MỞ ĐẦU
Vốn là một yếu tố cần thiết và quan trọng để tiến hành sản xuất kinh doanh
đồng thời nó cũng là tiền đề để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển, đứng vững trong
cơ chế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung chế
độ cấp phát và giao nộp sản phẩm đã không chú trọng đến vai trò của vốn cũng như
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong tình hình mới, cùng với sự chuyển đổi cơ chế
kinh tế là quá trình mở rộng quyền tự chủ, giao vốn cho các doanh nghiệp tự quản lý
và sử dụng, đòi hỏi các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn. Điều này đã tạo nên
những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh năng động thích nghi với cơ chế thị
trường đã sử dụng vốn có hiệu quả còn không ít những doanh nghiệp gặp khó khăn
bởi việc sử dụng vốn kém hiệu quả. Vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đối với các
doanh nghiệp là vấn đề cấp bách hiện nay. Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm là
một doanh nghiệp đã tự khẳng định mình bằng các kết quả sản xuất kinh doanh mà
Công ty đạt được trong thời gian qua. Công ty đã đạt được những thành tựu nhất định
trong quá trình đổi mới.Việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề
đang được Công ty quan tâm.
Với những ý nghĩ trên, qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Liên Hợp
Thực Phẩm em đã chọn chuyên đề tốt nghiệp là : "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm".
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đối
với các doanh nghiệp.
Chương 2 : Thực trạng sử dụng vốn của Công ty cổ phần Liên Hợp Thực
Phẩm thời gian qua.
Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty
cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm.
Do trình độ lý luận và thực tiễn có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo, các cô chú, anh chị trong
Công ty cổ phần Liên Hợp Thực Phẩm cùng toàn thể các bạn.
CHƯƠNG 1
chuyển vốn. Sự vận động của vốn sản xuất kinh doanh theo sơ đồ :
TLLĐ
T H SX H' T'
ĐTLĐ
(T' > T)
Bắt đầu là hình thái vốn tiền tệ sang hình thái vốn sản xuất (TLLĐ, ĐTLĐ).
Sau quá trình sản xuất vốn chuyển hoá thành hình thái vốn hàng hoá. Cuối cùng trở
lại hình thái vốn tiền tệ.
Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
nên cùng một lúc vốn của doanh nghiệp tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
2. Phân loại vốn sản xuất:
Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau về mặt giá trị của vốn sản xuất,
có thể chia nó thành 2 loại : vốn cố định và vốn lưu động.
2.1. Vốn cố định:
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm:
Vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư
liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất.
Vốn cố định là biểu hiện thành giá trị của những máy móc, thiết bị, nhà
xưởng... tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng về mặt giá trị của nó lại
không chuyển hết một lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần trong nhiều chu
kỳ sản xuất.
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu của vốn sản xuất, nó
quyết định trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý, sử dụng nó
là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang trí kỹ thuật - "hệ thống xương và
bắp thịt" của sản xuất kinh doanh.
Tài sản cố định là tư liệu lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình
sản xuất. Song, không phải tất cả các tư liệu lao động trong doanh nghiệp đều là tài
sản cố định mà tài sản cố định chỉ gồm những tư liệu chủ yếu có đủ tiêu chuẩn về mặt
gồm có: Quyền sử dụng đất; Quyền phát hành; Bản quyền, bằng sáng chế; Nhãn hiệu
hàng hóa; Phần mềm máy vi tính; Giấy phép và giấy nhượng quyền; TSCĐ vô hình
khác.
b. Tài sản cố định hữu hình:
Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể. Thuộc về loại này gồm có: Nhà
cửa vật kiến trúc; Máy móc thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; Thiết bị,
dụng cụ dùng cho quản lý; Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; Tài
sản cố định hữu hình khác.
Cơ cấu vốn cố định chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó chủ yếu là các
nhân tố: Đặc điểm về kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, sự tiến bộ kỹ thuật, trình độ
tổ chức sản xuất, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bố sản xuất. Khi xây dựng và cải
tiến cơ cấu vốn cố định cần chú ý xem xét tác động ảnh hưởng của các nhân tố này.
