đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhăn văn
PHAN CH THNH
Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng
bằng bắc bộ qua t- liệu ở một số xã
thuộc huyện thạch thất - hà tây
Luận án tiến sĩ lịch sử
Tiểu kết ch-ơng I
61
Ch-ơng II: Thực chất của kết cấu dòng họ ở đồng bằng
bắc bộ
63
2.1 Kết cấu dòng họ.
63
2.2. Sinh hoạt tinh thần trong dòng họ.
74
2.3. Thực chất của kết cấu dòng họ ở ng-ời Việt thuộc Đồng
bằng Bắc bộ.
85
Tiểu kết ch-ơng II
96
Ch-ơng III: Vai trò của dòng họ trong làng xã ở Đồng
bằng Bắc bộ.
97
3.1. Trạng thái d-ới chế độ cũ.
97
3
3.2. ảnh h-ởng của dòng họ trong đời sống làng xã hiện nay.
111
3.3. Những kiến nghị về ứng xử chính trị - xã hội đối với dòng họ ở
nông thôn.
124
Tiểu kết ch-ơng III
129
Kết luận
131
I. Lý do chän ®Ò tµi
Trong đời sống nông thôn Việt Nam hiện nay, dòng họ và quan hệ dòng
họ vẫn còn là một đặc trưng thể hiện ở gần như khắp nơi, và cũng có thể nói
là trên mọi khía cạnh của đời sống. Họ hàng - làng - nước vẫn được coi là các
khuôn khổ quen thuộc đối với mọi người. Các giá trị văn hóa của mỗi làng
nói riêng, của mỗi vùng nếu nói rộng hơn, thậm chí của cả dân tộc, đều mang
dấu ấn của văn hóa dòng họ. Những ảnh hưởng tích cực của dòng họ và văn
hóa dòng họ đang đóng góp vào việc gìn giữ và phát triển văn hóa của dân
tộc. Nhưng những ảnh hưởng tiêu cực cũng thường xuyên tác động tới quá
trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đặc biệt là tới công cuộc xây dựng nhà
nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xây
dựng đời sống văn minh, dân chủ và hiện đại ở khu vực nông thôn.
Trong mỗi làng người Việt (Kinh) ở Đồng bằng Bắc Bộ, quan hệ dòng
họ (và quan hệ thân tộc nói chung) là một trong hai quan hệ cổ truyền cơ bản
cố kết các thành viên của làng. Quan hệ còn lại là quan hệ lân cư, tức quan hệ
giữa các thành viên của làng với nhau. Tất nhiên, quan hệ lân cư là quan hệ cơ
bản hơn, bởi nó được chính thống hóa, thậm chí là pháp chế hóa. Nhưng quan
hệ dòng họ không vì thế mà bị thu hẹp dần. Nó vẫn tồn tại rất dai dẳng, và có thể
nói là biến đổi ít hơn quan hệ lân cư, là loại quan hệ mà tính chất của nó có thể
được định hướng bởi chế độ chính trị từng thời kỳ. Do đó, để hiểu biết đầy đủ về
thực chất của đời sống nông thôn Việt Nam thì không thể thiếu những hiểu biết
về dòng họ và sinh hoạt dòng họ.
Có một hiện tượng rất đáng suy nghĩ, đó là sự phục hồi của hàng loạt
những hoạt động có liên quan đến dòng họ kể từ khi Việt Nam bắt đầu thực
hiện chiến lược đổi mới đất nước. Trước đó, có thể nói là trong vòng ba, bốn
5
thập kỷ, sinh hoạt dòng họ hầu như bị lắng chìm. Có nhiều lý do của sự lắng
chìm đó, nhưng trong đó chắc phải có lý do là tư tưởng về dòng họ mặc nhiên
bị coi là tư tưởng phong kiến, không phù hợp với tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Nội. Vì thế tôi đã lựa chọn một số xã ở huyện Thạch Thất để làm địa bàn
nghiên cứu.
Đó là những lý do để tôi lựa chọn đề tài “Dòng họ và đời sống làng xã ở
Đồng bằng Bắc bộ qua tƣ liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất, Hà
Tây” làm đề tài luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử của mình.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI.
