Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYN TH NGC H
PHT TRIN NGUN NHN LC DU LCH
TNH LO CAI GIAI ON 2012 - 2020 Chuyên ngành: Du lịch
(Ch-ơng trình đào tạo thí điểm) luận văn thạc sĩ du lịch NGI HNG DN KHOA HC: TS. NGUYN QUANG VINH Hà Nội, 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2020” là một công trình nghiên cứu độc lập
của cá nhân tôi. Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung
chính xác. Các kết luận khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình
nghiên cứu nào khác. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Ngọc Hà 1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài 7
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Ý nghĩa của đề tài 11
7. Kết cấu của đề tài 11
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH 12
1.1. Nguồn nhân lực 12
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực 12
1.1.2. Các nội dung cơ bản của nguồn nhân lực 13
1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực 14
1.2. Nguồn nhân lực du lịch 16
1.2.1. Du lịch 16
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
Ở LÀO CAI 75
3.1. Định hƣớng và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào Cai 75
3.1.1. Định hướng phát triển nhân lực du lịch ở Lào Cai 75
3.1.2. Nhu cầu phát triển nhân lực du lịch giai đoạn 2012-2020 82
3.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch của Lào Cai . 83
3.2.1. Giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch 83
3.2.2. Giải pháp đối với cơ sở đào tạo về du lịch 85
3.2.3. Giải pháp đối với các doanh nghiệp du lịch 88
3.2.4. Các giải pháp hỗ trợ 90
3.3 Kiến nghị 91
3
3.3.1. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai 91
3.3.2. Kiến nghị với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai 93
3.3.3. Kiến nghị với Sở Nội vụ 93
Tiểu kết chƣơng 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai mươi năm kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, Việt Nam đã
tiến một bước dài trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng
như tất cả các quốc gia khác, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được xác
định là mục tiêu hàng đầu trong quá trình phát triển của Việt Nam. Để thực
hiện mục tiêu này, tất cả các quốc gia đều dựa trên bốn yếu tố chính đó là: Tài
nguyên tự nhiên, vốn, công nghệ và nhân lực.
Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cuộc cạnh tranh của các
công ty Việt ngày càng khốc liệt và khó khăn Các doanh nghiệp không chỉ
phải cạnh tranh với các công ty trong nước, mà còn phải cạnh tranh với nhiều
công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh về nguồn vốn và kinh nghiệm hơn trong
kinh tế thị trường. Để có thể cạnh tranh thành công, các quốc gia, các doanh
nghiệp, các công ty, các sản phẩm chủ yếu là cạnh tranh về tỷ lệ hàm lượng
chất xám kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhờ nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực. Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với các
quốc gia trên thế giới đã và đang trở thành vấn đề cấp bách có tầm chiến lược,
là vấn đề có tính chất sống còn trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế.
Cùng với xu thế hội nhập toàn cầu, cơ cấu nền kinh tế Việt Nam đã và
đang dịch chuyển theo hướng nâng dần tỷ trọng của các ngành thương mại,
dịch vụ. Trong thời gian qua, các ngành dịch vụ có tốc độ phát triển nhanh,
mũi nhọn - ngành công nghiệp không khói, đóng góp quan trọng cho sự phát
triển kinh tế của tỉnh. Hằng năm, doanh thu du lịch xã hội của Lào Cai luôn
đứng đầu khu vực Tây Bắc (gấp 7,8 lần so với Điện Biên và 14,2 lần so với
Lai Châu) và nằm trong top 5 tỉnh có ngành du lịch phát triển nhất miền Bắc.
Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có để phát triển du lịch, Lào Cai
đang quyết tâm phấn đấu trở thành trung tâm du lịch lớn của miền Bắc cũng
như cả nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã xác định ngành
7
du lịch có vị trí hàng đầu, được ưu tiên đầu tư và phát triển. Tuy nhiên, nguồn
nhân lực du lịch của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chưa thực sự
là động lực để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, công tác
đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch Lào Cai đang là một
trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách.
