Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ protein, lipid, vitamin E, vitamin C trong thức ăn lên tốc độ tăng trưởng và thành phần sinh hóa của cá giò (Rachycentron canadum, Linnaeus 1766) giai đoạn giống - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM THỊ ANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PROTEIN/LIPID,
VITAMIN E/VITAMIN C TRONG THỨC ĂN LÊN TỐC ĐỘ
TĂNG TRƯỞNG VÀ THÀNH PHẦN SINH HÓA CỦA CÁ GIÒ
(Rachycentron canadum, Linnaeus 1766) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản.
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lại Văn Hùng.


C : Vitamin C
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá giò 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 3
1.1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng. 5
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 6
1. 2 Vai trò của cá Giò đối với con người 7
1. 3. Tình hình sản xuất và nuôi thương phẩm cá giò trên thế giới và Việt Nam 8
1.3.1 Tình hình sản xuất và nuôi thương phẩm cá giò trên thế giới. 8
1.3.2 Tình hình sản xuất và nuôi thương phẩm cá giò tại Việt Nam 9
1.4 Những nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho cá giò 11
1.4.1 Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng 11
1.4.1.1 Nhu cầu protein và các acid amin 11
1.4.1.2 Nhu cầu lipid và các acid béo không no 13
1.4.1.3Nhu cầu về tỷ lệ protein/lipid của cá 16
1.4.1.4 Nhu cầu vitamin cho cá 16
1.4.1.4.1 Vitamin C và nhu cầu vitamin C của cá 16
1.4.1.4.2. Vitamin E và nhu cầu vitamin E của cá 19
1.4.1.4.3 Nhu cầu Vitamin E/ vitamin C của cá 20
1.4.2 Những nghiên cứu về thức ăn cho cá giò 21
1.4.2.1 Thức ăn tươi 21
1.4.2.2 Những nghiên cứu về thức ăn công nghiệp 22
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2. 1. Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 24

(WG, SGR), tỷ lệ sống (S %), hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và lượng thức
ăn tiêu thụ (FI) 41
3.2.3 Ảnh hưởng của các tỷ lệ vitamin E/vitamin C trong thức ăn đến thành
phần sinh hóa của cá giò giai đoạn giống 50
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 54
4.1. Kết luận 54
4.2. Đề xuất ý kiến 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại thực phẩm 7
Bảng 2.1: Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 1 26
Bảng 2.2: Thức ăn và thành phần sinh hóa của thức ăn TN1 (g/100g thức ăn khô) 27
Bảng 2.3: Các nghiệm thức thức ăn thí nghiệm 2 27
Bảng 3.1: Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 30
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng tương đối (WG %) và tốc độ tăng trưởng đặc trưng 30
Bảng 3.3: Tỷ lệ sống (S%), hệ số chuyển đổi thức ăn FCR, lượng thức ăn tiêu
thụ (FI) và hiệu quả sử dụng protein (FER) của cá giò khi cho ăn các tổ hợp thức
ăn có tỷ lệ protein/lipid khác nhau. 35
Bảng 3.4: Thành phần sinh hóa của cơ cá khi kết thúc thí nghiệm sử dụng thức
ăn có tỷ lệ protein/ lipid khác nhau (tính theo khối lượng tươi) 38
Bảng 3.5 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 41
Bảng 3.6: Các thông số tăng trưởng (SGR, WG) của cá giò khi cho ăn các tổ hợp
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 42
Bảng 3.7 Tỷ lệ sống (S%), hệ số chuyển đổi thức ăn FCR, lượng thức ăn tiêu thụ
(FI) và hiệu quả sử dụng protein (FER) của cá giò khi cho ăn các tổ hợp thức ăn
có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau. 45

