BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CƠNG NGHỆ THỰC PHẨM
LÊ ĐÀO THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG
KHÁNG KHUẨN CỦA CHITOSAN TỪ XƯƠNG MỰC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chun Ngành: CƠNG NGHỆ THỰC PHẨM
GVHD: ThS. VŨ LỆ QUN
LÊ ĐÀO THANH HƯƠNG
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 2
TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về chitosan và ứng dụng 3
1.1.1.Chitosan 3
1.1.2. Một số tính chất của chitosan 4
1.1.2.1. Khả năng kháng khuẩn, kháng nấm của chitosan] 4
1.1.2.2. Tính tan 5
1.1.2.2. Tỷ trọng 5
1.1.2.3. Khả năng tạo màng. 5
1.1.3. Khái quát ứng dụng của chitosan 6
1.1.3.1. Trong công nghiệp thực phẩm 6
1.1.3.2. Trong nông nghiệp và thủy sản 8
1.1.3.3. Ứng dụng của chitosan trong xử lý môi trường 9
1.1.3.4. Ứng dụng chitosan trong y học và trong công nghệ sinh học 10
1.1.3.5. Trong các ngành công nghiệp khác 11
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kháng khuẩn của chitosan 12
1.1.4.1. Ảnh hưởng của pH môi trường 14
1.1.4.2. Ảnh hưởng bởi các loại vi khuẩn 14
1.1.4.3. Ảnh hưởng bởi trọng lượng phân tử 15
1.1.4.4. Ảnh hưởng bởi độ deacetyl của chitosan 16
1.1.4.5. Ảnh hưởng bởi nồng độ của chitosan 16
1.1.4.6. Ảnh hưởng bởi các yếu tố khác 16
1.1.5. Tình hình nghiên cứu, sản xuất chitosan 16
Hình 1.1. Chitosan 3
Hình 1.2. Công thức cấu tạo của chitosan 3
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tổng quát 28
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nồng độ chitosan thích hợp để ức chế
hoàn toàn vi sinh vật 29
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian xử lý thích hợp để ức chế hoàn
toàn vi sinh vật 30
Hình 3.1. Hình ảnh kết quả kháng E. coli Error! Bookmark not defined.
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả kháng E. coli của chitosan từ xương mực theo nồng độ ở
thời gian xử lý là 90 phút 34
Hình 3.3. Biểu đồ kết quả kháng E. coli của chitosan từ xương mực theo thời gian 35
Hình 3.4. Hình ảnh kết quả kháng Listeria 36
Hình 3.5. Biểu đồ kết quả kháng Listeria của chitosan từ xương mực theo nồng độ ở
thời gian xử lý là 90 phút 37
Hình 3.6. Biểu đồ kết quả kháng Listeria của chitosan từ xương mực theo thời gian
38
Hình 3.7. Hình ảnh kết quả kháng S. aureus 39
Hình 3.8. Biểu đồ kết quả kháng S. aureus của chitosan từ xương mực theo nồng độ
ở thời gian xử lý là 90 phút 40
Hình 3.9. Biểu đồ kết quả kháng S. aureus của chitosan từ xương mực theo thời
gian 41
v
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Giải thích
1 VSV Vi sinh vật
3 Bảng P2.1. Kết quả kháng Listeria của chitosan từ xương
mực theo nồng độ chitosan (% Listeria bị ức chế )
4 Bảng P2.2. Kết quả kháng Listeria của chitosan từ xương
mực theo thời gian (% Listeria bị ức chế )
5 Bảng P3.1. Kết quả kháng S. aureus của chitosan từ xương
mực theo nồng độ chitosan (%S. aureus bị ức chế )
6 Bảng P3.2. Kết quả kháng S. aureus của chitosan từ xương
mực theo thời gian (% S. aureus bị ức chế )
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia ven biển Đông Nam Á, có 3260 km bờ biển từ Móng
Cái đến Hà Tiên và là vùng biển nhiệt đới nên Việt Nam có một tiềm năng phong
phú về nguồn lợi thủy sản.[11]
Chitosan là polysacharide nhiều thứ hai sau cellulose tìm thấy trong tự nhiên.