Năm 2013, Lào Cai đón hơn 1,2 triệu lượt khách (riêng Sapa là vùng
du lịch trọng điểm của địa phương đón hơn 780 ngàn lượt), trong khi đó
nguồn nhân lực phục vụ cho lĩnh vực du lịch trên địa bàn cả tỉnh Lào Cai đến
thời điểm này mới có khoảng trên 2.800 lao động trực tiếp. Trong số đó lao
động đã qua đào tạo về du lịch chỉ chiếm khoảng 25%. Đa số lao động trực
tiếp có trình độ trung, sơ cấp, chưa qua đào tạo chuyên ngành du lịch và làm
việc theo hợp đồng thời vụ. Đây là một trong những điểm yếu, ảnh hưởng
trực tiếp đến sự phát triển của du lịch Lào Cai.
Vì vậy, việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng nguồn nhân lực
du lịch của tỉnh, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm tạo ra một sự
chuyển biến về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu
của xã hội trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguồn
nhân lực du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012-2020” làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục đích chung
Xác định rõ thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực trong ngành du lịch
của Lào Cai trên cơ sở phân tích để từ đó xây dựng hệ thống các giải pháp
nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu
và đòi hỏi của ngành cho du lịch tỉnh Lào Cai trong thời gian tới. 9
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân
lực du lịch tạo cơ sở khoa học cho việc phân tích thực trạng phát triển nguồn
nhân lực trong ngành du lịch ở Lào Cai.
- Khảo sát thực trạng nhân lực trong ngành du lịch ở Lào Cai
- Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch
nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển du lịch và phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh Lào Cai nói chung đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở Lào
Cai, trong đó đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trực
tiếp trong du lịch, đặc biệt là phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực, coi đó là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Lào Cai.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực trong
ngành du lịch tại Lào Cai.
4.2.2 Phạm vi thời gian: Đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu thứ cấp
trong giai đoạn 2011-2013 và các số liệu sơ cấp thu thập trong năm 2013 để
nghiên cứu, khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch ở tỉnh Lào
Cai. Các đề xuất, giải pháp có ý nghĩa trong giai đoạn từ 2012 – 2020.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng
được sự dụng hầu hết trong công tác nghiên cứu khoa học, phương pháp phân
tích tổng hợp giúp cho các nhà nghiên cứu liên kết các vấn đề trong một sự
kiện hoặc các sự kiện khác nhau phản ánh một vấn đề cần làm sáng tỏ.
Nghiên cứu về du lịch, môi trường và cộng đồng có liên quan chặt chẽ với
nhau tới các điều kiện kinh tế - xã hội. 11
6. Ý nghĩa của đề tài
- Làm rõ các vấn đề lí luận và thực tiễn về nguồn nhân lực trong ngành
du lịch.
- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề nguồn nhân
lực trong ngành du lịch.
- Làm cơ sở cho địa phương đưa ra các giải pháp để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong ngành du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Có giá trị tham khảo cho du lịch một số tỉnh Tây Bắc có đặc điểm
giống Lào Cai.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, đề tài có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển nguồn nhân lực du
lịch.
Chương 2. Thực trạng và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch ở
Lào Cai.
Chương 3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch ở
Lào Cai.
12
sức khoẻ, năng lực thẩm mỹ, của người lao động. Trong đó, trí lực
và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực.
- Cơ cấu nguồn nhân lực: thể hiện trên các phương diện khác nhau
như cơ cấu về trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi, dân tộc…
Nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận không chỉ những người trong độ
tuổi lao động mà cả những người ngoài độ tuổi lao động. Nguồn nhân lực là
tổng thể các tiềm năng lao động sẵn sàng tham gia một công việc lao động
nào đó; nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất
lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và các năng lực phẩm chất khác),
tức là không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực hiện
tại, mà còn bao hàm của nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai của mỗi tổ
chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.
