ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
***
NGUYỄN QUANG HẢI
Sö dông c«ng cô tµi chÝnh khuyÕn khÝch
DOANH NGHIÖP nhá vµ võa ®æi míi c«ng nghÖ
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.72
Khóa 2005 – 2008
Hà Nội, 2008 3
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3. Mục tiêu nghiên cứu 10
4. Phạm vi nghiên cứu 10
5. Mẫu khảo sát 11
6. Câu hỏi nghiên cứu 11
7. Giả thuyết nghiên cứu 11
8. Phƣơng pháp chứng minh giả thuyết 11
9. Kết cấu của Luận văn 11
CHƢƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 13
1.1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp 13
1.1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 15
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2. Công nghệ và đổi mới công nghệ 17
1.2.1. Công nghệ 17
1.2.2. Đổi mới công nghệ 18
3.1. Định hƣớng sử dụng công cụ tài chính khuyến khích doanh nghiệp nhỏ
và vừa đổi mới công nghệ. 78
3.2. Một số giải pháp sử dụng công cụ tài chính khuyến khích doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở Hải Dƣơng đổi mới công nghệ. 80
3.3. Các giải pháp hỗ trợ bổ sung 89
KHUYẾN NGHỊ 95
1. Đối với nhà nƣớc: 95
2. Đối với tỉnh Hải Dƣơng 95
3. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hải Dƣơng 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
5
LỜI CÁM ƠN Trong quá trình học tập Chƣơng trình cao học chuyên ngàmh Quản lý
Khoa học và Công nghệ tại trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -
Đại học Quốc gia Hà nội, Tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các
Thầy, Cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, các Thầy, Cô giáo trong trƣờng
và Ban lãnh đạo nhà trƣờng. Với sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Phạm Ngọc
CGCN Chuyển giao công nghệ
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
ĐMCN Đổi mới công nghệ
TMTC Thuê mua tài chính
TTCK Thị trƣờng chứng khoán
KH&CN Khoa học và công nghệ
KHCN Khoa học công nghệ
NHTM Ngân hàng thƣơng mại
viên thứ 150 của Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, các DNNVV Việt Nam
đứng trƣớc nhiều cơ hội và thách thức rất lớn, khi nƣớc ta thực hiện các hiệp
định thƣơng mại với các nƣớc trên thế giới, hàng rào thuế quan - sự bảo hộ
truyền thống của Nhà nƣớc đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh sẽ bị xóa
bỏ. Khi đó hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nƣớc phải đối mặt với sức cạnh
tranh của hàng hóa, và dịch vụ đến từ các nƣớc có công nghệ sản xuất tiên
tiến và hiện đại. Vai trò của công nghệ sẽ đƣợc thể hiện nhƣ là vũ khí cạnh
tranh của các nền kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa.
8
Nhà nƣớc với vai trò là ngƣời “điều chỉnh những khiếm khuyết của thị
trường” có “trách nhiệm” giúp đỡ các doanh nghiệp đầu tƣ cho hoạt động đổi
mới công nghệ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và của doanh
nghiệp, nền tảng của cạnh tranh quốc gia.
Để hỗ trợ các doanh nghiệp tiến hành hoạt động đổi mới công nghệ,
nhà nƣớc có thể sử dụng nhiều công cụ, trong đó công cụ tài chính nhằm hỗ
trợ doanh nghiệp đầu tƣ vào hoạt động KH&CN đƣợc biết đến là công cụ hữu
hiệu thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Bởi vậy,
việc Nhà nƣớc sử dụng công cụ tài chính khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và
vừa đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam là hết sức cần thiết.