Mục tiêu đầu tiên của đề tài là đặt dòng họ trong bối cảnh đời sống xã
hội nông thôn để khảo sát và nghiên cứu hiện trạng của các dòng họ và sinh
hoạt dòng họ trong một số xã của huyện Thạch Thất, Hà Tây, trước hết là các
xã Lại Thượng, Hương Ngải, Hữu Bằng và Đại Đồng chứ không nghiên cứu
bản thân các làng xã. Trong số bốn xã này thì có ba xã sau là các xã có nhiều
dòng họ, có những dòng họ lớn với văn hóa dòng họ khá phong phú, và ảnh
hưởng dòng họ rất rõ rệt, theo cả hai ý nghĩa tích cực và tiêu cực tới đời sống
làng xã. Trên một ý nghĩa nào đó, sinh hoạt dòng họ ở ba xã sau là khá điển
hình, nếu so sánh với hiểu biết của tôi về dòng họ ở những nơi khác trong
vùng Đồng bằng Bắc Bộ và qua những gì mà các nhà nghiên cứu về dòng họ
đã nêu.
Mục tiêu thứ hai của đề tài là từ các tài liệu thực tế, chúng tôi nêu ra
quan niệm của mình về thực chất của dòng họ ở vùng này, tìm cách trả lời hai
câu hỏi cơ bản nảy sinh ra ngay trong quá trình nghiên cứu các tài liệu thực tế.
Thứ nhất: Kết cấu dòng họ thực ra là kết cấu con người theo cung cách nào
xét về mặt hiện thực? Và thứ hai: Nó có giá trị nhân học ra sao, tức là nó có
7
bản chất như thế nào, cái bản chất mà nhờ đó nó có thể tồn tại lâu dài trong
đời sống xã hội Việt Nam ở nông thôn? Vấn đề thứ hai này từ lâu đã là mối
quan tâm của nhiều người nghiên cứu về dòng họ, trong đó có tôi, và những
kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực này nếu có giá trị khoa học thì có thể trở
thành những căn cứ cần thiết cho việc ứng xử chính trị - xã hội đối với vấn đề
dòng họ. Những ứng xử như thế ở nông thôn nước ta gần như vẫn chỉ có tính
Pháp đã nghiên cứu nó, tất nhiên là chỉ để phục vụ cho công cuộc thực dân
hóa của Pháp mà thôi. Tuy nhiên, những nghiên cứu của họ lại là những
nghiên cứu khoa học đầu tiên, với tư cách là nghiên cứu có phương pháp xác
định. Các nhà nghiên cứu của Pháp thời kỳ này đã đề cập đến vấn đề dòng họ
như Bonifacy, Ory nhưng rõ nhất là hai tác giả P. Gourou và L. Cadière, P.
Gourou đã đưa ra con số 202 tộc danh ở Đồng bằng Bắc bộ, trong đó tỉnh Bắc
Ninh có 93 dòng họ, với 54% số hộ là họ Nguyễn. Đáng chú ý là ông phát
hiện ra ở Bắc Ninh có nhiều làng chỉ có một họ Nguyễn, con số này lên tới 48
làng, với quy mô trung bình 120 hộ và 730 nhân khẩu (36: 248). Số liệu này
được đưa ra từ năm 1938 trong sách của ông, và ngày nay chúng tôi không
còn đủ cơ sở để xác minh tính chính xác của nó. P. Gourou không quan tâm
tới bản chất và các mối quan hệ dòng họ, và toàn bộ phần viết về dòng họ của
ông cũng chỉ được thể hiện trên 5 trang sách. L. Cadière, tuy cũng không
khảo sát kỹ các quan hệ có tính chất dòng họ, nhưng đã cảm nhận được vai trò
của yếu tố tâm linh trong kết cấu dòng họ với trụ cột là “Đạo thờ tổ tiên”. [
trích theo 107, tr. 14].