Từ những phân tích trên, khái niệm nguồn nhân lực trong luận văn này
được hiểu như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực tiềm ẩn của dân cư, khả
năng huy động tham gia vào nền sản xuất xã hội trong hiện tại cũng như
trong tương lai. Khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng
và cơ cấu dân số [6, tr. 26].
1.1.2. Các nội dung cơ bản của nguồn nhân lực
a. Số lượng nguồn nhân lực
Khi nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, địa phương hay
quốc gia nào thì vấn đề đầu tiên đặt ra là số lượng nguồn nhân lực. Nghĩa là tổ
chức, địa phương hay quốc gia có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu
người nữa trong tương lai. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên
hai nhóm yếu tố:
Thứ nhất là yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi
hỏi phải tăng số lượng lao động;
14
Thứ hai, các yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số
lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội
và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người. Phát triển nguồn nhân lực có thể
được nhìn nhận từ hai góc độ:
Thứ nhất, ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực của một địa
phương được hiểu là quá trình hoạch định nguồn nhân lực, đào tạo nguồn
nhân lực và quản lý nguồn nhân lực.
Thứ hai, ở góc độ của tổ chức, doanh nghiệp thì phát triển nguồn nhân
lực là quá trình đảm bảo, duy trì lực lượng lao động cần thiết giúp tổ chức,
doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình. Đó là một quá trình diễn ra liên tục
với hàng loạt các hoạt động như: dự báo nhu cầu, hoạch định, tuyển dụng, bố
trí công việc, đào tạo, đánh giá, đãi ngộ lao động.
Đối với Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực du lịch phải xuất phát từ
công cuộc đổi mới, phát huy thành tựu của đổi mới, gắn với Chiến lược phát
triển Du lịch và Quy hoạch phát triển nhân lực du lịch của cả nước và từng
địa phương. Phát triển nguồn nhân lực du lịch là trách nhiệm của toàn xã hội
trong đó nhà nước, nòng cốt là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, có trách
nhiệm quản lý và tạo điều kiện cho đào tạo và sử dụng hiệu quả nhân lực du
lịch; cơ sở đào tạo du lịch phải có trách nhiệm cung cấp nhân lực đạt yêu cầu
thị trường và doanh nghiệp du lịch phải sử dụng hợp lý và hiệu quả lao động
du lịch, khuyến khích và chủ động tích cực tham gia vào quá trình phát triển
nguồn nhân lực du lịch tại doanh nghiệp và mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề
du lịch. Thúc đẩy xã hội hoá giáo dục-đào tạo và thực hiện đào tạo theo nhu
cầu xã hội, theo nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của
người học, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, tạo cơ hội học tập suốt đời
cho mọi người, nhất là những người làm du lịch và có nhu cầu làm du lịch.
Trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá, phát triển nguồn nhân lực du lịch
phải đáp ứng yêu cầu quốc tế, từng bước đạt những tiêu chuẩn chung và được
16
thừa nhận trong khu vực và thế giới, tạo tiền đề cho tự do di chuyển lao động
ngành du lịch chỉ mới được chuẩn hoá trong thời gian gần đây.
Trước khi Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005, ở nước ta khái niệm “du lịch” cũng
được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc cách tiếp cận mỗi tác giả. Từ
khi có Luật Du lịch, khái niệm du lịch ở nước ta được sử dụng tương đối
thống nhất theo cách giải thích thuật ngữ của Luật. Luật Du lịch giải thích
khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu
cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất
định” [8, tr. 10].
Luật Du lịch cũng giải thích một số thuật ngữ liên quan khác của Du
lịch như sau:
- Hoạt động du lịch: Là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân
kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan đến du lịch.
- Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người với các giá trị
nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố
cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.
- Tham quan: Là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi
có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài
nguyên du lịch.
- Sản phẩm du lịch: Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu
cầu của khách du lịch trong chuyến đi.
18
- Dịch vụ du lịch: Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển,
lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác
nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. [8, tr. 10-11]
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc,
một hiện tượng lớn nhất trong lịch sử phát triển kinh tế của xã hội loài người.
