Di tích kiến trúc Hội An trong tiến trình lịch sử - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TẠ THỊ HOÀNG VÂN

DI TÍCH KIẾN TRÚC HỘI AN TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
Mã số: 62 22 54 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ


8. Cấu trúc luận án
15

B. NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH CẢNG THỊ HỘI AN
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG HỘI AN

1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành vùng đất
19
1.1.2. Đặc điểm khí tƣợng thuỷ văn
20
1.1.2.1. Đặc điểm khí hậu
20
1.1.2.2. Đặc điểm thuỷ văn
22
1.1.3. Đặc điểm chung về sự phát triển địa hình khu vực Hội An
24
1.1.4. Vị thế vùng Hội An với quan hệ thông thƣơng trong nƣớc
và ngoài nƣớc
25
1.2. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG BIẾN ĐỘNG VỀ KINH TẾ TÁC
ĐỘNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH CẢNG THỊ HỘI AN
1.2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII

1.2.1.1. Hoàn cảnh quốc tế và khu vực
29
1.2.1.2. Tình hình chính trị - xã hội ở Việt Nam
31

2.2.2. Chùa
65
2.2.3. Đền - miếu
68
2.2.4. Cầu
69
2.2.5. Mộ
71
2.2.6. Nhà thờ tộc/từ đƣờng
75
2.3. VỊ TRÍ, QUY MÔ VÀ CÁC THƢƠNG ĐIẾM
77
2.3.1. Thƣơng điếm và vị trí, quy mô phố Nhật Bản
78
2.3.2. Các thƣơng điếm phƣơng Tây
86
2.3.3. Thƣơng điếm và vị trí quy mô phố Khách
92
2.4. DIỆN MẠO ĐÔ THỊ HỘI AN THỜI KỲ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
93
2.5. TIỂU KẾT
101

CHƢƠNG 3: DI TÍCH KIẾN TRÚC HỘI AN TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN NỬA
ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH SUY TÀN CỦA CẢNG
THỊ HỘI AN
3.1.1. Các nhân tố tự nhiên
103


CHƢƠNG 4: PHONG CÁCH KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HỘI AN

4.1. NGHỆ THUẬT-KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HỘI AN
4.1.1. Đặc điểm bố cục mặt bằng kiến trúc
136
4.1.1.1. Đặc điểm chung
136
4.1.1.2. Bố cục mặt bằng và không gian kiến trúc
136
4.1.2. Tổ hợp công trình và cấu trúc không gian kiến trúc
139
4.1.2.1. Tổ hợp công trình theo tuyến
139
4.1.2.2. Cấu trúc không gian kiến trúc
141
4.1.3. Những đặc trƣng trong nghệ thuật trang trí - điêu khắc và biểu tƣợng
kiến trúc truyền thống Hội An
4.1.3.1. Những đặc trưng chung
144
4.1.3.2. Ý nghĩa - biểu tượng của một số môtíp trang trí
149
4.1.3.2. Nghệ thuật khảm sành sứ và sử dụng màu sắc trang trí
kiến trúc
158
4.2. SO SÁNH ĐÔ THỊ HỘI AN VỚI MỘT SỐ ĐÔ THỊ TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
4.2.1. Hội An với một số đô thị trong nƣớc
159
4.2.1.1. Hội An với Thăng Long - Kẻ Chợ
159

Phụ lục 10: Khổng Tử miếu ở Hội An
Phụ lục 11: Hội An - Đà Nẵng thời Pháp thuộc

230
234
240
244
246
247
255
269
244
252
262
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

A.
Ảnh

KTS
Kiến trúc sư
NCKH
Nghiên cứu Khoa học
NCKT
Nghiên cứu Kiến trúc
NCLS
Nghiên cứu Lịch sử
Những PHMVKCH
Những Phát hiện mới về Khảo cổ
học
NTMK
Nguyễn Thị Minh Khai
NTH
Nguyễn Thái Học
NXB
Nhà xuất bản
h.
Huyện
SCN
Sau công nguyên

Sơ đồ
QN - ĐN
Quảng Nam - Đà Nẵng
TBD
Thái Bình Dương
TCN
Trước công nguyên
Toàn thư

