Thực trạng và một số giải pháp marketing du lịch cho thành phố Đà Lạt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ LIÊN
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
MARKETING DU LỊCH CHO THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH HỌC HÀ NỘI – 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
___________________________________________________

5. Đóng góp của luận văn 4
6. Bố cục của luận văn 4

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐÀ LẠT VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH Ở ĐÀ LẠT

1.1. Sự hình thành và phát triển của thành phố Đà Lạt 5
1.1.1. Đà Lạt trước năm 1893 5
1.1.2. Đà Lạt sau chuyến thám hiểm của A. Yersin và thời kỳ đầu xây dựng 6
1.1.3. Đà Lạt thời kỳ được mệnh danh là “Thủ đô mùa hè” 8
1.1.4. Đà Lạt ngày nay 10

1.2. Tiềm năng và nguồn lực phát triển du lịch ở thành phố Đà Lạt. 12
1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 12
1.2.1.1. Vị trí địa lý 13
1.2.1.2. Địa hình, khí hậu, thuỷ văn 13
1.2.1.3. Tài nguyên động, thực vật 15
1.2.1.4. Cảnh quan tự nhiên và một số thắng cảnh nổi tiếng 16

1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 20
1.2.2.1 Các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, văn hoá ở Đà Lạt 20
1.2.2.2. Lễ hội dân gian truyền thống 23
1.2.2.3. Các nghề truyền thống 24

1.2.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 27
1.2.3.1. Mạng lưới giao thông vận tải 27
1.2.3.2. Hệ thống cung cấp điện, nước 28
1.2.3.3. Mạng lưới thông tin liên lạc 29


thành phố Đà Lạt 60
2.3.1. Những thành công và nguyên nhân 60
2.3.1.1. Những thành công 60
2.3.1.2. Nguyên nhân 62
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 63
2.3.2.1. Những hạn chế 63
2.3.2.2. Nguyên nhân 65

Chương 3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING DU LỊCH CHO ĐÀ LẠT

3.1 Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển du lịch của
thành phố Đà Lạt 68
3.1.1. Cơ hội 68
3.1.2. Thách thức 70

3.2. Định hướng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt
giai đoạn 2006 – 2010 72
3.2.1. Quan điểm phát triển 72
3.2.2. Định hướng phát triển 73
3.2.3. Mục tiêu phát triển 76

3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động marketing 77
3.3.1. Xác định mục tiêu marketing du lịch ở Đà Lạt 77
3.3.2. Xác định thị trường khách mục tiêu của Đà Lạt 79
3.3.3. Chiến lược marketing du lịch cho Đà Lạt trong thời gian tới 84
3.3.3.1. Phát triển hệ thống sản phẩm du lịch đặc thù đủ sức cạnh tranh
trên thị trường đồng thời đa dạng hoá và nâng cao chất lượng
sản phẩm du lịch 84
3.3.3.2. Sử dụng chính sách giá linh hoạt tạo thêm sức hút cho Đà Lạt 91