2.1.3 - Quản lý vốn cố định:
a. Hao mòn và khấu hao tài sản cố định:
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh hoặc không sử
dụng, tài sản cố định đều bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần về giá trị của tài sản cố
định. Có hai loại hao mòn tài sản cố định là:
* Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
- Hao mòn hữu hình:
Là sự hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, bị ăn mòn bị hư
hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình của TSCĐ hữu hình có thể diễn ra 2 dạng dưới
đây:
+ Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng.
+ Hao mòn do tác động của thiên nhiên (độ ẩm, hơi nước, không khí…) không
phụ thuộc vào việc sử dụng.
Do có sự hao mòn hữu hình nên TSCĐ mất dần giá trị và giá trị sử dụng lúc
ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một tài sản khác.
- Hao mòn vô hình:
Là sự giảm giá trị của TSCĐ hữu hình do tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hao mòn
vô hình xảy ra do TSCĐ hữu hình bị lỗi thời về kỹ thuật, còn gọi là hao mòn về kinh
trong năm kế hoạch. Từ đó tính được số tiền trích khấu hao năm kế hoạch.
Việc tính khấu hao TSCĐ có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau,
theo quy định hiện hành (QĐ số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài
chính) có ba phương pháp khấu hao:
- Phương pháp khấu hao đường thẳng.
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Căn cứ vào khả năng đáp ứng các điều kiện áp dụng quy định cho từng phương
pháp trích khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp trích khấu
hao phù hợp với từng TSCĐ của doanh nghiệp. Trong các phương pháp khấu hao trên
phương pháp khấu hao áp dụng phổ biến là phương pháp khấu hao đường thẳng (khấu
hao đều theo thời gian)
c . Bảo toàn và phát triển vốn cố định:
Bảo toàn vốn sản xuất nói chung, vốn cố định nói riêng là điều kiện tồn tại và
phát triển của mỗi doanh nghiệp. Kinh doanh ít nhất phải đảm bảo hoà vốn, bù đắp
được số vốn đã bỏ ra để tái sản xuất giản đơn. Đồng thời doanh nghiệp phải kinh
doanh có lãi để tự tích luỹ bổ sung vốn, tạo vốn cho tái sản xuất mở rộng.
Vốn cố định được bảo toàn có nghĩa là trong quá trình vận động, dẫu nó được
biểu hiện dưới hình thái nào, nhưng khi kết thúc một chu trình tuần hoàn thì vốn được
tái lập ít nhất cũng bằng qui mô cũ để có thể trang bị lại tài sản giá trị bằng hoặc hơn
cũ ở thời gian hiện tại. Về mặt hiện vật, tài sản cố định không được mất mát, hư hỏng
trước thời hạn, không sử dụng sai mục đích, duy trì và nâng cao năng lực hoạt động
của tài sản cố định. Về mặt giá trị, người sử dụng vốn phải duy trì giá trị đồng vốn của
mình, không bị ăn chia vào vốn, không tạo lãi giả làm giảm vốn.
2.2 - Vốn lưu động:
2.2.1 - Khái niệm và đặc điểm:
Các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tư liệu lao động
phải có đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất
không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động
sẽ thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể sản phẩm, bộ phận khác hao phí
* Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lưu động chia làm 3 loại:
- Vốn dự trữ: Là bộ phận vốn dùng để mua nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng
thay thế... để dự trữ và chuẩn bị đưa vào sản xuất.
- Vốn trong sản xuất: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn sản xuất
như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
- Vốn lưu thông: Là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lưu thông như
thành phẩm, tiền mặt...
Theo cách phân loại này có thể thấy vốn dự trữ và vốn lưu thông không tham
gia trực tiếp vào sản xuất. Vì vậy phải hết sức hạn chế khối lượng vật liệu cũng như
thành phẩm tồn kho. Đối với vốn trong sản xuất phải chú ý tăng khối lượng sản phẩm
đang chế tạo với mức hợp lý.
* Dựa theo hình thái biểu hiện và theo chức năng của các thành phần vốn lưu
động có thể chia thành 2 loại:
- Vốn vật tư hàng hoá: Là biểu hiện bằng tiền của giá trị các loại vật tư, hàng
hoá như nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở
dang, thành phẩm...
- Vốn tiền tệ: Là bộ phận vốn lưu động biểu hiện dưới hình thái tiền tệ như tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, tạm ứng...
Các phân loại này giúp các doanh nghiệp có cơ sở để tính toán và kiểm tra kết
cấu tối ưu của vốn lưu động để dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số
vốn lưu động đã bỏ ra.