Cùng với sự phát triển của Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà đô thị Hội An
có tác động không nhỏ đến quá trình phát triển chung của các đô thị trung đại Việt
Nam nói riêng và vùng ĐNA nói chung. Tuy không phải là đô thị cổ xưa nhất,
nhưng Hội An cũng có một quá trình hình thành lâu dài và trở thành đô thị tiêu biểu
của Việt Nam ở thế kỷ XVII - XVIII.
Từng là đô thị một thời vang bóng, song Hội An để lại nhiều dấu ấn tạo nên
những nét quyến rũ đặc biệt. So với các đô thị khác ở Việt Nam trên nhiều phương
diện Hội An có nhiều đặc điểm riêng tạo nên dáng vẻ lịch sử, văn hoá, nghệ thuật
kiến trúc, tôn giáo tín ngưỡng và tâm linh Bằng chứng là một hệ thống di tích,
phần lớn là nhà ở, công trình công cộng, công trình tôn giáo tín ngưỡng còn khá
vẹn nguyên - cũng là duy nhất của Việt Nam và trường hợp hiếm có trên thế giới.
Bộ môn đô thị học được đề cập trên nhiều phương diện xã hội, dân cư, kinh
tế là những yếu tố ban đầu đặt nền tảng cho việc tìm hiểu sâu rộng hơn những vấn
đề về đô thị. Biến động của xã hội dẫn đến những biến đổi về diện mạo đô thị, biểu
hiện rõ ràng nhất giữa không gian đô thị truyền thống và không gian đô thị đang bị
thoái hoá, bên cạnh không gian đô thị được cách tân và ngày một hiện đại. Đó là
hiện trạng ở đô thị Hội An. Vì thế, tiến hành nghiên cứu cụ thể và toàn diện đô thị
cổ Hội An là nhiệm vụ của giới sử học nhằm góp phần vào đánh giá chính xác hơn
về đô thị đã từng phồn vinh, bổ sung thêm vào những nghiên cứu chuyên sâu về hệ
thống đô thị Việt Nam trong lịch sử.
Hội An được tôn vinh là Di sản Văn hoá Thế giới đã khẳng định những giá
trị trường tồn về Văn hoá - Lịch sử - Kiến trúc đặc sắc của khu phố cổ, thu hút sự
quan tâm của giới khoa học trên nhiều lĩnh vực trong nước và quốc tế. Quỹ di sản
kiến trúc đô thị mặc dù đã được nghiên cứu nhưng vẫn thiếu vắng công trình
5

chuyên sâu tổng hợp đầy đủ có hệ thống dưới góc nhìn biện chứng của sử học, phân
tích và làm rõ bản chất cũng như những đặc trưng của các loại hình kiến trúc nhằm
xây dựng nền tảng cơ bản cho việc nghiên cứu khoa học về lịch sử kiến trúc đô thị
Hội An, góp phần vào công tác nghiên cứu lịch sử kiến trúc Việt Nam nói chung.

Tiếp đó là các công trình biên niên và địa chí như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô
Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí
của Quốc sử quán triều Nguyễn; cùng với cuốn Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn
hay cuốn Ngoại phiên thông thư góp phần phác họa hình ảnh đô thị thương cảng
Hội An trong bối cảnh xã hội chung của vùng Thuận Hoá - Quảng Nam đương thời.
Sử dụng lối kể chuyện lịch sử, cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí của Bảng trung
hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659 - 1736), người đã gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp
của các chúa Nguyễn đã tái hiện môi trường lịch sử - xã hội rộng lớn ở Đàng Trong.
Đây là những nguồn tư liệu quý báu về Hội An qua nhiều giai đoạn.
Tài liệu chi chép về Hội An của người nước ngoài, đầu tiên phải nói tới
những ghi chép của các giáo sĩ, thương nhân có mặt vào thời kỳ Hội An phồn thịnh.
Ghi chép về Xứ Đàng Trong 1621 của Cristoforo Borri; Hành trình và truyền giáo
của Alexandre de Rhodes; hay những tác phẩm của giáo sĩ Bồ Đào Nha Léon
Pagére và Manguin; Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (thế kỷ XVII) là ghi chép
của tác giả khi đến Quảng Nam cho thấy Hội An dưới thời các chúa Nguyễn và tình
hình buôn bán ở thương cảng này. Ông cũng dành một phần lớn để miêu tả về diện
mạo đô thị Hội An với cảnh trên bến dưới thuyền, và các kiến trúc trong khu phố.
Đến cuối thế kỷ XVII, ghi chép về Hội An được thương nhân Anh - Thomas Boyear
tiếp tục khi ông đến đây với nhiệm vụ xin chúa Nguyễn cho lập thương điếm.
Học giả Hàn Quốc, GS. Cho Jea Hyun đã giới thiệu cho người đọc sách Trú
Vĩnh Biên (Ju Yong Pyon) (1805-1806) của Huyền Đồng Trịnh Đông Dũ (Chung
Dong Yu) một tác phẩm khảo cứu lịch sử, ngoại giao, tập tục…đã ghi chép lại nội
dung Câu chuyện những người dân đảo Tế Châu (Jêju) Hàn Quốc trôi dạt đến An
7