Sản phẩm chitin - chitosan đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng trong
thực tế. Chitin có ứng dụng làm da nhân tạo và là nguyên liệu trung gian cho các
chất quan trọng như chitosan, glucosamine và các chất có giá trị khác. Chitosan có
nhiều ứng dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y dược và bảo vệ môi
trường như: Sản xuất glucosamine, chỉ khâu phẫu thuật, thuốc kem, vải, sơn, chất
bảo vệ hoa quả, bảo vệ môi trường. Với khả năng ứng dụng rộng rãi của chitin –
chitosan mà nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất các sản
phẩm này.
Giáp xác là nguồn nguyên liệu thủy sản dồi dào chiếm 1/3 tổng sản lượng
nguyên liệu thủy sản ở Việt Nam. Trong công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu,
tỷ lệ cơ cấu các mặt hàng đông lạnh giáp xác chiếm từ 70 - 80% công suất chế biến.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về chitosan và ứng dụng
1.1.1.Chitosan
Hình 1.1. Chitosan
Công thức phân tử của chitosan [C
6
H
11
O
4
N]
n
Phân tử lượng trung bình của chitosan = (161,07)
n
4
cho phản ứng màu tím, phản ứng này có thể dùng
để phân tích định tính chitosan.[7],[10]
1.1.2.1. Khả năng kháng khuẩn, kháng nấm của chitosan [2],[10]
Chitosan có khả năng ức chế nhiều chủng vi sinh vật: Vi khuẩn gram âm, vi
khuẩn gram dương và vi nấm. Khả năng ức chế vi sinh vật của chitosan phụ thuộc
vào độ deacetyl, phân tử lượng, pH của dung dịch. So với chitin, chitosan có khả
năng kháng khuẩn, kháng nấm tốt hơn vì chitosan tích điện dương ở vị trí carbon
thứ 2 ở pH nhỏ hơn 6. Chitosan có độ deacetyl cao trên 85% thì có khả năng kháng
khuẩn, kháng nấm tốt. Chitosan có phân tử lượng dưới 2.000 dalton thì khả năng ức
chế vi sinh vật kém. Chitosan có phân tử lượng trên 9.000 dalton thì có khả năng ức
chế vi sinh vật cao (Jeon và cộng sự, 2000).
5
1.1.2.2. Tính tan [7],[9]
Chitosan tan trong các dung dịch acide hữu cơ như acetic, formic và lactic
thường được sử dụng để hòa tan chitosan. Thường sử dụng nhất là dung dịch
chitosan 1% tại pH 4,0. Chitosan cũng tan trong dung dịch HCl 1% .
Tỉ lệ nồng độ giữa chitosan và acide rất quan trọng. Ở nồng độ dung môi hữu
cơ cao hơn 50%, chitosan vẫn hoạt động như là một chất gây nhớt giúp cho dung
dịch mịn. Có một vài nhân tố ảnh hưởng đến dung dịch chitosan bao gồm nhiệt độ
và thời gian, quá trình deacetyl hóa, nồng độ các chất kiềm, việc xử lý sơ bộ, kích
thước của các phần tử. Tuy nhiên, tính tan của dung dịch còn bị ảnh hưởng của mức
độ acetyl hóa, mức độ deacetyl hóa trên 85% để đạt được tính tan mong muốn.
1.1.2.2. Tỷ trọng [10]
Tỷ trọng của chitin từ tôm và cua thường là 0,06 và 0,17 g/ml, điều này cho
thấy chitin từ tôm xốp hơn từ cua. Chitin từ nhuyễn thể xốp hơn từ cua 2,6 lần.
anthocyamin, flavonoid và tổng lượng các hợp chất phenol ít biến đổi, giữ cho rau
quả tươi lâu hơn. Táo có phủ màng chitosan có thể giữ tươi trong 6 tháng, nó cũng
làm chậm quá trình chin chuối hơn 30 ngày, chuối có màu vàng nhạt khác hẳn với
màu thâm như bảo quản thông thường.