Đà Lạt khi xây dựng ở đây một trung tâm nghỉ dưỡng thật có ý nghĩa và rất
phù hợp với một thành phố trẻ trung, xinh đẹp này. Nhiều người còn cho rằng
xuất xứ tên Đà Lạt là từ việc ghép 5 chữ cái đầu tiên trong câu châm ngôn
trên.
Với khí hậu và phong cảnh đặc trưng, Đà Lạt được ví như một thành
phố của Châu Âu nằm giữa một đất nước nhiệt đới. Ngay từ khi phát hiện ra
cao nguyên Lang Bian, bác sĩ Alexandre Yersin đã đề nghị với toàn quyền
Đông Dương Paul Doumer xây dựng ở đây thành một thành phố nghỉ dưỡng.
Từ đó đến nay Đà Lạt được biết đến như một thành phố du lịch nghỉ dưỡng
mộng mơ và lý tưởng.
Thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng nằm gần khu vực kinh tế năng
động nhất của đất nước là thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ, lại
có chức năng du lịch định hình rõ nét và khá sớm, nên từ khi Việt Nam thực
hiện công cuộc đổi mới, du lịch Đà Lạt đã thu hút khá đông khách trong và
ngoài nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, du lịch Đà Lạt nói riêng
và cả nước nói chung cần phải tạo một vị thế, một hình ảnh, một thương hiệu
vững vàng trong khu vực và trên thế giới. Để làm được điều này cần sự góp
sức từ nhiều bộ, ngành và toàn xã hội, vì du lịch là một ngành kinh tế tổng
hợp, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hoá cao. Đặc biệt hơn, trong sự cố gắng từ ngay trong ngành, hoạt động
marketing du lịch cần được đẩy lên ở vị trí hàng đầu. 2
Hoạt động marketing du lịch không chỉ là quảng bá hình ảnh, giới thiệu
sản phẩm mà nó triển khai ngay từ việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm và
phát hiện ra nhu cầu đến việc xây dựng và quảng bá sản phẩm. Có thể nói
rằng hoạt động marketing du lịch ở Đà Lạt đến nay đã có những bước tiến
nhất định thể hiện ở công tác xúc tiến quảng bá du lịch: tham gia các hội chợ,

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổng quan du lịch ở Đà Lạt và thực
trạng hoạt động marketing du lịch của Đà Lạt, đồng thời nghiên cứu đưa ra
một số giải pháp marketing hiệu quả cho du lịch Đà Lạt.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về tiềm năng du lịch,
hoạt động marketing du lịch của thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng trong 5
năm gần đây và đề xuất giải pháp cho 5 năm tới.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: góp phần đẩy mạnh hoạt động marketing du lịch
cho Đà Lạt.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Thứ nhất là tìm hiểu tổng quan về Đà Lạt và
hoạt động du lịch ở đây. Thứ hai là nghiên cứu phân tích hiện trạng tổ chức
hoạt động marketing du lịch ở Đà Lạt, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu những
thách thức, cơ hội Thứ ba là vận dụng lí luận marketing vào thực tiễn, đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động marketing để phát
triển du lịch Đà Lạt tương xứng với tiềm năng của nó .
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Phương pháp so sánh 4
5. Đóng góp của luận văn
- Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Đà Lạt như một đô
thị với chức năng nghỉ dưỡng.
- Hệ thống hoá tài nguyên du lịch của Đà Lạt.
- Đánh giá thực trạng hoạt động marketing du lịch của thành phố Đà
5
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐÀ LẠT
VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH Ở ĐÀ LẠT