2.2.3- Quản lý vốn lưu động:
a. Xác định vốn lưu động định mức kỳ kế hoạch:
Vốn lưu động định mức là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết thường xuyên cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn lưu động định mức quá thấp sẽ gây khó khăn cho tính liên tục của quá
trình sản xuất. Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ gây ra những tổn thất như sản xuất bị đình
trệ, không đáp ứng được nhu cầu khách hàng, không đủ tiền thanh toán kịp thời nên
trong quan hệ mua bán bị mất tín nhiệm. Ngược lại, vốn lưu động định mức quá cao
gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hoá, lãng phí vốn, vốn lưu động chậm luân
hiểm
* Vốn lưu động định mức ở khâu sản xuất:
Vốn lưu động định mức ở khâu sản xuất được xác định riêng cho sản phẩm dở
dang, nửa thành phẩm tự chế và chi phí chờ phân bổ.
- Đối với vốn lưu động cho sản phẩm dở dang:
- Vốn lưu động cho phi chí chờ phân bổ:
Định mức Mức dư đầu năm Số phát sinh Số phải
vốn lưu động
cho chi phí
chờ phân bổ
= chi phí
chờ phân bổ
+ chi phí
chờ phân bổ
+ chi phí
chờ phân bổ
* Vốn lưu động định mức ở khâu lưu thông:
Vốn lưu động định mức ở khâu lưu thông gồm vốnlưu động định mức cho
thành phẩm và hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm.
- Vốn lưu động định mức cho thành phẩm được xác định theo công thức:
Định mức Tổng mức luân Hệ số Chu kỳ
vốn lưu động
cho SPDD
= chuyển cả năm của
thành phẩm (tính theo
giá thành công xưởng)
360
x sản phẩm
dở dang
x sản xuất
Vốn lưu động; định mức hàng; hoá mua ngoài; cho tiêu thụ = Error! x Error!
b. Kế hoạch nguồn vốn lưu động định mức:
Vốn lưu động định mức của doanh nghiệp công nghiệp được hình thành từ 2
nguồn chính là:
- Vốn tự có và coi như tự có của doanh nghiệp.
- Vốn đi vay.
Vốn lưu động định mức năm kế hoạch được xác định căn cứ vào tình hình thực
tế vốn lưu động năm trước và nhu cầu vốn lưu động định mức năm kế hoạch. Nếu
năm trước doanh nghiệp đã sản xuất kinh doanh và đã có một lượng vốn lưu động
nhất định thì năm kế hoạch chỉ cần lập kế hoạch nguồn vốn lưu động nhằm tính ra
mức thừa, thiếu so với nhu cầu vốn lưu động định mức năm kế hoạch. Số vốn lưu
động tự có cần thiết cho năm kế hoạch trước hết bù đắp bằng số vốn lưu động tự có và
coi như tự có năm trước chuyển sang.
c. Bảo toàn và phát triển vốn lưu động:
Để duy trì và phát triển sản xuất, các doanh nghiệp phải thực hiện bảo toàn và
phát triển vốn lưu động.
Sự luân chuyển và chuyển hoá của vốn lưu động thường chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố tác động khách quan và chủ quan làm cho vốn lưu động của doanh
nghiệp giảm sút dần. Đó là các yếu tố như hàng hoá kém phẩm chất không tiêu thụ
được, những rủi ro bất thường trong sản xuất kinh doanh, nền kinh tế có lạm phát, vốn
lưu động bị chiếm dụng... Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động bảo toàn và phát
triển vốn lưu động nhằm đảm bảo duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, thực chất
là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ đủ mua ít nhất một lượng vật tư hàng hoá tương đương
với đầu kỳ khi giá cả tăng lên.
Để thực hiện tốt chế độ bảo toàn và phát triển vốn lưu động đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự bảo toàn và phát triển vốn ngay trong quá trình sản xuất kinh doanh
trên cơ sở mức giảm, tăng giá tài sản lưu động, thực tế tồn kho của các doanh nghiệp
ở các thời điểm có thay đổi về giá hàng tháng, quí, năm. Định kỳ tháng, quý, năm các
doanh nghiệp phải xác định khoản chênh lệch giá trị tài sản lưu động thực tế tồn kho ở
các khâu: Vật tư dự trữ, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chênh lệch tỉ giá số dư
thời cho kinh doanh. Nếu doanh nghiệp đạt được một tỉ suất lợi nhuận cao thì việc
huy động vốn bằng đi vay có lợi nhất. Tuy nhiên, nếu tỉ suất lợi nhuận thấp thì đây là
gánh nặng cho giá thành sản phẩm.
c. Nguồn vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu:
Đối với loại hình Công ty cổ phần, để tăng thêm vốn sản xuất Công ty có thể
phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây cũng là một nguồn vốn thường xuyên để bổ sung
cho doanh nghiệp nên nó cũng được coi là vốn tự có.