1.1.3. Khái quát ứng dụng của chitosan [9],[10]
1.1.3.1. Trong công nghiệp thực phẩm
Trong công nghiệp thực phẩm, chitosan là hợp chất polyme tự nhiên an toàn với
những tính chất đặc trưng như khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa,
tạo màng, tạo gel, hấp phụ màu, làm trong,…nên chitosan được ứng dụng nhiều
trong công nghệ chế biến và bảo quản thực phẩm. Một số ứng dụng chính của
chitosan như sau:
Ứng dụng chitosan trong tạo màng, chống biến nâu, mất nước, kháng nấm, bảo
quản trái cây, rau
Chitosan có khả năng tạo màng rất tốt và màng chitosan là màng bán thấm, do
đó có khả năng làm thay đổi thành phần các chất khí trong môi trường bảo quản.
Việc ứng dụng màng chitosan làm màng bao sẽ tạo ra rào cản hạn chế sự cung cấp
7
oxy trên bề mặt rau quả và hàm lượng CO
2
bên trong màng tăng lên nên quá trình
hô hấp của rau quả bị ức chế và hạn chế quá trình biến nâu của quả. Hơn nữa, màng
chitosan lại có tính kháng khuẩn, kháng nấm nên sự hư hỏng rau quả do vi sinh vật
sẽ giảm đi.
Chitosan đã nghiên cứu ứng dụng trong bảo quản nhiều loại rau quả như vải,
dâu, xoài, chuối, táo, cà rốt,…Vải và nhãn là những loại quả có giá trị kinh tế cao
nhưng lại có thời gian bảo quản rất ngắn dưới điều kiện bình thường (Jiang, 2001;
Jiang, 2005) và chúng bị giảm giá trị nhanh do sự biến nâu của vỏ. Màu của vỏ vải
và nhãn là do hợp chất phenol (chủ yếu là anthocyanin) trên vỏ quyết định.
Polyphenol oxydase oxy hóa các hợp chất phenol, gây ra sự biến nâu của vỏ. Màng
trong khi đó, thời gian bảo quản đậu phụ kéo dài khi tăng độ deacetyl hóa của
chitosan (Chang và cộng sự, 2003).
Ngoài ra, chitosan cũng được ứng dụng trong quá trình sản xuất bánh mì nhờ
khả năng kháng nấm và tạo màng bao chống mất nước.
Ứng dụng chitosan làm chất keo tụ, tạo bông để làm trong trong công nghệ sản
xuất nước quả
Trong công nghệ sản xuất nước quả, làm trong nước quả là một bước quan
trọng để thu được sản phẩm có độ trong, sáng, màu sắc đẹp. Hiện tượng nước quả bị
đục là ảnh hưởng của các hợp chất phenol, chất keo và các chất lơ lửng còn lại.
Chitosan thể hiện là một chất keo tụ, tạo bông, làm trong rất tốt. Chitosan với hàm
lượng 0,8kg/m
3
có thể làm giảm độ đục của nước ép táo xuống rất nhiều lần, thậm
chí có thể làm giảm độ đục của nước ép táo xuống còn 0 và kết quả là làm tăng độ
trong của nước ép táo lên rất nhiều lần so với việc dùng một số chất khác làm tác
nhân trợ lắng, ổn định độ trong cho nước quả.
1.1.3.2. Trong nông nghiệp và thủy sản
Trong nông nghiệp
Chitosan được sử dụng để tăng cường sự hoạt động của các vi sinh vật có lợi
trong đất, bọc các hạt giống nhằm mục đích ngăn ngừa sự tấn công của nấm trong
đất, đồng thời nó còn có tác dụng cố định phân bón, thuốc trừ sâu, tăng cường khả
năng nảy mầm của hạt, giảm stress cho cây, kích thích sinh trưởng và tăng năng
suất thu hoạch. Đặc biệt, chitosan có đóng vai trò là chất kích thích hệ miễn dịch
9
của cây và sự hoạt động của enzyme chitinase (Chandrkrachang, 2002; Dzung và
Thang, 2002; Luan và cộng sự, 2006; Dzung, 2009).
Bittelli và cộng sự (2001) đã nghiên cứu ứng dụng của chitosan để chống hạn.