Trước năm 1945, nghiên cứu về dòng họ người Việt (Kinh) chỉ xuất hiện
ở một số nhà nghiên cứu văn hóa như Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, và rõ
nhất là Phan Kế Bính trong cuốn Việt Nam phong tục và Đào Duy Anh với
9
Việt Nam văn hóa sử cương. Trong Việt Nam phong tục, qua các mục Thân
thuộc, Phụng sự tổ tiên, trong đó có tiểu mục Gia phả, Thượng thọ, Tang ma,
Phan Kế Bính đã trình bày một số nét trong sinh hoạt dòng họ, dựa trên tập
tục mà ông kinh nghiệm được, và cũng dựa trên Thọ Mai gia lễ do tiến sỹ
Nho học Hồ Sĩ Tân (1690 - 1760) biên soạn. Cũng tương tự như vậy, học giả
Đào Duy Anh trình bày một số nét trong sinh hoạt gia đình truyền thống và
dòng họ nhưng đôi chỗ có so sánh sự khác biệt ở cùng một vấn đề giữa tập tục
dân gian và quy định của pháp luật, chủ yếu là pháp luật thời Gia Long. Dưới
dạng trình bày khái lược đặc trưng văn hóa, cả hai ông đều không đưa ra các
thảo ít nhất cũng cung cấp vô cùng nhiều tư liệu mới về các dòng họ, nhất là
các dòng họ nổi tiếng ở nước ta, như các họ Ngô, Hồ, Phạm, Mạc, Trịnh, Lê,
Nguyễn, Phan , mặc dù tính chính xác của tư liệu trong rất nhiều trường hợp
còn phải xem xét thêm. Những thông báo của các Hội thảo khoa học về dòng
họ ở từng tỉnh có chú ý hơn tới vấn đề phương pháp, đề xuất việc cảnh giác
với hai khuynh hướng cực đoan hoặc quá đề cao, hoặc quá xem nhẹ vấn đề
dòng họ, kêu gọi việc bảo tồn và phát huy văn hóa dòng họ, và cung cấp thêm
nhiều tài liệu quan trọng, rất có giá trị về một số họ nổi tiếng trong các tỉnh.
Các nhà khoa học cũng phải vào cuộc. Tuy chưa có một công trình lớn nào
chuyên nghiên cứu về vấn đề dòng họ người Việt (Kinh) một cách có hệ
thống, nhưng các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều vấn đề về lý luận và
phương pháp với nội dung khá phong phú, trong đó đáng lưu tâm nhất là các
luận điểm của các nhà nghiên cứu Phan Văn Các [15], Phan Đại Doãn [27],
Đặng Nghiêm Vạn [107], Trần Quốc Vượng [116]
GS. Phan Văn Các tóm lược lịch sử hình thành khái niệm Tính, Thị (tức
là Họ) trong văn hóa Trung Quốc cổ đại, với tư tưởng “Kính tông pháp tổ”
của Nho gia, một số cấu trúc họ đơn, họ kép ở Trung Quốc và truyền thống
11
ghi chép tộc phả của người Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Âu - Mỹ.
Ông cũng nêu ra các giá trị truyền thống quý báu cần phải quan tâm khi
nghiên cứu các dòng họ Việt Nam và sự cần thiết phải có phương pháp liên
ngành trong việc nghiên cứu về dòng họ [15].
GS. Trần Quốc Vượng trong một bài tham luận rất súc tích, đã đặt ra
những vấn đề phương pháp luận rất quan trọng trong nghiên cứu dòng họ, đề
phòng phương pháp tiến hóa luận cực đoan, đặc biệt quan tâm tới những
hiện tượng của dòng họ trái với lối suy nghĩ giản đơn thông thường như
tuyệt đối hóa tính chất phụ hệ, vai trò hoàn toàn lệ thuộc của phụ nữ trong
dòng họ, các họ nội hôn và nhấn mạnh Họ là một đơn vị cộng cảm mà
đỉnh cao là văn hóa tâm linh với tục thờ cúng tổ tiên [116, tr. 73-75].
thạc sĩ và khoá luận tốt nghiệp cử nhân về vấn đề dòng họ của người Việt ở
Đồng bằng Bắc bộ. Bản thân tác giả luận án này cũng có một đề tài cấp đại
học quốc gia, ký hiệu QX - 11: Dòng họ và chính quyền các xã qua tư liệu
một số xã thuộc huyện Thạch Thất - Hà Tây.
Như vậy có thể nói, vấn đề dòng họ người Việt (Kinh) ở Đồng bằng Bắc
bộ nói chung đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ vài chục năm nay,
nhưng chủ yếu là từ mười, mười lăm năm nay. Tư liệu đã khá dồi dào, tuy
chưa được hệ thống. Nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là sự tiếp nối
công việc của những người đi trước.
IV. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN.