tổ hợp thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 44
Hình 3.12: Tốc độ tăng trưởng tương đối (WG) của cá khi cho ăn tổ hợp 44
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 44
Hình 3.13: Tỷ lệ sống của cá khi cho ăn tổ hợp thức ăn có tỷ lệ 46
vitamin E/vitamin C khác nhau 46
Hình 3.14: Lượng thức ăn tiêu thụ của cá khi cho ăn các loại tổ hợp thức ăn 46
có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau. 46
Hình 3.15: Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá khi cho ăn các tổ hợp 47
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 47
Hình 3.16: Hiệu quả sử dụng protein của cá khi cho ăn các tổ hợp 48
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 48
Hình 3.17: Hàm lượng protein trong cơ thịt cá khi cho ăn tổ hợp 51
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 51
Hình 3.18: Hàm lượng lipid trong cơ thịt cá khi cho ăn tổ hợp 52
thức ăn có tỷ lệ vitamin E/vitamin C khác nhau 52
1
MỞ ĐẦU
Cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus,1766) là loài cá nổi có tập tính
di cư, cá phân bố rộng từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến các vùng nước ấm của
biển ôn đới. Vùng sinh thái sống của cá tương đối đa dạng: ở ven biển, các rạn
san hô đến vùng biển khơi (Shaffer và ctv, 1989). Đây là loài cá biển nhiệt đới có
giá trị kinh tế cao với kích thước lớn, thịt cá trắng, chất lượng thịt thơm ngon và
bổ dưỡng, hàm lượng acid béo không no EPA và DHA cao hơn so với nhiều đối
tượng nuôi khác (Shiau, 1990; Su và ctv, 2000), tốc độ sinh trưởng nhanh và có
thể đạt 6-8kg sau 1 năm nuôi (Su và ctv, 2000).
Với những đặc tính như trên thì hiện nay cá giò được nuôi rất phổ ở nhiều
nước trên thế giới như các nước Châu Mỹ la tinh, Châu Á như Đài Loan, Trung
Quốc, Phillipin, Việt Nam (Kaiser & Holt, 2004). Tại Việt Nam cá giò được nuôi
rất phổ biến ở các tỉnh ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Phú Yên,
Khánh Hòa, Vũng Tàu, Nghệ An, Vũng Tàu, Kiên Giang với số lượng lồng

Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin mới cho những nghiên
cứu về dinh dưỡng giai đoạn giống cho cá biển nói chung và cá giò nói riêng, từ
đó làm cơ sở khoa học để sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ cho nuôi cá giò
giống, góp phần nâng cao năng suất, tỷ lệ sống cũng như chất lượng thịt của đối
tượng nuôi này.
Mục đích của đề tài: Xác định tỷ lệ protein/lipid, vitamin E/vitamin C tối ưu
trong thức ăn lện sinh trưởng và thành phần sinh hóa của cá giò giống. Từ đó đề
xuất tỷ lệ protein/lipid, vitamin E/vitamin hợp lý trong thức ăn nhằm nâng cao
năng suất, tỷ lệ sống cũng như chất lượng thịt của cá giò.
Nội dung nghiên cứu:
1. Ảnh hưởng của tỷ lệ protein/lipid đến tốc độ tăng trưởng và thành phần
sinh hóa của cá giò giống
2. Ảnh hưởng của tỷ lệ vitamin C/vitamin E đến tốc độ tăng trưởng và thành
phần sinh hóa của cá giò. 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của cá giò
Cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) hay còn gọi là cá bớp
(tên tiếng Anh là Cobia hay Black Kingfish) thuộc họ Rachycentridae, bộ
Perciformes. Đây là đối tượng nuôi có kích thước lớn, giá trị kinh tế cao và phân
bố rộng rãi ở khu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới và các vùng nước ấm của vùng ôn
đới, do đó được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu trên nhiều lĩnh
vực khác nhau.


xuân chúng di cư về phía bắc, dọc vùng biển Ấn Độ Dương. Phía bắc Đại Tây
Dương, chúng xuất hiện ở thềm lục địa Scottian-Canada. Bờ đông Đại Tây
Dương cá giò phân bố từ Moroco tới Nam Phi. Ở khu vực Ấn Độ Dương và bờ
tây của Thái Bình Dương là nơi cá giò tập trung phổ biến nhất. Chúng xuất hiện
từ Hokaido Nhật Bản tới Australia và từ đông Ấn Độ tới Nam Phi. Ở Việt Nam
chúng phân bố từ bắc vào nam ở cả vùng biển ven bờ và xa bờ.