1.1. Sự hình thành và phát triển của thành phố Đà Lạt
1.1.1. Đà Lạt trước năm 1893
Đà Lạt trước năm 1893 là cao nguyên rộng lớn trải dài - cao nguyên
Lang Bian - có hình dáng như một hình elip với đường trục lớn theo hướng
Bắc – Nam. Cả một vùng rộng lớn ấy gồm nhiều ngọn đồi nằm kề, nối tiếp
nhau, sườn đồi này dốc thẳng đứng, sườn đồi kia dốc thoai thoải. Cả vùng đồi
núi này được phủ bởi lớp cỏ ngắn vào mùa khô, cao, dày vào mùa mưa và
thông tùng quanh năm xanh tốt. Dòng nước chảy theo nhiều hướng đa dạng,
nhiều suối thác, hồ ẩn mình dưới một lớp thảo mộc rậm rạp. Đỉnh núi cao
nhất của dãy Lang Bian cũng là đỉnh Lang Bian cao khoảng 2200m sừng sững
ở giữa như một hòn đảo nhỏ nổi lên giữa thông xanh và mây trắng.
Cư dân ở vùng đất này thưa thớt, một vài buôn làng nằm rải rác dưới
chân núi, chủ yếu là người Lạt, Cil và Srê. Cho đến bây giờ vẫn chưa có công
trình cụ thể nào nghiên cứu các bộ tộc này có mặt ở đây tự bao giờ, mà chỉ
ước đoán rằng họ xuất hiện trên cao nguyên này cách đây khoảng 400 -500
năm.
Sự phát hiện một số di chỉ đá mài quanh đèo Prenn thời gian qua cho
thấy từ rất xưa Đà Lạt đã có bóng dáng con người. Nhưng những người ấy có
quan hệ gì với người Lạt, Cil, Srê hay người Kinh thì còn phải chờ các công
trình nghiên cứu khoa học đầy đủ mới có thể xác định được. Song, có một
điều chúng ta có thể biết chắc chắn rằng Đà Lạt, tên gọi của vùng đất xinh đẹp
đàn nai lớn vụt bỏ chạy ra xa khi có tiếng động rồi ngoái lại nhìn một cách tò
mò.
Mặc dù bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ mà thơ mộng của cao
nguyên Lang Bian, nhưng vào lúc đó, chắc hẳn Yersin vẫn chưa ngờ rằng
vùng đất này sẽ có một tương lai rạng rỡ.
Vào những năm 1893 – 1894, chính quyền Pháp ở Đông Dương chưa
nghĩ đến việc thành lập các trạm điều dưỡng ở vùng núi. Họ chỉ chú ý đến
việc mở đường giao thông, khai thác tài nguyên vùng núi hoặc chinh phục các
bộ tộc người Thượng để củng cố cho sự bền vững của chế độ thuộc địa.
Sáng kiến thành lập các trạm nghỉ mát vùng núi ở Đông Dương được
Toàn quyền Paul Doumer đưa ra khi ông đến nhậm chức vào năm 1897.
Doumer đã học hỏi kinh nghiệm này từ thực dân Hà Lan ở Inđônêxia và nhất
là từ người Anh ở Ấn Độ. Trong hồi ký Đông Dương thuộc Pháp, ông viết:
“Trong tất cả các thuộc địa vùng nhiệt đới được cai trị một cách hợp lý,
người ta quan tâm đến việc tìm ra những vùng đất có khí hậu gần giống với
khí hậu Châu Âu để người da trắng có thể bảo tồn hay phục hồi sức lực. Các
trạm điều dưỡng ấy được sử dụng làm địa điểm nghỉ mát để khôi phục sức
khoẻ, được dùng làm nơi đặt các công sở, các cơ quan, các đạo quân không
bắt buộc phải bố trí ở các nơi khác”
1
.
Doumer rất mong muốn tìm một hay nhiều nơi tương tự dành cho công
chức và binh sĩ Pháp mệt mỏi, đau yếu vì khí hậu nhiệt đới, tránh được cái
nóng nung người ở đồng bằng, tận hưởng những giây phút yên tĩnh trong
không khí mát lành để phục hồi sức khoẻ. Ông bắt đầu quan tâm tìm kiếm
những nơi nghỉ ngơi như vậy cho người da trắng. Trong thư gửi cho các khâm
sứ, thống sứ, ông nêu 4 điều kiện cần thiết cho một trạm nghỉ dưỡng: độ cao
trên 1200m, nguồn nước dồi dào, đất đai canh tác được và khả năng thiết lập