Doanh nghiệp có uy tín sẽ thu hút nhiều cổ đông tham gia mua cổ phiếu. Tuy
nhiên, khi doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả các cổ đông rút vốn dễ dẫn đến phá
sản nhanh.
d. Nguồn vốn liên doanh liên kết:
Để huy động vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể thực
hiện việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác. Nó góp phần huy động một
lượng vốn trên cơ sở sự góp vốn của các bên, cùng làm cùng hưởng và cùng chịu
trách nhiệm.
e. Nguồn vốn trong thanh toán:
Nguồn vốn trong thanh toán gồm:
- Các khoản phải nộp, phải trả trong doanh nghiệp: Các khoản này tuy không
lớn nhưng nó giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu vốn mang tính tạm thời. Đó là các
khoản như thuế phải nộp chưa nộp, các khoản phải trả công nhân viên, người mua
ứng trước, các khoản phải trả cho các đơn vị nội bộ.
- Tín dụng nhà cung cấp: Nguồn vốn này được các doanh nghiệp khai thác
trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Đây là phương thức huy
động vốn tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh. Nó tạo ra khả năng mở rộng các quan
hệ hợp tác kinh doanh lâu bền. Tuy nhiên sẽ rủi ro nếu qui mô tài trợ vượt quá giới
hạn an toàn.
II. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN:
1. Khái niệm về hiệu quả:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = --------------------------------------------
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Số vốn cố định Đ.kỳ + Số vốn cố định C.kỳ
Số vốn cố định BQ trong kỳ = -----------------------------------------------------
2
Số vốn cố định = Nguyên giá TSCĐ - Số tiền khấu hao luỹ kế
đầu kỳ (cuối kỳ) đầu kỳ (cuối kỳ) đầu kỳ (cuối kỳ)
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Hàm lượng vốn cố định = ----------------------------------------------
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra 1 đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng
cần bao nhiêu đồng vốn cố định.
- Tỉ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
LN trước thuế (hoặc sau thuế thu nhập)
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = -------------------------------------------------
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
* Các chỉ tiêu phân tích:
- Hệ số hao mòn tài sản cố định: Phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố định
trong doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu:
Số tiền khấu hao luỹ kế
Hệ số hao mòn TSCĐ = --------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Phản ánh 1 đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu hoặc giá trị tổng sản lượng.
-
Doanh thu (giá trị tổng sản lượng)
Hiệu suất sử dụngTSCĐ = ------------------------------------------------
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
- Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân sản xuất trực tiếp: Phản ánh giá trị
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
- Số vòng quay vốn lưu động: Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu
động, nó cho biết vốn lưu động quay bao nhiêu vòng trong kỳ. Vòng quay vốn càng
nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rút ngắn, vốn lưu động càng được sử dụng
có hiệu quả.
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay vốn lưu động = -----------------------------------
Vốn lưu động bình quân
Thời gian của kỳ phân tích
Thời gian của một = -------------------------------------------------
(vòng luân chuyển) Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được 1 vòng.
Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn.
Vốn lưu động bình quân
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = -----------------------------------
Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết để có được 1 đồng doanh thu thì cần mấy đồng vốn lưu
động. Hệ số này càng nhỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
* Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính:
Tổng số nợ
Chỉ số mắc nợ = -------------------------------
Tổng số vốn (tài sản có)
Chỉ số này càng thấp thì mức độ độc lập về tài chính càng cao vì số tài sản hiện
có được đầu tư bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
3 Tài sản lưu động
Khả năng thanh toán ngắn hạn = ----------------------------
Nợ ngắn hạn
Chỉ số này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp là cao hay thấp. Nếu chỉ số này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có đủ khả năng
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là khả quan.