Hình 1.2: Bản đồ phân bố của cá giò trên thế giới
(Nguồn:
Cá giò là loại cá biển nổi, giai đoạn trứng và ấu trùng sống ngoài biển
khơi, khi trưởng thành chúng sống gần bờ, thềm lục địa cũng như các rạn đá
ngoài khơi, các rạn san hô, vịnh nông hoặc những nơi có độ mặn thích hợp. Cá
giò sống ở độ sâu 50-120m (Đỗ Văn Minh, 2003). Đây là loài có khả năng thích
ứng rộng với sự thay đổi của độ mặn nên rất thích hợp cho sự phát triển nuôi
trong các điều kiện khác nhau (Matthew và ctv, 2006).
1.1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái.
Nhiệt độ: Cá Giò là loài bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ, đây là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng lên sinh trưởng của cá. Tùy theo giai đoạn phát triển mà
5
khoảng nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và phát triển cũng khác nhau. Cá giò có
thể thích ứng với nhiệt độ từ 16,8
o
C -32
o
C (Dawson 1971, Milstein và Thomas
1976), nhưng nhiệt độ thích hợp cho trứng cá phát triển và nở là 26,5
0
C (Hassler
and Rainville, 1975). Cá giống có thể bị chết ở nhiệt độ nước 17,7
0

một trong những vấn đề nghiêm trọng làm giảm tỷ lệ sống trong giai đoạn đầu
của quá trình nuôi và nó liên quan đến mức độ đồng đều của con giống, mật độ
thả, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc. Cá giò bắt mồi chủ động và có thể ăn nhiều
lần trong ngày, tốc độ tiêu hóa và sử dụng thức ăn tương đối nhanh (Trích
Nguyễn Quang Huy, 2002). Ấu trùng cá giò rất thích ăn các loại động vật nổi,
đặc biệt là copepoda, phổ thức ăn của cá giò giống và cá trưởng thành rất rộng,
thức ăn của chúng là các loại cá nhỏ, giáp xác và các loại động vật không xương
sống phân bố ở tầng đáy, thức ăn ưa thích nhất của chúng là cua nên chúng còn
có tên gọi khác là ‘Crabeater’ (Randall, 1983).
6
Meyer và Franks (1996) khi phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày của
cá giò cho thấy giáp xác chiếm tới 77,6%-84% (đối với cỡ cá từ 3,73cm đến
15,3cm). Knapp (1951) đã chỉ ra rằng có tới 40% thức ăn của cá là cua lột, 46%
là các loại tôm khác nhau và 100% cá giò được kiểm tra đều có sự xuất hiện của
các loài giáp xác. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Shaffer (1989), Miles (1949).

Hình 1.3: Cá giò giống ăn thịt lẫn nhau
b. Sinh trưởng
Cá giò là loài cá có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, chúng có thể tăng tới 6-
8kg (Su và ctv, 2000) trong năm đầu tiên, năm thứ 2 có thể đạt 15kg, sau năm thứ
hai trở đi tốc độ tăng trưởng của chúng chậm lại (Frank et al, 1999). Trong điều
kiện tự nhiên khi đánh bắt, cá thường có kích cỡ trung bình của cá là 23kg, chiều
dài từ 50-120cm, có con đạt 2m, trọng lượng đạt 68kg (Shaffer và ctv, 1989).

tinh, ấu trùng mới nở dài 2,3-3mm và chưa có sắc tố (Liao và ctv, 2003; Kaiser &
Holt, 2005). Ấu trùng tăng trưởng nhanh và có khả năng chịu đựng môi trường khắc
nghiệt cao hơn so với ấu trùng của một số loài cá biển khác (Liao và ctv, 2004).
Sức sinh sản của cá giò khá lớn từ 1,9-5,4 triệu trứng/kg cá cái, tùy thuộc vào
kích thước và tuổi cá. Cá càng lớn thì sức sinh sản càng cao, trứng cá giò là trứng
nổi có trọng lượng 2300-3800 trứng/g (Liao và ctv, 2003; Kaiser & Holt, 2005).
1. 2 Vai trò của cá Giò đối với con người
Cá giò có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, đặc biệt là hàm lượng DHA và
EPA trong thành phần thịt cá. So với các loại thực phẩm có giá trị khác như thịt
cá thu, cá ngừ hay thịt bò thì cá giò có hàm lượng DHA, EPA cao nhất cho nên
sản phẩm này rất được ưa chuộng trên thế giới.
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại thực phẩm
(Nguồn: www.seafdec.org)
Loài
Yếu tố
Cá giò Cá ngừ Cá thu Thịt bò Thịt gà Thịt lợn

