
Đợc quyền kiểm tra hớng dẫn và yêu cầu các phòng báo cáo về công tác
khai thác các nghiệp vụ và quyết định bồi thờng theo phân cấp của Giám đốc.
Các phòng kinh doanh nghiệp vụ (phòng bảo hiểm hàng hải, phòng bảo
hiểm hoả hoạn và rủi ro hỗn hợp, phòng bảo hiểm rủi ro kỹ thuật).
* Chức năng:
Các phòng này có chức năng quản lý nghiệp vụ kinh doanh của mình theo
phân cấp và qui chế của Giám đốc Công ty. Trực tiếp kinh doanh các nghiệp vụ
bảo hiểm, phối hợp với các phòng trong hoạt động kinh doanh.
* Quyền hạn:
Các phòng này đều có quyền hạn kiểm tra tình hình khai thác và chấp hành
qui định về khai thác bảo hiểm, giao dịch và môi giới để khai thác các nghiệp vụ.
áp dụng các chính sách khai thác và quyết định giải quyết bồi thờng theo phân
cấp của giám đốc Công ty.
2.1.4 Tỡnh hỡnh ti sn-ngun vn ca cụng ty
tiền
Tỷ lệ
(%)
Số
tiền
Tỷ lệ
(%)
A. Tài sản NH 38,20 65,10 56,27 72,76 63,80 69,33 18,07 47,30 7,53 13,38
1. Tiền và tương
đương tiền
3,55 6,05 6,12 7,92 6,26 6,80 2,57 72,40 0,14 2,28
2. Các khoản đầu
tư tài chính NH
1,65 2,81 2,56 3,31 2,02 2,20 0,91 55,15 -0,54 -21,09
3. Các khoản phải
thu NH
12,70 21,65 17,60 22,76 20,33 22,10 4,9 38,58 2,73 15,51
4. Hàng tồn kho 12,84 21,88 20,75 26,84 23,15 25,15 7,91 61,60 2,4 11,56
5. Tài sản NH khác 7,46 12,71 9,24 11,93 12,04 13,08 1,78 23,86 2,8 30,30
B. Tài sản DH 20,48 34,90 21,05 27,24 28,22 30,67 0,57 2,78 7,17 34,06
1. Tài sản cố định 17,97 30,62 18,88 24,33 25,22 27,41 0,91 5,06 6,34 33,58
2. Các khoản đầu
tư tài chính DH
2,51 4,27 2,17 2,81 3,00 3,26 -0,34 -13,55 0,83 38,24
Tổng tài sản 58,68 100 77,32 100 92,02 100 18,64 31,77 14,7 19,01
(Nguồn số liệu: Phòng Kế toán - Bảo Việt Đông Đô)
Bảng 2.1 cho thấy rằng:
Tổng tài sản hiện có của công ty tăng đều qua các năm, trong đó năm 2010
là 58,68 tỷ đồng, năm 2011 là 77,32 tỷ đồng, năm 2012 là 92,02 tỷ đồng. Cụ thể
tổng tài sản năm 2011 tăng 18,64 tỷ đồng tương ứng với 31,77% so với năm
tỏ một phần vốn của công ty bị doanh nghiệp khác chiếm dụng và một phần vốn
khácbị ứ đọng dưới dạng hàng tồn kho.
2.1.4.2 Nguồn vốn và sự biến động của cơ cấu nguồn vốn
Dưới đây là bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn dựa theo báo cáo tài chính
của phòng kế toán công ty Bảo Việt Đông Đô năm 2010-2012
SV: Nguyễn Thu Hà Lớp: TC14.33
24
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Khoa: Tài chính
Bảng 2.2 Nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của công ty (2010-2012)
Đơn vị: tỷ đồng, %
Stt Chỉ tiêu
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 So sánh
Giá
Trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
Trị
Tỷ
trọng
(%)
Giá
Trị
Tỷ
trọng
(%)
Năm
2011/2010
Năm
7,52 13,36
3
Vốn cố
định
20,48 36,00 21,05 27,23 28,23 30,68 0,57 2,78 7,18 34,10
Phân theo nguồn hình thành
4
Vốn chủ
sở hữu
18,0
4
30,75 24,98 32,31 27,60 30,00 6,94
38,4
7
2,62 10,48
5
Nợ phải
trả
40,6
4
69,25 52,34 67,69 64,42 70,00 11,7 28,79 12,08 23,07
(Nguồn số liệu: Phòng Kế toán - Bảo Việt Đông Đô)
Bảng 2.2 cho thấy rằng tổng nguồn vốn của công ty năm 2011 là 77,32 tỷ
đồng tăng 18,64 tỷ đồng tương ứng với 31,76% so với năm 2010. Tổng nguồn
vốn năm 2012 là 92,02 tỷ đồng tăng 14,7 tỷ đồng tương ứng vơi 19,01% so với
năm 2011. Trong đó:
- Vốn CSH năm 2011 là 24,98 tỷ đồng tăng 6,94 tỷ đồng tương ứng với
38,47% so với năm 2010. Năm 2012, vốn CSH là 27,60 tỷ đồng tăng 2,62 tỷ
đồng tương ứng với 10,48% so với năm 2011. Xét về cơ cấu vốn CSH trung
bình của 3 năm chiếm khoảng 30% trên tổng nguồn vốn.