Nam năm 1689… phản ánh chính sách đối ngoại mở cửa của khu vực Hội An và
tình hình ở nước An Nam bấy giờ.
Cách đây 20 năm, những đợt điều tra, thám sát đầu tiên của các nhà khoa học
Việt Nam đã đào xới từ lòng đất Hội An những lớp tầng văn hoá bị quên lãng. Từ
đó, nhiều đợt thám sát, điền dã có quy mô của nhiều tổ chức trong và ngoài nước ở

vùng/miền khác ở Việt Nam. Đặc biệt vấn đề mới được đặt ra là việc gìn giữ, bảo
tồn phát huy những giá trị kiến trúc, văn hoá để Hội An xứng đáng là Di sản Văn
hoá thế giới.
Giới KTS, khai thác Hội An ở nhiều vấn đề, từ kiến trúc nhà ở, không gian
đô thị, cảnh quan môi trường, quy hoạch phát triển, cho đến công tác bảo tồn, khai
thác, gìn giữ, chống xuống cấp như thế nào?. Một số bài nghiên cứu như Đô thị cổ
Hội An (QN-ĐN) (Nguyễn Hồng Kiên); Gặp lại bộ “vài” trong kiến trúc cổ Hội
An; Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hoá ở Hội An (Nguyễn Quốc Hùng) là bước
khởi đầu cho việc nhìn nhận một cách tổng quan di tích kiến trúc ở Hội An. Tiếp
đến là Kiến trúc nhà ở khu phố cổ Hội An (Hoàng Mạnh Nguyên); Nhà ở cho dân tự
xây - Viện NCKT.
Trung tâm Tu bổ Di tích TW (nay là Viện BTDT - Bộ VHTT) là cơ quan đầu
tiên ở Việt Nam khai nguồn cho những đợt khảo cứu và trùng tu di tích kiến trúc tại
Hội An kể từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Dựa trên yêu cầu nghiên cứu và bảo tồn
quỹ kiến trúc đô thị Hội An, dự án hợp tác quốc tế giữa hai nước Việt Nam và Nhật
Bản về việc tiến hành điều tra hiện trạng các di tích và tìm hiểu sự hiện diện của
người Nhật trước đấy ở Hội An đã được tiến hành và liên tục kéo dài, đặt ra nhiều
vấn đề về nghiên cứu kiến trúc Hội An.
Nhiều chuyên gia Nhật Bản gắn bó với công cuộc nghiên cứu và bảo tồn khu
phố Hội An như GS. Ogura Sadao, TS. Kikuchi Seiichi, TS. March Chang, GS.
Matsuda… nhiều luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các học viên Nhật Bản về các lĩnh vực
9

KCH, kiến trúc, văn hoá cũng được đào sâu nghiên cứu. Đó thực sự là một khối
lượng tư liệu quý báu kết quả của việc gắn nghiên cứu và thực tiễn.
Trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản về sử liệu và xã hội học nhằm bổ sung
cho công tác bảo tồn, trùng tu các công trình ở phố cổ Hội An, các nhóm nghiên
cứu từ Viện BTDT (Bộ VHTT); Viện NCKT, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
(BXD), dưới sự hỗ trợ về kỹ thuật của các chuyên gia trùng tu Nhật Bản đã cơ bản
hoàn thành trùng tu những công trình có giá trị lịch sử và kiến trúc đặc biệt quan