1

công trình xây dựng được tiếp tục đầu tư: Lang Bian Palace (1916), nhà máy 9
điện, dưỡng viện thừa sai, trường học, bưu điện, kho bạc, nhà máy nước,
khách sạn và đặc biệt là một đồ án thiết kế thị xã được kiến trúc sư Hébrard
hoàn thành với ý đồ biến Đà Lạt thành thủ phủ của Đông Dương. Đà Lạt được
thể chế hoá như một thị xã nhưng với những dự định về tương lai muốn vươn
tới một trung tâm hành chính văn hoá và du lịch lớn của Đông Dương thì Đà
Lạt rất hấp dẫn đối với nhiều giới từ chính khách đến thương nhân.
Từ năm 1923 đến năm 1940, tốc độ xây dựng được đẩy nhanh, Đà Lạt
bắt đầu thật sự chuyển mình thành một thành phố nghỉ mát với hơn 400 biệt
thự và nhiều khách sạn lớn. Bệnh viện, trường học, hệ thống điện nước,
đường sá cơ bản được hoàn thành. Năm 1935 công ty Du lịch được thành lập,
năm 1936 xuất bản sách giới thiệu du lịch ở Đà Lạt và vùng ven bằng ba thứ
tiếng: Pháp, Anh và Hà Lan, phổ biến rộng rãi khắp Viễn Đông.
Từ năm 1940 đến năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai xảy ra, du
khách đổ xô lên Đà Lạt. Thành phố được mệnh danh là “Thủ đô mùa hè” của
Đông Dương. Tốc độ phát triển đô thị cao nhất từ trước đến nay: hơn 500 biệt
thự được xây cất trong vòng 5 năm bằng số biệt thự xây trong 30 năm trước.
Dinh Decoux (dinh II), nhà máy thuỷ điện Ankroet là những công trình tiêu
biểu lúc này.
Ngoài việc xây dựng đô thị, chính quyền còn chú trọng đời sống kinh tế
và văn hoá của Đà Lạt. Về kinh tế, các trục đường giao thông với miền xuôi,
miền ngược được sửa sang và mở rộng. Nhờ thế, việc lưu thông hàng hoá lên
Đà Lạt được nhanh chóng. Người Pháp cũng cho mở rộng diện tích trồng rau,
hoa, các khu dân cư được xây dựng nhiều.
Đời sống văn hoá con người Đà Lạt cũng phát triển nhanh chóng nhờ
hệ thống trường học khá phong phú, các công trình thể thao, các cơ sở lớn của
tôn giáo đều được xây dựng. Cảnh quan Đà Lạt ở khu trung tâm gần như hoàn

của thành phố. 11
Trên cơ sở những gì đang có, thành phố Đà Lạt xác định cho mình một
hướng đi trở thành một trung tâm du lịch văn minh, hiện đại. Năm 2002, Thủ
tướng Chính phủ đã có Quyết định số 409/CP phê duyệt điều chỉnh qui hoạch
chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2020. Theo qui hoạch này,
tính chất du lịch của thành phố Đà Lạt được điều chỉnh là Trung tâm nghỉ
dưỡng, hội nghị, hội thảo của cả vùng, cả nước và quốc tế; là trung tâm đào
tạo, nghiên cứu khoa học; trung tâm nông nghiệp sạch, sản xuất và chế biến
rau hoa chất lượng cao.
Với tiềm năng du lịch lớn và định hướng phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, thành phố Đà Lạt hiện có rất nhiều dự án đầu tư cho
du lịch. Từ đầu năm 2003 đến nay, đã có hơn 60 dự án đầu tư vào lĩnh vực du
lịch, trong đó có 45 dự án xây dựng khu du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng,
hội nghị, hội thảo. Khi các dự án hoàn thành sẽ có nhiều sản phẩm du lịch
mới, phong phú, đa dạng. Có nhiều dự án có chất lượng sản phẩm, dịch vụ
cao cấp, hấp dẫn như sân golf, đua ngựa, nghiên cứu thiên văn, dưỡng lão,
nghỉ dưỡng, chữa bệnh, phục hồi chức năng… Đặc biệt, với hai công trình
trọng điểm về du lịch là khu du lịch chuyên đề hồ Tuyền Lâm và khu du lịch
tổng hợp Đankia - Suối Vàng sẽ tạo nên một bộ mặt mới cho du lịch Đà Lạt.
Xây dựng khu du lịch hồ Tuyền Lâm là một trong 22 khu du lịch
chuyên đề của cả nước, Đà Lạt đồng thời cũng xác định phấn đấu phát triển
đây là một đô thị sinh thái, với mục đích khai thác lợi thế của hồ, núi, cảnh
quan, thác nước và tín ngưỡng của Thiền Viện Trúc Lâm phục vụ đông đảo
khách du lịch trong nước và quốc tế muốn du lịch nghỉ dưỡng dài ngày ở đây.
Dự án tiến hành xây dựng các công trình du lịch, dịch vụ trên hồ, dọc sườn
núi,… đặc biệt là khu vực Thiền Viện và phụ cận thì phải giữ được không khí
mát mẻ, yên tĩnh, có cảnh quan hấp dẫn.
13
thể phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch. Với thành phố Đà Lạt, tài nguyên
du lịch tự nhiên quả là một lợi thế so sánh khi phát triển sản phẩm du lịch đặc
thù. Vị trí địa lý, cấu trúc địa hình, chế độ khí hậu, thảm che phủ thực vật đã
tạo cho thành phố Đà Lạt những thế mạnh rất lớn trong việc phát triển du lịch.