Luận án của chúng tôi có thể góp được vào công việc nghiên cứu chung
trên ba vấn đề sau đây:
Thứ nhất là thực trạng dòng họ và sinh hoạt dòng họ ở bốn xã thuộc
huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, một vùng đất cổ của người Việt, nơi đối
13
tượng mà chúng tôi nghiên cứu còn khá đậm nét. Thực trạng này được phản
ánh thông qua một mặt là những nguồn tài liệu của những người nghiên cứu
trước, của các cơ quan chính quyền địa phương, nhưng chủ yếu là từ các tài
liệu điền dã trực tiếp của chúng tôi tại các xã Hương Ngải, Lại Thượng, Hữu
Bằng, Đại Đồng và một số xã khác trong hơn ba năm, tuy không liên tục,
nhưng cũng khá tỷ mỷ. Ngoài những nét chung với đời sống dòng họ ở nhiều
khu vực khác của Đồng bằng Bắc bộ, đời sống dòng họ ở vùng này cũng có
nhiều sắc thái biểu hiện riêng biệt, đóng góp vào sự phong phú của sinh hoạt
dòng họ của cả nước nói chung và của Đồng bằng Bắc bộ nói riêng.
Thứ hai là, trên cơ sở nắm bắt được thực trạng sinh hoạt dòng họ ở
địa bàn mà chúng tôi lựa chọn và trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của
những người đi trước, chúng tôi mạnh dạn đưa ra quan niệm của mình về
thực chất thiết chế dòng họ của người Việt (Kinh) ở Đồng bằng Bắc bộ.
Chúng tôi không dám đưa ra một định nghĩa cho khái niệm “dòng họ”,
năm, đặc biệt là từ những năm 90 của thế kỷ trước. Tiếp đó là những tài liệu
trong bộ phận tư liệu của Khoa Sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Dân tộc học. Những nghiên cứu về
dòng họ còn có ở nhiều cuốn sách hiện có ở Thư việc Quốc gia, Thư viện Đại
học Quốc gia, Thư viện Viện Dân tộc học và các Viện Khoa học xã hội khác,
trong đó có cả các cuốn sách của các tác giả Pháp viết từ cuối thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX. Một trong các cuốn sách đó là của P. Ory, mà tôi đã dịch ra
tiếng Việt từ năm 1992. Những tài liệu kể trên tôi đã liệt kê lại ở phần Tài liệu
tham khảo của luận án này, cùng với các tài liệu về nông thôn và dòng họ ở
Hà Tây nói chung và huyện Thạch Thất nói riêng.
Tuy nhiên, nguồn tư liệu chủ yếu mà tôi dựa vào là các thông tin tôi có
15
được trong nhiều lần nghiên cứu trực tiếp trên địa bàn các xã thuộc huyện
Thạch Thất, bao gồm các gia phả chữ Nho và chữ Quốc ngữ, những sắc
phong, thần phả, bia ký… và đặc biệt là những tài liệu do các thành viên (trên
50 người) thuộc các dòng họ sinh sống trên địa bàn trực tiếp cung cấp. Và
cuối cùng là những gì tôi được biết như những trải nghiệm cá nhân tôi và các
bậc tiền bối của họ Phan Văn 3, dòng họ của tôi thuộc xã Hữu Bằng, huyện
Thạch Thất - Hà Tây có được và kể lại
Về phương pháp, trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật,
chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp trong nghiên cứu thực địa, sắp xếp,
xử lý tư liệu, hình thành các quan điểm khoa học trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận án.
Trước hết là các phương pháp và thao tác trong quá trình nghiên cứu
thực địa, đó là các phương pháp mô tả, phương pháp phỏng vấn, cả phỏng vấn
cá nhân và phỏng vấn nhóm, điều tra theo phiếu hỏi soạn trước Việc xử lý
tư liệu được tiến hành bằng các phương pháp nghiên cứu thống kê xã hội học,
hình thành nên các số liệu giúp cho việc lượng hóa, nhất là đối với quan hệ có
tính thực tiễn của sinh hoạt dòng họ.
Chương II: Thực chất của kết cấu dòng họ.
Chương này được chia thành ba tiết. Trước hết, là phần Kết cấu dòng họ.
Tiếp đó, chúng tôi dành một tiết riêng để trình bày và phân tích thực chất tinh
thần trong các quan hệ dòng họ, mà theo chúng tôi, đó là nội dung trực tiếp
chuyển tải ý nghĩa sâu sắc nhất của kết cấu dòng họ, và khi được thực tiễn hóa
trong đời sống hiện thực, tức là khi phải tìm cách thể hiện ra trong đời sống
nhờ tông pháp, nó trở thành các quan hệ mang tính thực tiễn đã được trình
bày trong chương I, đồng thời trực tiếp thể hiện ra trong sinh hoạt tinh thần
như giỗ tổ, lập gia phả, chăm sóc mộ tổ, tìm họ hàng và tinh thần dòng họ. Ở
tiết thứ ba, chúng tôi đưa ra quan niệm của mình về thực chất của kết cấu
dòng họ, kèm theo những lập luận cốt để trình bày cho rõ quan niệm của
17
mình.