Vốn lưu động bình quân 4 quí
Vốn lưu động bình quân năm = ---------------------------------------
4
3. Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để đạt tới lợi nhuận tối đa các doanh
nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh trong đó
quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả
và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thông qua các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động được xác
định bằng cách so sánh giữa kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh như
doanh thu, lợi nhuận... với số vốn cố định, vốn lưu động để đạt kết quả đó. Hiệu quả
sử dụng vốn cao nhất khi số vốn bỏ vào kinh doanh ít nhất và đạt kết quả cao nhất.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là đi tìm các biện pháp làm sao cho chi phí về vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh ít nhất mà kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh cao nhất. Lợi nhuận được xác định qua công thức:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Với một mức doanh thu nhất định, chi phí càng nhỏ lợi nhuận càng cao. Các
biện pháp làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải trên
cơ sở phản ánh chính xác, đầy đủ các loại chi phí trong điều kiện nền kinh tế luôn có
sự biến đổi về giá, để đảm bảo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử
dụng vốn chính xác, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm ngặt các chế độ
bảo toàn về vốn.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao năng lực quản lý các
loại tài sản, tận dụng các lợi thế của doanh nghiệp, phát huy khả năng tiềm tàng để tạo
ra sự phát triển của doanh nghiệp. Với số vốn cố định, vốn lưu động hiện có việc nâng
cao hiệu quả sử dụng có nghiã là sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng
tốt, giá thành hạ, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, thanh toán các khoản nợ một cách kịp
thời.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng
Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm, từ đó tác động
đến lợi nhuận, vòng quay của vốn.
Nếu sản phẩm là tư liệu tiêu dùng, nhất là sản phẩm công nghiệp nhẹ như bia,
rượu, thuốc lá sẽ có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn
nhanh. Ngược lại, nếu sản phẩm có vòng đời dài, giá trị lớn trên mỗi đơn vị sản
phẩm ... thì sẽ thu hồi vốn chậm, hạn chế tăng doanh thu.
1.4 - Trình độ quản lý, hạch toán nội bộ doanh nghiệp:
Trình độ quản lý của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kết quả, hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Quản lý tốt đảm bảo cho quá trình đó tiến hành thông suốt, đều đặn,
nhịp nhàng giữa các khâu, các bộ phận, các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp. Từ đó
hạn chế tình trạng ngừng việc của máy móc thiết bị, vật tư, tiết kiệm các yếu tố sản
xuất, tăng tốc độ luân chuyển của vốn.
Mặt khác, công tác hạch toán kế toán dùng các công cụ để tính toán các chi phí
phát sinh , đo lường hiệu quả sử dụng vốn. Từ đó phát hiện những tồn tại trong quá
trình sử dụng vốn và đề xuất những biện pháp giải quyết.
1.5 - Trình độ lao động của doanh nghiệp:
Trình độ lao động thể hiện qua trình độ tay nghề, khả năng tiếp thu công nghệ
mới, khả năng sáng tạo, ý thức giữ gìn bảo quản tài sản. Nếu lao động có trình độ cao
thì các máy móc thiết bị sẽ được sử dụng tốt, năng suất chất lượng tăng.
Tuy nhiên, để phát huy tiềm năng lao động doanh nghiệp phải có cơ chế
khuyến khích vật chất cũng như trách nhiệm một cách công bằng.
1.6 - Các chính sách vĩ mô:
Trên cơ sở pháp luật, các chính sách kinh tế, Nhà nước tạo ra môi trường cho
các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Sự thay đổi trong chế độ chính sách
đều tác động đến doanh nghiệp. Đối với hiệu quả sử dụng vốn thì các qui định như
thuế vốn, thuế doanh thu, thuế lợi tức, khấu hao... đều có thể làm tăng hay giảm hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.7 - Biến động về thị trường đầu vào, đầu ra:
Biến động về thị trường đầu vào là các biến động về tư liệu lao động, là những
thay đổi về máy móc, công nghệ... nó có thể giúp cho doanh nghiệp lựa chọn công
doanh liên kết hoặc cho các doanh nghiệp khác vay thì cần thận trọng thẩm tra các dự
án liên doanh, tư cách khách hàng để liên doanh có hiệu quả, vốn không bị chiếm
dụng.