1.2.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng – là một tỉnh nằm ở phía Nam
Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc; Đông và Đông Bắc giáp các tỉnh
Khánh Hoà, Ninh Thuận; Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bình Thuận, Tây Nam
giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông. Đà
Lạt nằm trên cao nguyên cao nhất của vùng đất Tây Nguyên – cao nguyên
Lâm Viên - Di Linh (cao 1500m so với mặt nước biển). Với diện tích khoảng
424 km
2
, thành phố Đà Lạt gần các trung tâm công nghiệp, thương mại lớn,
các khu chế xuất ở miền Nam với đường giao thông thuận tiện, nên có nhiều
thuận lợi phát triển du lịch. Từ thành phố Hồ Chí Minh, theo quốc lộ 20,
khoảng 300km là đến Đà Lạt. Từ các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có thể
theo đường quốc lộ 28 (Bình Thuận - Đà Lạt ), đường 11 (Ninh Thuận - Đà
Lạt) và sắp tới là đường DT723 (Nha Trang - Đà Lạt); các tỉnh Tây Nguyên
đến Đà Lạt theo quốc lộ 27.
1.2.1.2. Địa hình, khí hậu, thuỷ văn
Địa hình: Thành phố Đà Lạt trên cao nguyên 1500m so với mặt nước
biển, cấu trúc địa hình rất đa dạng, đồi núi xen kẽ với bình nguyên và thung
lũng tạo thành nhiều hồ thác hết sức hùng vĩ và thơ mộng. Phía Bắc có dãy
Lang Bian với đỉnh cao nhất là 2167m, phía Tây và Nam là dãy núi Voi cao
1756m, ngọn Lap-Benord (cao 1732m) phía Đông Bắc và ngọn Dansena (cao

mù” hay “thành phố mờ sương”. Một ngày Đà Lạt có đủ bốn mùa: sáng là
mùa xuân rực rỡ, trưa là hè óng ả, chiều là thu lãng đãng và tối là đông co ro.
Gió ở đây cũng rất hào phóng, những cơn gió nhẹ mát rượi làm cho không khí
thêm phần thoáng đãng trong lành.
Nhìn chung, khí hậu Đà Lạt tuy mang những đặc điểm chung nhất của
khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, song lại có đặc điểm riêng của vùng cao 15
nguyên nên khá ôn hoà. Với khí hậu này cùng với nhiều yếu tố khác về địa
hình về môi trường, chứng tỏ Đà Lạt có đủ điều kiện để xây thành một thành
phố nghỉ dưỡng và phát triển được nhiều loại hình du lịch.
Điều kiện thuỷ văn: nhiều người cho rằng sở dĩ Đà Lạt có một nguồn
nước khá dồi dào và phong phú là nhờ có nhiều dải núi rừng vây bọc. Ở phía
Bắc Đà Lạt có khá nhiều con suối lớn đổ vào hồ Suối Vàng, phía Đông có
nhiều con suối nhỏ đổ vào thượng nguồn sông Đa Nhim, ở phía Nam các con
suối đổ về suối Đạ Tam như dòng Đatanla, dòng Prenn góp phần tạo nên
nhiều khung cảnh thiên nhiên thơ mộng cho thành phố cao nguyên này. Chảy
qua khu trung tâm Đà Lạt có suối Cam Ly bắt nguồn từ phía Đông Bắc thành
phố, xuôi về hồ Đa Thiện đến hồ Xuân Hương, sau đó đổ về thác Cam Ly.
Đà Lạt nổi tiếng là thành phố của hồ và thác, song phần lớn hồ ở đây là
hồ nhân tạo. Từ những thung lũng nhỏ, người dân đắp đập ngăn dòng chảy
tạo thành hồ chứa nước vừa để nước sinh hoạt, vừa để cung cấp nước tưới cho
ruộng đồng, tạo nên những thắng cảnh nên thơ của thành phố.