Chitosan làm giảm sự thoát hơi nước qua lá trên cây ớt trong điều kiện trồng trong
nhà kính và trên đồng. Kết quả cho thấy chitosan làm giảm 26 – 43% lượng nước sử
anion trên các phân tử protein và khả năng hấp phụ của chitosan.
Phân tử chitosan cũng có khả năng hấp phụ, tạo cầu nối để liên kết các hạt keo
protein đã kết tủa thành các phân tử có kích thước lớn hơn và lắng xuống.
Ứng dụng chitosan trong xử lý chất màu của nươc thải từ nhà máy dệt nhuộm
Ngành công nghiệp dệt nhuộm tạo ra một lượng lớn nước thải chứa nhiều chất
màu gây ô nhiễm. Tuy nhiên các phương thức xử lý nước thải hiện nay chỉ có thể
làm giảm BOD và các chất thải rắn mà hiệu quả xử lý chất màu chưa cao. Chitosan
có khả năng hấp phụ các thuốc nhuộm nhờ phản ứng trao đổi ion tại pH thích hợp
và hấp phụ vật lý.
1.1.3.4. Ứng dụng chitosan trong y học và trong công nghệ sinh học [7]
Trong y học
Do tính chất tương thích sinh học và tự hủy sinh học cao của chitosan nên được
ứng dụng làm chất mang trong việc kiểm soát quá trình giải phóng thuốc và chất
mang vận chuyển thuốc. Các dạng ứng dụng chính của chitosan là dạng vi hạt, hạt
nano, nhũ dịch. Rất nhiều loại thuốc đã được thử nghiệm với chitosan như insulin,
5-fluorouracil, thuốc chống ung thư, kháng viêm,…
Trong lĩnh vực kiểm soát cân nặng cơ thể, chitosan được xem là một chất giảm
béo rất tốt (Shahidi và Abuzaytoun, 2005). Chitosan có khả năng ngăn cản sự hấp
thụ mỡ của cơ thể. Chitosan có khả năng làm giảm cholesterol trong máu.
Trong công nghệ sinh học
Chitosan được sử dụng khá rộng rãi làm vật liệu cố định enzyme và tế bào
thông qua cầu nối glutaraldehyt hoặc được nhốt trong gel. Tuy nhiên vật liệu
chitosan còn biểu hiện nhiều nhược điểm về tính chất cơ lý, độ bền hóa học và hoạt
tính enzyme còn thấp. Để khắc phục nhược điểm này nhiều công trình nghiên cứu
đã cho phép sử dụng xạ styrene, metyl, metacaylat, acrylonitrit lên chitosan, tạo ra
những vật liệu compolyme có độ bền cơ lý và hóa học cao.
11
Khoa Sinh Học Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên Tp.HCM và Phòng
Công Nghệ Bức Xạ - Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt đã nghiên cứu phép bức
Trong mỹ phẩm: Chitosan được sử dụng để sản xuất kem giữ ẩm cho da, do
tính chất của chitosan là có thể cố định dễ dàng trên lớp biểu bì của da nhờ các
nhóm –NH
3
+
, các nhóm này liên kết với tế bào sừng hóa của da. Nhờ vậy các nhà
khoa học đã nghiên cứu sử dụng chitosan làm các loại kem dưỡng da chống nắng
bằng cách ngăn các chất độc, lọc tia cực tím với nhóm –NH
3
+
. Kem dưỡng da được
tổng hợp như sau: Rót dung dịch B gồm sáp ong 5%, sáp parafin 10%, stereat
sodium 6%, dầu khoáng 50% và dung dịch A gồm nước 15%, triethanolmin 15%,
glycerin 6%, kalicacbonat 0,3% sau đó khuấy đảo và cho thêm chitossan vào. Qua
nghiên cứu cho thấy kem dưỡng da chitosan có khả năng kháng nguyên làm sạch
da, kích thích sự phát triển của tế bào non, làm cho da dẻ hồng hào.
Chitosan được sử dụng là thành phần của keo xịt tóc, do chitosan là polyamine
(điện dương) có thể kết hợp với các protein của tóc và nhờ độ keo của nó khi khô sẽ
làm cho tóc cứng, giữ được nếp của tóc.