Quá trình toàn cầu hóa tăng cường mạnh mẽ các mối quan hệ gắn kết, tác
động phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, mở rộng quy mô và cường độ các hoạt
động kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn
cầu trong sự vận động và phát triển. Toàn cầu hóa kinh tế giúp phá bỏ những
rào cản ngăn cách giữa các quốc gia, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế quốc tế, từ đó các quốc gia có thể tận dụng các cơ hội như
mở rộng thị trường, tiếp cận các nguồn vốn, các công nghệ kỹ thuật, tri thức
quản lý ưu việt từ các quốc gia tiên tiến. Với sự gia tăng mạnh mẽ của các
hoạt động xuyên biên giới, quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra,
nhiều cơ hội việc làm sẽ tạo ta cho người lao động ở các quốc gia có lợi thế
cạnh tranh. Chính vì vậy, ngay nguồn nhân lực cũng bị chịu sự tác động mạnh
mẽ và đa diện của toàn cầu hóa kinh tế. Lúc này nguồn nhân lực tốt, chất
lượng cao là tiền đề vững chắc và là nhân tố quyết định đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững, là nến tẳng vững chắc đảm bảo cho việc
chuẩn bị tốt và thực hiện thành công quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của
quốc gia.
Du lịch Việt Nam đang đứng trước những cơ hội to lớn nhưng thách
thức cũng không nhỏ. Chúng ta có nhiều lợi thế về cảnh quan thiên nhiên đẹp;
lịch sử, văn hóa giàu bản sắc; con người cần cù, hiếu khách; đất nước hòa
bình, chế độ chính trị ổn định, kinh tế liên tục phát triển, được bạn bè thế giới
bình chọn là “điểm đến an toàn, thân thiện”. Tuy nhiên, trong tương quan của
hội nhập quốc tế, Việt Nam phải chịu sự tác động mạnh mẽ trong bối cảnh
quốc tế biến động phức tạp. Sự phân công lao động quốc tế trong du lịch ở
20
khu vực và toàn cầu có cấu trúc, quy mô và cơ chế vận hành mới. Quá trình
phát triển kinh tế tri thức trong lĩnh vực dịch vụ diễn ra nhanh chóng, tạo ra
và dựa trên những lực lượng sản xuất và lợi thế phát triển mới, cạnh tranh về
lao động rất gay gắt. Chỉ có bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng về tương quan
sức khỏe, y tế…
- Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan đến hoạch
định chính sách, điều hành, quản lý và kiểm soát các dịch vụ phục vụ du lịch
như: cơ quan cấp phép, đăng ký kinh doanh, cơ quan quản lý tài nguyên, cơ
quan quản lý văn hóa, cơ quan bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội …
Trong khi đó cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch, như: các
gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của dân tộc ít người lại tham gia quá
trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Như vậy, xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao
gồm toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình
phục vụ khách du lịch. Do đó, khi đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực
ngành du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách
một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản lý, lao động làm
công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch. Trong
đó, lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn
nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến chất lượng sản phẩm du lịch.
1.2.3. Đặc điểm nguồn nhân lực du lịch
1.2.3.1. Những đặc điểm chung
Du lịch là một hoạt động gắn trực tiếp với con người, vì con người và
do chính con người quyết định công nghệ vận hành của ngành du lịch. Bởi du
lịch là ngành kinh tế mang tính phi sản xuất vật chất mà thông qua cung cấp
dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của khách. Chính vì vậy chất lượng lao động sẽ
quyết định chất lượng dịch vụ.
22
Một trong những đặc điểm của du lịch là quá trình sản xuất và tiêu thụ
diễn ra đồng thời do đó càng đặt ra yêu cầu cao đối với đội ngũ nhân viên
phục vụ. Đặc biệt, trong du lịch, mức độ chuyên môn hóa của lao động rất cao
bởi các hoạt động phục vụ du lịch có tính độc lập tương đối (hướng dẫn viên,
lễ tân khách sạn, nhân viên pha chế,…) dẫn đến đòi hỏi về trình độ kỹ thuật