Chương III: Dòng họ trong đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc bộ.
Những gì trình bày ở chương III này chỉ là bước đầu của một công việc
nghiên cứu công phu và dài hơi hơn nhiều, bởi đó là một lĩnh vực rất phong
phú, phức tạp và tình hình rất khác nhau ở những làng xã khác nhau. Trong
phạm vi địa bàn nghiên cứu, dựa trên các tư liệu thực tế, chúng tôi nêu lên
thực trạng,và có khi đối chiếu, tham khảo với các tư liệu của những nhà nghiên
cứu khác, và đưa ra những nhận định sơ bộ. Vì dòng họ chắc chắn là còn tồn tại
rất lâu dài, cho nên sự biến đổi của mối quan hệ giữa dòng họ với các quan hệ
khác ở nông thôn tất nhiên cũng biến đổi.
Cuối cùng là những đề xuất về ứng xử đối với vấn đề dòng họ ở nông thôn.
Cả vấn đề này nữa cũng chỉ là những ý kiến ban đầu, chủ yếu là có tính chất tham
khảo, bởi đây là một đề tài Dân tộc học chứ không phải một đề tài Chính trị học.
18
Chương I
THỰC TRẠNG DÕNG HỌ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Bắc [111, tr. 15].
Bảng số 1: Phân bố đất từng xã ở huyện Thạch Thất - Hà Tây (2004)
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thạch Thất - Số liệu năm 2004)
Tên xã
DT
tự nhiên
DT
N/nghiệp
DT
Thổ cƣ
DT
L/nghiệp
DT nƣớc
thủy sản
Đất chƣa
sử dụng
Chàng Sơn
259,88
196,05
19,75
4,85
413
Lại Thượng
813,31
504,81
83,13
25,29
11,59
397,24
39,88
5,40
50,02
Phú Kim
597,99
377,70
57,45
5,00
15,48
92,45
Tân Xá
704,50
348,07
26,21
125,90
19,43
24,06
Đồng Trúc
568,68
378,06
29,78
2,84
11,28
60,39
Đại Đồng
502,95
390,57
45,58
76,54
20
Hương Ngải
446,31
350,24
37,69
13,80
12,92
Theo bản thảo địa chí Thạch Thất do Ban tuyên giáo huyện đang biên
soạn, khoảng 500 năm Tr. CN, địa bàn cư trú của cư dân Thạch Thất vẫn chủ
yếu là những vùng đất cao, và bắt đầu phát triển ra khu vực các xã Hạ Bằng,
Đồng Trúc, Lại Thượng… rồi sau đó mới tụ cư ở vùng đồng bằng, mà gọi
theo người Thạch Thất là vùng nông giang. Ở khu vực này đất đai phì nhiêu,
màu mỡ, rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Cho đến đầu thế kỷ thứ VI thì
cư dân ở Thạch Thất đã khá đông đúc.
Theo thống kê của huyện năm 1999, Thạch Thất có 140.529 nhân
khẩu, với 31.851 hộ gia đình được phân bố ở 20 xã, thị trấn như sau (Xin
xem bảng số 2)
Rõ ràng là Thạch Thất là một trong những vùng đất cổ của người Việt, là
một vùng đất văn vật với di tích văn hóa nổi tiếng cả nước là chùa Tây Phương,
và cũng giáp giới với chùa Thầy. Do đó, chắc chắn việc tụ cư ở vùng này đã có
từ trước Công nguyên. Tuy nhiên, do nhiều biến cố lịch sử, các làng xã ở vùng
này chỉ ghi nhận được lịch sử của mình muộn hơn, và chủ yếu là qua thần tích
của đình chùa. Ví dụ thần tích làng Hương Ngải nhận rằng lập làng là ba anh
em họ Chu, được Hán Hiếu đế phong quan chức và Hương Ngải là một trong
năm hành cung của họ (cùng với Đại Đồng, Đình Vồi, Kim Quan (Liên Quan).