Trong phim ảnh: Phim chitin có độ nét cao, không tan trong nước, acide. Độ
cứng được cải thiện bằng cách tổng hợp đúc chitosan rồi xử lý phim bằng dung dịch
acide.[2]
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kháng khuẩn của chitosan [10]
Gần đây những nghiên cứu về tính kháng khuẩn của chitosan đã chỉ ra rằng
chitosan có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Trong một nghiên cứu khá
rộng về tính kháng khuẩn của chitosan từ tôm chống lại E. coli, người ta đã tìm ra
rằng nhiệt độ cao và pH acide của thức ăn làm tăng ảnh hưởng của chitosan đến vi
khuẩn. Nó cũng chỉ ra cơ chế ức chế vi khuẩn của chitosan là do liên kết giữa chuỗi
polymer của chitosan với các ion kim loại trên bề mặt vi khuẩn làm thay đổi tính
thấm của màng tế bào. Khi bổ sung chitosan vào môi trường, tế bào vi khuẩn sẽ
với ATP chitosan 5kDa. Điều này thể hiện cơ chế kháng khuẩn khác
nhau ở chitosan khối lượng phân tử thấp và cao. Hoạt động kháng khuẩn của
chitosan phân tử lượng khác nhau đã được nghiên cứu trên 6 loài vi khuẩn. Và cơ
chế kháng khuẩn này đã được chứng minh đựa trên việc đo tính thấm của màng tế
bào vi khuẩn và quan sát sự nguyên vẹn của tế bào. Kết quả chỉ ra rằng khả năng
này giảm khi khối lượng nguyên tử tăng. Và nó tăng cao ở nồng độ pH thấp, giảm
rõ rệt khi có mặt ion Ca
2+
, Mg
2+
. Nồng độ ức chế thấp nhất khoảng 0,03 – 0,25%,
thay đổi tùy từng loài vi khuẩn và khối kượng phân tử của chitosan. Chitosan cũng
là nguyên nhân làm thoát các chất trong tế bào và phá hủy thành tế bào.
Tính kháng khuẩn này phụ thuộc vào khối lượng phân tử và loại vi khuẩn. Đối
với vi khuẩn gram dương, chitosan 470 Kdalton có ảnh hưởng đến hầu hết các loài
trừ lactobacillus sp. , trong khi với vi khuẩn gram âm chitosan có khối lượng 1106
Kdalton mới có ảnh hưởng. Nhìn chung, chitosan ở nồng độ 0,1% có ảnh hưởng
mạnh hơn đến vi khuẩn gram dương như Listeria monocytogenes, Bacillus
megaterium, B.cereus, Staphylococcus aureus, lactobacillus plantarum, L. brevis và
L. bulgaris hơn là vi khuẩn gram âm như E. coli, Psedomonas fluorescens,
Salmonella typmurium và Vibrio parahaemolyticus.
14
Nghiên cứu trên vật thí nghiệm cho thấy chitin và chitosan có hoạt động ức chế
vi khuẩn và nấm. Một trong các đồng phân của chitosan là N- carboxybutyl
chitosan có tácdụng kìm hãm và tiêu diệt 298 loài vi sinh vật gây bệnh. Khi có
chitosan và chitin trên bề mặt các tác nhân gây bệnh ở thực vật, chúng ức chế sự
phát triển của những loài này. ở nồng độ 0,1% và pH 5,6 chúng kháng các loại nấm:
Fusarium, Alternaria, Rhizopus… Và hoạt động kháng này sẽ giảm ở những vi sinh
vật mà trên thành tế bào có chứa chitin, chitosan hoặc chitin-ß-glucan.
Thí nghiệm kiểm tra khả năng kháng khuẩn của 6 loại chitosan và 6 loại
chitosan oligme với M
w
khác nhau đã được thực hiện trên 4 loại vi khuẩn gram (–)
và 7 loại gram (+) cho thấy chitosan thể hiện đặc tính kháng khuẩn hiệu quả hơn
chitosan oligome (Uchida và Joen). Cho và cộng sự (1998) cho rằng khả năng
kháng khuẩn của chitosan đối với Escherichia coli và Bacillus spp tăng cùng với sự
giảm độ nhớt chitosan từ 1000 đến 10 cp. Một nghiên cứu khác đã kết luận sự phát
triển của Escherichia coli và Bacillus spp bị ức chế hiệu quả bởi chitosan (M
w
746
và 470 kDa) hơn loại chitosan (M
w
1671 hay 1106 kDa). Tuy nhiên sự giảm trọng
lượng hơn nữa lại giảm hoạt tính kháng khuẩn của chitosan đối với 2 loại vi khuẩn
này. Đối với S.typhimurium, Wang (1992) kết luận chitosan với M
w
1106 và 224
kDa thể hiện yếu hoặc không thể hiện tính kháng khuẩn ở nồng độ 0,5%.