Trong những năm vừa qua, cùng với sự ra đời và lớn mạnh không
ngừng của hệ thống doanh nghiệp toàn quốc, cùng với các chính sách thu hút
đầu tƣ, chính sách rải thảm đỏ của tỉnh Hải Dƣơng, mỗi năm trên địa bàn tỉnh
có hàng ngàn doanh nghiệp ra đời và đầu tƣ trên các lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, đóng góp cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng, góp phần hết sức to lớn
trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Qua
nghiên cứu các tài liệu khảo sát về tình hình các doanh nghiệp địa phƣơng,
nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ thực tế hoạt động quản lý tại địa
chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu
triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam, tháng 6-2000.
- Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam -
thực trạng, vấn đề và giải pháp. Nguyễn Danh Sơn, tạp chí Nghiên cứu kinh tế
số 264, tháng 5/2000.
- Nâng cao hiệu quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích
các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Viện nghiên cứu chiến lƣợc và chính
sách KH&CN, tháng 3 năm 2001.
- Đề án: Cơ chế chính sách và giải pháp đồng bộ thúc đẩy đổi mới công
nghệ và ứng dụng công nghệ cao, Bộ KHĐT, tháng 8/2003
Tại Hải Dƣơng, trong 2 năm 2004 và 2005, Viện Nghiên cứu chiến
lƣợc và chính sách KHCN đã phối hợp với sở KHCN và một số sở, ngành tiến
10
hành nghiên cứu đánh giá trình độ và năng lực công nghệ của các doanh
nghiệp lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
Các công trình đó đã giải quyết nhiều vấn đề phức tạp của huy động
vốn cho đầu tƣ phát triển kinh tế nói chung, phát triển doanh nghiệp nói riêng.
Tuy nhiên, vấn đề nhà nƣớc sử dụng công cụ tài chính nhƣ thế nào để khuyến
khích DNNVV đầu tƣ đổi mới công nghệ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội của một địa phƣơng lại chƣa đƣợc nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và
chƣa phù hợp để vận dụng trong điều kiện của tỉnh Hải Dƣơng hiện nay. Luận
văn kế thừa có chọn lọc những tƣ tƣởng, quan điểm và kết quả nghiên cứu đã
đƣợc công bố, từ đó vận dụng phân tích thực trạng, đề xuất những giải pháp
cụ thể, điển hình nhằm tạo môi trƣờng và điều kiện để sử dụng tối ƣu công cụ
tài chính khuyến khích DNNVV đổi mới công nghệ, phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra khảo sát đánh giá hiện trạng công nghệ và tình hình đổi mới
công nghệ của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. Xác định rõ nội
7. Giả thuyết nghiên cứu
Trong quá trình phát triển và đổi mới công nghệ các DNNVV ở Hải
Dƣơng chƣa sử dụng tốt các công cụ tài chính do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Tỉnh Hải Dƣơng cần sử dụng linh hoạt và đồng bộ các công cụ tài
chính: vốn ngân sách, vốn tín dụng, thị trƣờng chứng khoán, thuê mua tài
chính và chính sách thuế để khuyến khích các DNNVV ở Hải Dƣơng đổi mới
công nghệ.
8. Phƣơng pháp chứng minh giả thuyết
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
- Phƣơng pháp điều tra
- Phƣơng pháp phỏng vấn
- Phƣơng pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục và các biểu số liệu, nội dung của Luận văn gồm có 3 chƣơng:
12
Chƣơng 1
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2. Công nghệ và đổi mới công nghệ
1.3. Công cụ tài chính và sử dụng công cụ tài chính
Chƣơng 2
Thực trạng sử dụng công cụ tài chính để đổi mới công nghệ trong các
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hải Dƣơng
2.1. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dƣơng.
2.2. Hiện trạng công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng
2.3. Sử dụng công cụ tài chính trong quá trình đổi mới công nghệ ở các doanh
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. (Điều 4).
2. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. (Điều 4).
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các
ngành nghề mà pháp luật không cấm. Trên thực tế khái niệm doanh nghiệp
đƣợc hiểu nôm na, dùng chung đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc
mọi thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức, các ngành nghề khác nhau, có
tƣ cách pháp nhân.