Làng Hữu Bằng qua thần phả đình làng có lịch sử trên dưới 900 năm, từ Trại
Ba nhà đến Trại Bông, Nủa Chợ đến Hữu Bằng trang. Các làng Chàng Sơn,
TTCN
D.vụ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1
Liên Quan
1086
5376
1827
139
1810
1681
129
2
Đại Đồng
1965
8809
1589
174
424
3768
256
3
1632
169
3655
3585
70
7
Canh Nậu
2266
11854
2310
221
4625
4499
126
8
Dị Nậu
1208
6273
1857
221
2399
2352
47
9
Bình Yên
1797
8454
685
139
3404
Hữu Bằng
2564
13481
6749
206
3614
1682
1932
14
Phùng Xá
2075
9814
182
197
1817
318
3499
15
Tân Xá
730
3892
552
129
1727
1712
15
16
Cần Kiệm
1591
7813
125
2065
2008
57
20
Thạch Hòa
1834
7978
422
236
2169
2049
120
Tổng cộng
31851
152230
1143
1,43
63486
52528
10958
Kể từ thời kỳ đổi mới, bộ mặt nông thôn Thạch Thất có những đổi thay
rất quan trọng. Giao thông nông thôn khá phát triển, nhà ở của dân được xây
cất khá tốt, ở những xã phát triển như Hữu Bằng, Phùng Xá, nhà cửa gia đình
không kém gì thành phố, với công trình phụ khép kín, thậm chí hiện đại.
Nhưng quan trọng hơn là cơ cấu kinh tế bắt đầu có thay đổi, dù là rất không
đều, tức là nổi bật vẫn là các làng xã có truyền thống tiếp cận thị trường (Xin
xem bảng số 3).
Nhìn vào bảng số 3, chúng ta nhận thấy trừ xã Phú Kim, còn lại một thị
trấn huyện (Liên Quan) và 18 xã khác đất nông nghiệp trồng lúa trong một
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thạch Thất - Hà Tây số liệu năm 2004)
Số
TT
Tên xã, thị trấn
Diện tích
Năng suất
(tạ/ha)
Sản xuất (tấn)
Năm.
2002
Năm
2003
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2002
Năm
2003
1
T.T Liên Quan
274,4
259,5
50,8
54,91
1.484
1425
2
Đại Đồng
6
Dị Nậu
348
430
62,3
62,4
2.727
2.683
7
Chàng Sơn
362
349,2
56,6
54,75
2.015
1.912
8
Thạch Xá
413
412
57,36
55,24
2.369
2.276
9
Bình Phú
611
610
56,12
54,41
56
54,15
2.213
2.139
14
Lại Thượng
716
711
52,47
49,04
3.757
3.487
15
Cẩm Yên
370
378
53,32
52,25
2.047
1.975
24
16
Bình Yên
494,5
460
46,37
51,48
2.293
2.368
951
972
Bảng số 4: Các cơ sở kinh doanh của một số xã
ở huyện Thạch Thất - Hà Tây (2005)
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thạch Thất - Hà Tây số liệu năm 2004)
Tên xã
Cty
TNHH
Cty
Cổ phần
Doanh
nghiệp
tƣ nhân
HTX
thủ công
Doanh thu 2004
(triệu đồng)
Liên quan
7
1
2
1
5.622,5
Thạch Xá
5
0
3
0
23.129
Chàng Sơn
13
0
0
2
13.378
Bình Yên
7
1
1
2
33.104
Hương Ngải
0
0
0
2
787
Những biến đổi về cơ cấu kinh tế, ngành nghề tất nhiên cũng sẽ ghi dấu
ấn lên sinh hoạt dòng họ.
Việc xác định nguồn gốc các dòng họ ở Thạch Thất là một việc rất phức
tạp, giống như tình hình ở mọi nơi. Lý do đầu tiên và căn bản là tư liệu gốc,
tức gia phả, đã trở nên rất hiếm hoi, do bị thất thoát bởi rất nhiều biến cố lịch
sử của đất nước và của dòng họ. Chúng tôi tạm chia thành ba trường hợp.
25
Thứ nhất là trường hợp các họ còn giữ được gia phả gốc, trong đó ghi rõ
sự kiện tối quan trọng đối với các dòng họ, sự kiện ông thủy tổ về Thạch Thất
lập nghiệp. Đó là các trường hợp họ Nguyễn Văn ở Hữu Bằng với sự kiện ông
Nguyễn Ngung, con trai cụ Tổ từ Hà Nam lên lập nghiệp ở đây, cụ Ngung đỗ