1.2.1.3. Tài nguyên động, thực vật
Nói đến Đà Lạt, trước hết phải nói đến tài nguyên rừng, rừng của Đà
Lạt có một ý nghĩa hết sức quan trọng, chính rừng quyết định sự sống còn của
thành phố du lịch, nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó rừng còn là nhân tố quyết định
đến môi trường sinh thái và nguồn nước dự trữ cho địa phương và cả khu vực.

Những triền đồi nhấp nhô với những rặng thông xanh và thảm cỏ mượt,
những thác nước ầm ào và những hồ nước yên bình, những đồi cao và thung
lũng mộng mơ… tất cả làm cho Đà Lạt có một sức sống riêng và rất hấp dẫn
khách du lịch. 17
Hồ Xuân Hương: Hồ Xuân Hương rộng khoảng 38ha có hình dáng
mảnh trăng lưỡi liềm, là hồ đẹp nhất, ở trung tâm thành phố Đà Lạt. Mặt hồ
phẳng lặng, trong vắt tựa chiếc gương soi, chỉ gợn vài đợt sóng lăn tăn khi có
cơn gió nhẹ thổi qua. Viền quanh hồ là con đường nhựa uốn lượn và bờ cỏ
xanh mượt điểm những cây thông, tùng, anh đào, liễu rủ, tất cả tạo nét duyên
dáng đặc biệt cho hồ và cho thành phố. Hồ Xuân Hương không mang trên
mình nhiều huyền thoại như một số địa danh khác của Đà Lạt. Đây là một hồ
nhân tạo được xây dựng từ năm 1919 với cái tên Pháp là Gran Lake. Năm
1953, theo chủ trương của chính quyền Ngô Đình Diệm cho Việt hoá một số
địa danh ở miền Nam nên hồ đã được mang một cái tên mới là hồ Xuân
Hương. Tên Xuân Hương có ý nghĩa là hương thơm mùa xuân. Nhưng cũng
có ý kiến cho rằng, hồ được lấy tên của nữ sĩ tài hoa – bà chúa thơ nôm nổi
tiếng của Việt Nam - Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân Hương là danh thắng đầu
tiên của Đà Lạt được công nhận là di tích cấp quốc gia.
Đồi Cù: nhiều người cho rằng Đà Lạt sẽ kém phần mỹ lệ nếu thiếu đồi
Cù và hồ Xuân Hương. Đồi Cù như một tấm thảm cỏ xanh mượt trải dài, nhấp
nhô xen lẫn hồ nước nhỏ và những cây thông, cây tùng. Tên đồi Cù không
biết có từ khi nào, nhưng có nhiều cách lý giải hóm hỉnh về tên gọi này. Nếu
nhìn từ xa, những quả đồi ở đây trông giống tấm lưng trần khổng lồ của
những con Cù, cũng có người cho rằng nơi đây là địa điểm chơi golf, hay gọi
là đánh Cù nên có tên là đồi Cù.
Ngay từ năm 1942, khi thiết kế đồ án qui hoạch thành phố Đà Lạt, một
kiến trúc sư người Pháp đã khoanh vùng đồi Cù thành một khu vực thoáng

hoa đua sắc. Chỉ hoa hồng thôi đã kiêu sa rực rỡ đủ màu : trắng, vàng, hồng
bạch, thiên thanh, xác pháo…bên cạnh cẩm chướng, cẩm tú cầu, tuy-lip, cúc
Nhật, đỗ quyên, trà mi muôn màu. Giống Begonia Rex được đưa từ Ý về lá

2
Trương Phúc Ân – “Bí mật thành phố hoa Đà Lạt”, NXB Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh

Trích đoạn Định hướng phát triển du lịch giai đoạn 2000 – 2005 Chiến lược marketing du lịch của giai đoạn 2000 – 2005 Thực trạng về giá Hệ thống phân phối sản phẩm du lịch Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status