Độ ẩm(%) 53-70 50-55 62 57 68 66
Chất béo(%) 10-30 2-4 16 18 10 16
Protein(%) 17-19 24 20 23 21 17
Tro(%) 1,1-1,4 1,4 1,3 0,9 1 1
DHA(mg/100g)

328-507
159 350 0 0 0
EPA(mg/100g)
280-485
640 410 0 0 0

Cá giò chứa hàm lượng chất béo và protein rất cao, giàu các loại protein

loài cá biển được nuôi ở Đài Loan, trong đó 90% số loài đã được sản xuất giống
nhân tạo thành công với số lượng 642,558,000 con giống trên tổng số 604 trại sản
xuất. Để hạn chế những tác động bất lợi lên môi trường từ việc mở rộng diện tích
và các hình thức nuôi trong ao, Đài Loan đã tập trung phát triển nghề nuôi cá lồng
trên biển. Năm 2000 có khoảng 1,500 lồng nuôi với kích cỡ khác nhau được đặt
nuôi ở ven biển và ngoài khơi, trong đó trên 80% số lồng được sử dụng để nuôi cá
9
giò. Sản lượng cá biển năm 1990 chỉ đạt 103 tấn và đến năm 1998 tăng gấp 26 lần
đạt 2,673 tấn, trong đó cá giò chiếm 1/2 sản lượng với 1,500 tấn (Su và ctv, 2000).
Với tốc độ phát triển như vậy, nghề nuôi cá biển ở Đài Loan đang có trển vọng trở
thành nguồn thu ngoại tệ chính của nghề nuôi thuỷ sản nước này. Ngoài Đài Loan,
một số nước như Australia, Mỹ cũng có chương trình nghiên cứu sản xuất giống
và nuôi đối tượng này (Svennevig, 2001).
Trong giai đoạn 2004-2005, sản lượng nuôi cá bớp tăng từ 20,461 tấn lên
22,745. Ngoài khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (chủ yếu là Trung Quốc và Đài
Loan) chỉ có hai nước Mayotte và Reunion đóng góp thêm một phần nhỏ (ước
tính khoảng 7 tấn) vào tổng sản lượng nuôi cá bớp toàn cầu. Giá trị sản lượng
tương ứng tăng từ 36,2 triệu USD lên 41,2 triệu USD với giá cả thị trường ổn
định khoảng 1,80 USD/kg cá thương phẩm (Aquaculture Asian, 2008).
1.3.2 Tình hình sản xuất và nuôi thương phẩm cá giò tại Việt Nam.
Nghề nuôi cá biển tại Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu vào những năm 1990
khi những nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài thành
công, so với các nước trong khu vực thì nghề nuôi cá biển ở nước ta phát triển
tương đối muộn.
Việt Nam được coi là nước đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất giống và
nuôi thương phẩm cá Giò (Svennevig, 2001). Hiện nay bên cạnh các loài hải sản
có giá trị kinh tế như cá mú (Epinephelus spp), cá chẽm (Lates calcarifer), cá
hồng (Lutjanus spp), cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus), tôm hùm bông
(Panulirus ornatus)…thì cá giò cũng là một trong những đối tượng nuôi biển rất
hấp dẫn. Hiện nay cá giò được nuôi khá phổ biến tại Việt Nam ở hầu hết các tỉnh

cho ăn cá tạp (hệ số thức ăn là 6:1) và năm 2001 công ty đã sản xuất được 400
tấn cá thịt cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa và xuất khẩu (Nguyễn Đình
Mão và Lê Anh Tuấn, 2007). Hình 1.4: Lồng nuôi cá giò thương phẩm của công ty Marine Farm 11
Trong những năm gần đây, nghề cá biển Việt Nam phát triển nhanh chóng
và ngày càng được mở rộng trên quy mô công nghiệp, đạt được nhiều kết quả
đáng khích lệ với nhiều đối tượng nuôi đa dạng hơn, phong phú hơn, có giá trị
kinh tế cao và chất lượng thịt thơm ngon, bổ dưỡng. Tuy nhiên hiện nay nguồn
thức ăn chính cho nuôi cá lồng chủ yếu vẫn sử dụng cá tạp, đây là một trong
những nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường nước, khả năng gây bệnh cao,
nguồn cung cấp cá tạp trở lên đắt đỏ vào những ngày sóng gió, không ổn định
cho nên sản phẩm nuôi còn rất hạn chế. Do vậy để nghề nuôi cá biển phát triển
bền vững và đạt được các chỉ tiêu đề ra thì bên cạnh việc nâng cao chất lượng kĩ
thuật nuôi, con giống, công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ, chúng ta còn phải
tập trung nghiên cứu phát triển sản xuất thức ăn công nghiệp với nhu cầu dinh
dưỡng phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá, thay thế cho việc sử dụng cá
tạp đồng thời đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ.
1.4 Những nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho cá giò
1.4.1 Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng

khác nhau: Cá nheo Iactalurus punctatus (32-36%), Cá mú sông Epinephelus
punctatus (40-45%), cá hanh vàng Sparus aurata, cá vược mõm rộng Micropterus
salmoides, cá măng biển Chanos chanos, cá hồi bạc Oncorhynchus kisutch (40%),
cá hanh đỏ Chrysophrys major (55%), cá bơn sao Pleuronectes platessa (50%), cá
mú chuột Cromileptes altivelis (>44%)(Wilson, 1989).
Theo nghiên cứu của Chou và ctv (2001), khi nghiên cứu về nhu cầu
protein trên cá giò giống ở Đài Loan, với các mức protein dao động từ 36-60%,
kết quả sau 8 tuần thí nghiệm, mức protein tối ưu cho cá giò đạt tốc độ tăng
trưởng cao nhất là 44,5%, tác giả cũng cho rằng cá thương phẩm có nhu cầu
protein từ 40-45%, khẩu phần thức ăn chủ yếu sử dụng Casein làm nguyên liệu
chính. Ở Đài Loan người ta thường sử dụng thức ăn có 48% protein cho nuôi
thương phẩm cá giò. Tuy nhiên nhu cầu về hàm lượng protein trong thức ăn của
cá giò vẫn thấp hơn so với một số loài cá biển khác như nhu cầu protein của cá
mú (Epinephelus malabaricus) là 50%, cá mú hoa nâu (Epinephelus
fuscoguttatus) 55% (Lê Anh Tuấn, 2005c, 2005d).
Nhu cầu về các acid amin không thay thế không có sự khác biệt đáng kể giữa
các loài cá biển với nhau, mặc dù vậy những nghiên cứu về các nhu cầu acid amin
cho ấu trùng cá biển không nhiều (Bengston, 1993). Dựa trên những nghiên cứu về
13
nhu cầu các acid amin được xác định, người ta thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa
nhu cầu amino acid với mức các amino acid trong toàn bộ cơ thể, do đó có thể sử
dụng các EAA trong cơ thể để làm chỉ tiêu trong sản xuất thức ăn cho những đối
tượng mà nhu cầu về các amino acid chưa được nghiên cứu (Wilson, 2002).
Cá giò cũng như các loài cá biển khác, chúng cũng có nhu cầu đối với 10
loại acid amin thiết yếu, tuy nhiên đối với các loại acid amin khác nhau thì nhu
cầu của cá cũng khác nhau. Zhou và ctv (2006, 2007) đã chỉ ra rằng nhu cầu
methionin và lysin cho sinh trưởng và mức độ sử dụng thức ăn tối đa ở cá giò
giống là 1,19% và 2,38%. Khi bổ sung taurine với mức 0,5g/100g thức ăn khô
vào khẩu phần cho thức ăn cho cá giò, kết quả cho thấy cá tăng trưởng nhanh hơn
và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn đối với các nghiệm thức thức ăn có bổ sung