3. Doanh nghiệp nhà nƣớc là doanh nghiệp trong đó nhà nƣớc sở hữu
trên 50% vốn điều lệ. Hiện tại ở Việt Nam có loại hình doanh nghiệp 100%
vốn nhà nƣớc, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nƣớc và công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên 100% vốn nhà nƣớc.
4. Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành
viên có thể là tổ chức, cá nhân. Số lƣợng thành viên không vƣợt quá 50.
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Phần vốn
góp của thành viên chỉ đƣợc chuyển nhƣợng theo quy định của Luật doanh
nghiệp.
14
5. Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc
một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của
công ty.
Công ty TNHH không đƣợc quyền phát hành cổ phiếu.
6. Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia
thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá
nhân có cổ phần. Số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng
tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
kinh doanh quy mô gia đình, có dƣới 10 lao động thƣờng xuyên (theo Nghị
định 109 - CP ngày 02/4/2004 về Đăng ký kinh doanh).
Trong khuôn khổ luận văn này, nghiên cứu tập trung vào loại hình
doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm số lƣợng rất lớn và đóng góp ngày càng
nhiều cho xã hội, lại dễ bị tổn thƣơng nhất trong quá trình hội nhập. Doanh
nghiệp nhỏ và vừa với tiêu chí đƣợc xác định ở phần sau đây.
1.1.2. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Điều 03 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm
2001 của Chính phủ định nghĩa về DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện
hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng
năm không quá 300 người.
Trong thực tế hiện nay, một số cơ quan Nhà nƣớc, một số tổ chức chính
trị - xã hội để hỗ trợ doanh nghiệp đã chủ động đƣa ra các tiêu chí quy định
doanh nghiệp nhỏ và vừa để phục vụ cho công tác của mình nhƣ:
- Ngân hàng công thƣơng Việt Nam quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa
là: doanh nghiệp có dƣới 500 lao động, vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn
lƣu động dƣới 08 tỷ VNĐ, doanh thu tháng không quá 20 tỷ đồng VNĐ.
- Liên Bộ Lao động Thƣơng binh & xã hội và Tài chính quy định
doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động thƣờng xuyên dƣới 100 ngƣời, doanh
thu một năm nhỏ hơn 10 tỷ VNĐ, vốn pháp định không quá 01 tỷ VNĐ.
- Dự án VIE/US/95/2004 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
lại có quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa là: Lao động dƣới 200 ngƣời, vốn
16
đăng ký 0,4 triệu USD (khoảng 06 tỷ VNĐ).
Vì vậy, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của địa phƣơng,
trong quá trình thực hiện các biện pháp, chƣơng trình trợ giúp cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và
lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
các chƣơng sau.
1.2. Công nghệ và đổi mới công nghệ
1.2.1. Công nghệ
Thuật ngữ công nghệ gần đây đã đƣợc nhiều ngƣời thuộc các lĩnh vực
khác nhau quan tâm, đã có nhiều tổ chức quốc tế về khoa học và công nghệ cố
gắng đƣa ra một định nghĩa công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng
thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia, trong từng
khu vực và phạm vi toàn cầu.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc UNIDO thì: Công
nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết
quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.
Định nghĩa này của UNIDO đứng trên góc độ một tổ chức phát triển
công nghiệp, nhấn mạnh tính khoa học là thuộc tính của công nghệ và khía
cạnh hiệu quả khi xem xét sử dụng công nghệ cho một mục đích nào đó.
Theo tổ chức Uỷ ban kinh tế xã hội Châu Á - Thái Bình Dƣơng ESCAP
thì: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến
vật liệu và thông tin.
Và sau đó ESCAP mở rộng thêm: Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ
năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch
vụ quản lý, thông tin.
Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản
xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà còn mở rộng khái niệm công nghệ ra
lĩnh vực dịch vụ và quản lý, vì vậy nó đƣợc coi là một bƣớc ngoặt trong lịch
sử quan niệm về công nghệ.