2.3 - Tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh:
Điều hành và quản lý tốt sản xuất kinh doanh được coi là một giải pháp quan
trọng nhằm đạt kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao. Tổ chức tốt quá trình sản
xuất kinh doanh tức là đảm bảo cho quá trình đó được tiến hành thông suốt, đều đặn,
nhịp nhàng giữa các khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và đảm bảo sự
phối hợp ăn khớp, chặt chẽ giữa các bộ phận, đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp. Các
biện pháp điều hành và quản lý sản xuất kinh doanh phải nhằm hạn chế tối đa tình
trạng ngừng việc của máy móc, thiết bị, ứ đọng thành phẩm, hàng hoá, gây lãng phí
các yếu tố sản xuất và làm chậm tốc độ luân chuyển vốn.
2.4 - Áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doan:
Trong điều kiện cách mạng công nghệ, việc mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất kinh doanh là một trong những lợi thế và khả năng phát triển của doanh
nghiệp.
Kỹ thuật tiến bộ và công nghệ hiện đại là điều kiện vật chất để doanh nghiệp
sản xuất ra những sản phẩm mới hợp thị hiếu, chất lượng cao. Từ đó doanh nghiệp có
thể tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng lợi nhuận. Nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ
doanh nghiệp có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên vật liệu
hoặc sử dụng các loại vật tư thay thế nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi
phí vật tư, hạ giá thành sản phẩm.
2.5 - Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích hoạt động kinh tế:
Qua số liệu, tài liệu kế toán, đặc biệt là các báo cáo kế toán tài chính doanh
nghiệp thường xuyên nắm được số vốn hiện có về mặt giá trị và hiện vật, nguồn hình
thành và các biến động tăng, giảm vốn trong kỳ, mức độ đảm bảo vốn lưu động, tình
hình và khả năng thanh toán... Nhờ đó doanh nghiệp đề ra các giải pháp đúng đắn để
xử lý kịp thời các vấn đề tài chính nhằm đảm bảo cho qúa trình kinh doanh được tiến
hành thuận lợi theo kế hoạch đề ra.
CHƯƠNG 2
sản phẩm này của Công ty không những chỉ đáp ứng được nhu cầu thị trường trong
nước mà còn đáp ứng thị trường xuất khẩu một số nước ở Đông Âu như Liên Xô cũ,
Đức, Ba Lan…Tuy nhiên khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế tự túc sang nề
kinh tế thị trường thì Nhà máy đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn như: Các
mặt hàng truyền thống không còn phù hợp, việc tiêu thụ hàng sản xuất ra rất chậm và
với số lượng ít, thị trường xuất khẩu thì giảm sút liên tục và dừng hẳn vào cuối năm
1989 đầu năm 1990.
3. Thời kỳ sau đổi mới 1989 - 2005: Đây là thời kỳ bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới của nước ta:
Tháng 5 năm 1989 Nhà máy đã tìm cho mình một hướng đi mới là đưa vào sản
xuất thêm sản phẩm bia, nước giải khát được chuyển giao công nghệ từ Viện công
nghệp thực phẩm Hà Nội. Với môi trường kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt bởi nhiều
doanh nghiệp sản xuất bia, nước giải khát ra đời Nhà máy chọn con đường đổi mới
công nghệ từng phần. Quá trình đầu tư tới năm 2005 gồm 3 bước.
- Bước 1 (1989 - 1993): Nhà máy động viên cán bộ công nhân viên sửa chữa,
nâng cấp những máy móc còn có thể khai thác được. Mặt khác nhà máy đầu tư dây
chuyền sản xuất nước giải khát và dây chuyền sản xuất bia chai của Trung Quốc.
- Bước 2 (1993 - 1997): Nhà máy đầu tư bồn lên men 12,5 m
3
/ tank, bồn lên
men 40,5m
3
và nâng cấp hệ thống nồi nấu nhằm nâng công suất Nhà máy 2 - 5 triệu
lít/năm. Từ tháng 10 năm 1997, Nhà máy đổi tên là "Công ty Liên Hợp Thực Phẩm".
- Bước 3 (1997 - 2005): Công ty tiếp tục đầu tư máy móc thiết bị mới như: bồn
lên men 90m
3
, dây chuyền bia chai công suất 8.000chai/h của Cộng hoà Liên bang
Đức, dây chuyền nấu công suất 12.000lít/mẻ nấu để tăng công suất lên 10 –15 triệu
lít/ năm.