thức ăn và hiệu quả sử dụng protein tốt hơn so với ăn thức ăn có bổ sung dầu
colza. Hàm lượng lipid trong gan cá cao hơn khi cho ăn thức ăn có mỡ heo so với
các loại dầu khác.
Craig (2005) khi nghiên cứu trên cá Giò tiến hành bổ sung lipid và
cacbonhydrat vào khẩu phần ăn, kết quả 3% lipid/ 36% cacbonhydrat cá cho tốc
độ tăng trưởng cao nhất (WG = 554%), và với mức 18%lipid /0%cacbonhydrat
sẽ làm giảm tăng trưởng cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn của cá giống. Mặc
dù vậy nhu cầu của thị trường cá giò là phục vụ cho sashimi vốn đòi hòi hàm
lượng lipid cao trong thịt cá, điều này có thể đạt được qua việc cho cá ăn thức ăn
có hàm lượng lipid cao (Wang, 2005).
Wang và ctv (2005) cũng cho rằng với mức lipid 5% và 15% lipid, cá
giò có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mức lipid 25%. Ducan và ctv (2007) khi
nghiên cứu trên cá giò, cho ăn 2 loại thức ăn có 47% protein/8% lipid và 47%
protein/20%lipid. Kết quả thử nghiệm sau 6 tuần cho thấy, cá cho ăn thức ăn có
hàm lượng lipid cao thì sinh trưởng về khối lượng cao hơn so với cá cho ăn thức
ăn có hàm lượng lipid thấp (P<0,05).
Tại Việt Nam, thức ăn công nghiệp EWOS cho loài cá này có hàm lương lipid
từ 18-24% tùy theo giai đoạn phát triển (Nguồn công ty Marine Farm Việt Nam).
Với vai trò quan trọng như vậy nên lipid hiện nay là một vấn đề đang
được quan tâm nghiên cứu để nâng cao chất lượng thức ăn cho cá, đặc biệt là
thức ăn cho cá giai đoạn giống, nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu lipid của cá
đã được công bố và ứng dụng vào thực tế sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.
15
Đối với cá biển, nhu cầu các acid béo không no (HUFA) rất cao để đạt
được tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng tối đa (Tocher và ctv, 2003; Xu và ctv,
2006), HUFA đóng vai trò duy trì cấu trúc và chức năng của màng tế bào, tăng
khả năng chịu các stress, giúp phát triển tốt thần kinh thị giác (Kanazawa, 1997).
Cá biển không có khả năng chuyển đổi các acid béo mạch ngắn như:
linolenic acid (18:2n-6) thành các acid béo không no mạch dài (HUFA) do thiếu
một số loại enzyme cần thiết vì thế việc bổ sung các acid béo này vào trong thức

Craig và ctv (2006) khi thí nghiệm các tổ hợp thức ăn (2 x 3) với 2 mức
protein (40% và 50%) và 3 mức lipid (6, 12 và 18%lipid) (trọng lượng ban đầu
của cá là 49,3g/cá) trong khẩu phần thức ăn cho cá giò, kết quả cho thấy tốc độ
tăng trưởng tương đối của cá không bị tác động bởi các mức protein: WG là
333%(50%CP) và 335%(40%CP)(P>0,05), tuy nhiên chúng lại chịu sự tác động
của lipid (P<0,05), với mức lipid 18%, cá có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp
nhất (293%). FCR không chịu sự tác động của các mức protein và lipid, dao
động trong khoảng 0,46 đến 0,51.
Tuy nhiên cũng tác giả này khi nghiên cứu với nhóm cá nhỏ hơn (7,4g)
với 2 mức protein và 3 mức lipid tương tự như trên cho thấy: tốc độ tăng trưởng
của cá không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thức ăn
(P<0,05). Lipid trong cơ và gan đều chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng lipid trong
thức ăn, hàm lượng protein trong cơ thịt cá bị tác động bởi hàm lượng protein
trong thức ăn trong khi hàm lượng protein trong gan chịu sự tác động của cả
protein và lipid trong thức ăn. Hàm lượng lipid và protein trong thức ăn không
ảnh hưởng đến hàm lượng tro của cá.
1.4.1.4 Nhu cầu vitamin cho cá
1.4.1.4.1 Vitamin C và nhu cầu vitamin C của cá
Vitamin C thuộc nhóm vitamin tan trong nước, không bền với nhiệt trong
khi thức ăn chế biến cho thủy sản thường phải thông qua quá trình gia nhiệt và
cho ăn trong môi trường nước, chức năng chính của nhóm này là coenzime trong
quá trình trao đổi chất của tế bào. Trong những nghiên cứu về thức ăn cho nuôi
trồng thủy sản, vitamin C được nghiên cứu và xác định là thành phần rất quan
trọng cho động vật thủy sinh (Merchie, 1997) bởi vì trong khi các động vật khác
có khả năng tổng hợp vitamin C từ glucuronic acid thì cá và giáp xác lại thiếu
enzim gulonolactone oxidase cần thiết cho bước cuối cùng của quá trình tổng
17
hợp (Dabrowki, 2001), chính vì thế mà vitamin C của động vật thủy sinh được
hấp thụ chủ yếu từ thức ăn. Theo Viện nghiên cứu Thủy sản quốc gia Mỹ (1993)
hàm lượng vitamin C cần thiết cho cá giống dao động trong khoảng từ 25-