Ở Việt Nam, quan niệm phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với các quan
điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ, đó là:
18
- Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam, năm 2000 đã đƣa ra định
nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng,
Đổi mới công nghệ có thể là đƣa ra hoặc ứng dụng những công nghệ
hoàn toàn mới hoặc mới sử dụng lần đầu trong hoàn cảnh mới.
Peter Drucker, nhà kinh tế học nổi tiếng ngƣời Áo cho rằng xét ở góc
độ quản trị kinh doanh, có hai nhiệm vụ hàng đầu mà một doanh nghiệp luôn
phải thực hiện đó là tiếp thị (marketing) và đổi mới công nghệ (innovation).
Nếu chức năng tiếp thị là nhằm thoả mãn các những nhu cầu hiện tại của
ngƣời tiêu dùng thì đổi mới công nghệ nhằm thoả mãn nhu cầu tƣơng lai của
khách hàng. Nếu thiếu khả năng và sự kiên trì, bền bỉ trong việc đổi mới công
nghệ thì doanh nghiệp sẽ sớm bị đào thải khỏi thƣơng trƣờng khi nhu cầu
khách hàng, công nghệ thay đổi và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Do đó
đối với một doanh nghiệp, đổi mới công nghệ luôn đƣợc sử dụng nhƣ một
nhân tố trong chiến lƣợc cạnh tranh.
1.2.2.2. Vai trò của đổi mới công nghệ.
Công nghệ là một sản phẩm đặc biệt của con ngƣời và trƣớc hết nó
cũng là một sản phẩm cho nên nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của
sản phẩm. Tức là nó cũng đƣợc sinh ra, phát triển và cuối cùng là bị đào thải.
Chính vì lẽ đó việc quan tâm đặc biệt đến đổi mới công nghệ sẽ gắn chặt đến
lợi ích sống còn của doanh nghiệp, đến sự phát triển của nền kinh tế. Nếu một
quốc gia nào, hay một doanh nghiệp nào không có những hoạt động nhằm
không ngừng ĐMCN thì chắc chắn ở quốc gia đó ở doanh nghiệp đó không
thể có sự phát triển. Một điều quan trọng đó là ĐMCN sẽ mang lợi ích cho
doanh nghiệp đổi mới cũng nhƣ cho nền kinh tế, các lợi ích đó là:
- Đổi mới công nghệ cải thiện, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đây là
một lợi ích thiết thực, trực tiếp và đƣợc các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu.
- Từ việc nâng cao đƣợc chất lƣợng sản phẩm sẽ làm cho doanh nghiệp
duy trì, củng cố và mở rộng thị phần của sản phẩm.
- Một lợi ích rất quan trọng khác đó là đổi mới công nghệ sẽ mở rộng
phẩm cấp của sản phẩm, tạo thêm chủng loại sản phẩm mới.
- Đáp ứng đƣợc các quy định, tiêu chuẩn, luật lệ và các quy định ngày
càng khắt khe đƣợc thế giới và các quốc gia xây dựng lên.
doanh nghiệp. Tuy nhiên, do nguồn vốn còn hạn chế các doanh nghiệp nhỏ và
vừa thƣờng gặp khó khăn lớn để triển khai hoạt động đổi mới công nghệ vì
21
vậy cần phải sự hỗ trợ rất lớn từ phía nhà nƣớc cũng nhƣ sự nỗ lực của bản
thân doanh nghiệp. Để hỗ trợ các doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ,
Nhà nƣớc có thể sử dụng nhiều công cụ trong đó các công cụ tài chính đƣợc
biết đến là công cụ hữu hiệu để khuyến khích hoạt động đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.3.1. Công cụ tài chính
Trong phạm vi luận văn này, công cụ tài chính đề cập nghiên cứu để hỗ
trợ, khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới công nghệ đó là: vốn
ngân sách, vốn tín dụng, thuê mua tài chính, thị trƣờng chứng khoán; thuế.