Chitosan oligome cũng như chitosan thể hiện khả năng ức chế sự phát triển của
nhiều nấm mốc và vi khuẩn và đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh. Hinaro và Nagao đã
nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ polyme hóa (DP) của chitosan với hiệu quả
kháng khuẩn của chitosan. Nghiên cứu kết luận rằng chitosan oligome (DP 2 - 8),
như chitosan trọng lượng phân tử thấp, thể hiện khả năng ức chế hiệu quả hơn
chitosan phân tử lượng cao đối với hầu hết vi khuẩn gây bệnh như fusarium
oxyporum, Phomopsis fukusi, Alternaria alternata và nhiều chứng khác. Kendra
cũng đã giải thích rằng sự hiện diện của một số chitosan oligome có hoạt tính sinh
học trên đậu Hà Lan đã hạn chế sự phát triển của nấm mốc.
Trong một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản đến độ nhớt và
khả năng kháng khuẩn của chitosan trên một số chủng vi khuẩn, kết quả cho thấy độ
Việc nghiên cứu về dạng tồn tại, cấu trúc, tính chất lý hóa, ứng dụng của
chitosan đã được công bố từ những năm 30 của thế kỷ XX. Những nước đã thành
công trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất chitosan là: Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Ấn
Độ, Pháp. [4]
17
Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới sản xuất 20 tấn/năm (1973), đến
nay là 700 tấn/năm. Mỹ sản xuất trên 300 tấn/năm. Theo Know thì năm 1991 thị
trường có nhiều triển vọng của chitin - chitosan là Nhật Bản, Mỹ, Anh, Đức. Nhật
được coi là nước dẫn đầu về công nghệ sản xuất và buôn bán chitin - chitosan.
Người ta ước tính sản lượng chitosan sẽ đạt tới 118000 tấn/năm; trong đó Nhật, Mỹ
là nước sản xuất chính. [4]
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và sản xuất chitin - chitosan và ứng dụng của
chúng trong sản xuất phục vụ đời sống là tương đối mới mẻ. Vào những năm
1978 - 1980, trường Đại học Thủy Sản Nha Trang đã công bố quy trình sản xuất
chitosan của tác giả Đỗ Minh Phụng đã mở đầu bước ngoặt quan trọng trong việc
nghiên cứu, tuy nhiên chưa có ứng dụng nào trong thực tế sản xuất. [7]
Hiện nay nhiều cơ sở khoa học đang nghiên cứu sản xuất chitosan như:
Trường Đại học Thủy Sản Nha Trang, Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm nghiên cứu polymer- Viện Khoa Học Việt Nam, Viện Hóa thuộc Viện
Khoa Học Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Công nghệ và sinh
học Thủy sản- Viện nghiên cứu môi trường thủy sản 2,…Trong đó, các kết quả
công bố gần đây của các nhà khoa học thuộc trường Đại học Thủy Sản Nha Trang
đã đi sâu nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất ở bước cao hơn theo hướng giảm
thiểu sử dụng hóa chất trong xử lý, ứng dụng công nghệ enzyme.
Đáng kể nhất là các công trình của Trần Thị Luyến và các cộng sự đã sử dụng
enzyme papain, chitinase và vi khuẩn lactic trong công nghệ sản xuất chitosan.
Những kết quả này đã góp phần đáp ứng yêu cầu cấp bách xử lý phế liệu thủy sản,
giảm thiểu nguồn ô nhiễm môi trường ở nước ta và trước những yêu cầu khắt khe
về chất lượng chitin - chitosan trên thị trường hiện nay.