catalized hydroxilations của proline và lysine trong tổng hợp collagen. Vì thế khi
thiếu vitamin C, collagen mới được hình thành không được hydroxyl hóa, không
18
tạo được xoắn 3, độ bền kém do đó dễ bị thương tổn, thành mạch cương dễ vỡ
gây xuất huyết ở cá.
Thức ăn có chứa hàm lượng vitamin C cao được đề xuất là có lợi ích cho
việc giảm sốc cho cá (Hardie và ctv, 1991), mức độ vitamin C bổ sung vào thức ăn
cho cá thì tùy vào loại vitamin C, loài cá, giai đoạn phát triển, kích cỡ và tuổi của
chúng. Nhu cầu tối đa của vitamin C tốt cho sự tăng trưởng và phát triển của đại đa
số các loài cá dao động trong khoảng 10-122mg/kg. Phần lớn là trong phạm vi từ
10-50mg/kg thức ăn là mức thích hợp cho sự tăng trường và phát triển bình thường
của xương, nhưng mức 400mg/kg cũng được xem là nhu cầu tối đa giúp lành vết
thương của cá hồi Oncorhunchus kitsch (Halver J.E., Ashley L.M và Smith
R.R,1969). Bên cạnh đó Lim và Lovell (1978) khi nghiên cứu nhu cầu của cá
Nheo đối với vitamin C đã kết luận rằng: với khẩu phần thức ăn chứa 30mg
vitamin C/kg là hàm lượng đầy đủ và có lợi cho cơ thể và sự tạo xương, với 60mg
vitamin C /kg thức ăn được xem là nhu cầu ngăn ngừa sự thiếu hụt vitamin C và
chữa lành vết thương. Cá Nheo 2-7g, nhu cầu tối đa có lợi cho cơ thể là 50mg
vitamin C /kg thức ăn, trong khi đó đối với cá có khối lượng từ 14 đến 100g, nhu
cầu 25mg vitamin C/kg là đủ (Andrew J.W và Murai T.,1975). Li và Lovell (1985)
cũng chứng minh rằng ở cá Nheo, nhu cầu Vitamin C trong khẩu phần ăn sẽ giảm
khi kích cỡ cá tăng. Nhu cầu của cá có khối lượng 10-150g là 30mg/kg, trong khi
cá 3-19g là 60mg/kg. Đối với cá basa việc bổ sung vitamin C vào thức ăn sẽ nâng
cao sức đề kháng cho cá nuôi, mức sử dụng để bổ sung từ 0,2-0,5%. Thức ăn tự
nhiên như phiêu sinh động vật và thực vật rất giàu vitamin C.
Khi cá nuôi bị thiếu vitamin C thường thể hiện một số dấu hiệu như: các
dạng dị tật xương sống, tật ưỡn lưng và hiện tượng xuất huyết ở gốc vây, ở xung
quang miệng và mắt của cá, màu sắc cơ thể chuyển sang màu đen tối. Cá bị bệnh
cũng giảm sinh trưởng và khả năng chống chịu sốc và sự xâm nhập của tác nhân
gây bệnh. Trên cá nuôi, đã có rất nhiều các thông báo khác nhau về bệnh thiếu

Hàm lượng vitamin E 30mg/kg trong khẩu phần thức ăn được cho là cần
thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển, đồng thời ngăn chặn được sự thiếu
hụt dinh dưỡng cho cá hồi Bắc Mỹ, cá basa và cá hồi đốm đen (Cowey và ctv,
1981; Hung và ctv 1981; Moccia và ctv, 1984); đối với cá chép nhu cầu này là
100mg/kg (Watanabe, 1970).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status