1.3.1.1 Vốn ngân sách
Vốn ngân sách hay Ngân sách nhà nƣớc, là một thành phần trong hệ
thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nƣớc" đƣợc sử dụng rộng rãi trong
đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà
nƣớc lại chƣa thống nhất, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều định nghĩa về ngân sách
nhà nƣớc tùy theo các trƣờng phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh
tế Nga quan niệm: “Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi
bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia”. Luật Ngân sách Nhà
nƣớc đã đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1996 định nghĩa tại Điều 1:
“Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước”. Luật Ngân sách sửa đổi thi hành từ năm ngân sách 2004, đã đƣợc
Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai
thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002. Luật này thay thế Luật ngân sách nhà
nƣớc năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà
nƣớc năm 1998, định nghĩa tại Điều 1: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các
KHCN hàng năm và Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia thành lập theo quy định
tại Điều 39 của Luật KH&CN. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ bộ, tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ƣơng thành lập theo quy đình tại Điều 40 của Luật
KH&CN. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ có chức năng tài trợ, cho vay
23
để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do tổ chức và cá nhân đề xuất.
Sự ra đời của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ là động lực thúc đẩy phát
triển KH&CN nói chung và ĐMCN ở các DNNVV nói riêng.
1.3.1.2. Vốn tín dụng
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động ĐMCN có hai nguồn vốn tín
dụng, đó là:
- Tín dụng thƣơng mại tại các tổ chức tín dụng và ngân hàng thƣơng
mại (NHTM)
- Tín dụng vay ƣu đãi tại các Quỹ Đầu tƣ phát triển
* Tín dụng thƣơng mại tại các tổ chức tín dụng và NHTM
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng doanh nghiệp nói riêng. Ngân
hàng có thể đƣợc định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế.
Theo pháp luật nƣớc Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản
tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc
hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay
cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng.
Hiện nay, chức năng của các ngân hàng đang thay đổi mà chức năng
của các đối thủ cạnh tranh chính sách của ngân hàng cũng không ngừng thay
đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh
doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quĩ hỗ trợ và công ty bảo
hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngƣợc
Các Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng có thể thực hiện hoạt động đầu tƣ
gián tiếp (cho vay) cũng nhƣ đầu tƣ trực tiếp (đầu tƣ mua cổ phần). Vốn điều
lệ là nguồn vốn chủ sở hữu chính thức của các Quỹ Đầu tƣ phát triển địa
phƣơng, do các chính quyền địa phƣơng cấp từ ngân sách địa phƣơng. Vốn
huy động là nguồn vốn mà các Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng huy động
đƣợc để thực hiện các hoạt động đầu tƣ. Vốn ủy thác là nguồn vốn đầu tƣ của
chính quyền địa phƣơng và các tổ chức khác thông qua Quỹ đầu tƣ phát triển
địa phƣơng. Việc thực hiện đầu tƣ các nguồn vốn uỷ thác, thƣờng không tuân
theo quy trình thẩm định dự án cơ bản của các quỹ.
CHỨC NĂNG
NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI
BẢO HIỂM
ĐẦU TƢ VÀ
BẢO LÃNH
MÔI GIỚI
THANH TOÁN
TIẾT KIỆM
QUẢN LÝ TIỀN MẶT
ỦY THÁC
TÍN DỤNG
LẬP KẾ HOẠCH
ĐẦU TƢ
25
1.3.1.3. Thuê mua tài chính
Thuê mua tài chính (TMTC) là một hình thức đang đƣợc áp dụng phổ
biến ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Nhật Bản, Ðức, Thụy Ðiển, Úc
Loại hình TMTC đã đƣợc một số công ty tài chính đƣa ra thị trƣờng tài chính
vào những năm cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ 20 với tên
gọi là thuê tài chính. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