một khối lượng hiện vật kiến trúc phong phú ngay dưới lòng đất đô thị Hội An.
Những kết quả khai quật này có ý nghĩa quan trọng đã chứng minh về sự hiện diện
của người Nhật ở Hội An và khẳng định rõ hơn về giao thông thương mại cũng như
sự hiện diện của lớp cư dân tại Hội An ở thế kỷ XVI - XVII.
Ngót nửa thế kỷ, các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực đã tìm hiểu, khám phá,
nghiên cứu dần được nhận diện khu phố cổ nhỏ bé mà ẩn chứa nhiều bí ẩn. Thế
nhưng, sức quyến rũ của nó khiến bao nhiêu bài viết, công trình nghiên cứu vẫn cứ
chảy đều theo dòng lịch sử. Đó cũng là nguồn tư liệu dồi dào để chúng tôi có thể
khai thác và chắt lọc cho luận án của mình.
3. Mục đích, đối tượng phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Cho đến nửa sau thế kỷ XX, phố cổ Hội An và các công trình kiến trúc ở
đây đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Tổn thất này, đầu tiên phải kể tới sự khắc nghiệt
của khí hậu nóng nắng và lũ lụt thường xuyên. Thứ hai là, những mất mát trong hai
cuộc chiến tranh kéo dài đã khiến cho Hội An có những thay đổi lớn trong cấu trúc
và hình thái đô thị so với thuở ban đầu. Và cuối cùng, quan trọng hơn là quá trình
hiện đại hoá và đô thị hoá cùng với nhu cầu sinh hoạt ngày một nâng cao đã khiến
cho phố cổ Hội An mất đi phần nào những yếu tố văn hoá truyền thống xưa.
Luận án được hình thành trên cơ sở kết quả của các cuộc điều tra, khảo sát,
lập hồ sơ khoa học, thiết kế và trùng tu nhà ở Hội An trong chương trình hợp tác
nghiên cứu giữa Viện NCKT với Trường Đại học Showa (Nhật Bản); Trung tâm
11

Quản lý BTDT Hội An từ năm 1992 đến 2000 và hồ sơ khoa học về phố cổ Hội An
của Viện Bảo tồn Di tích (Bộ VHTT).
Luận án không chỉ cung cấp một cái nhìn toàn diện về một loại hình kiến
trúc đô thị khá điển hình trong lịch sử đô thị Việt Nam mà còn bổ sung và làm đầy
đặn hơn hệ thống tư liệu về kiến trúc đô thị cổ Hội An theo các giai đoạn lịch sử.
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước, dựa trên cơ sở
bổ sung nguồn tư liệu thực địa, luận án tập trung vào việc tìm hiểu và phân tích sự

đánh giá về kiến trúc Hội An từ nhiều góc độ khác nhau để đưa ra những giả thuyết
mang tính tổng hợp. Những vấn đề về kiến trúc truyền thống, hình thức của vì kèo,
hình thức kết cấu, mối liên hệ giữa các hình thức này và tác dụng của nó trong cấu
trúc không gian, cũng như những thuật ngữ địa phương, tên gọi kiến trúc… là minh
chứng về kiểu hình thái kiến trúc đô thị Hội An có phong cách độc đáo.
Luận án mong muốn đây là một nghiên cứu về lịch sử kiến trúc đô thị Hội
An một cách tổng hợp và đầy đủ.
5. Các nguồn tư liệu
Nhìn chung, nguồn tư liệu ghi chép và khảo sát về đô thị Hội An khá đa dạng
và phong phú. Tuy nhiên để giải quyết những yêu cầu đặt ra trong luận án, chúng
tôi dựa vào các nguồn sử liệu chính có liên quan trực tiếp đến luận án. Luận án khai
thác triệt để nguồn tư liệu gốc: các thư tịch cổ, ghi chép của các tác giả trong và
ngoài nước… xem đây là nguồn tài liệu quan trọng đối với đối tượng nghiên cứu
của luận án.
* Các thư tịch cổ
- An Nam chí lược (2002), (bản dịch) NXB Thuận Hoá.
- Đại Việt sử ký toàn thư (1993) (tập I, II, III), (bản dịch) NXB KHXH.
- Đại Nam nhất thống chí (1992), (bản dịch) Quốc sử quán triều Nguyễn,
NXB Thuận Hoá.
13

- Đại Nam thực lục tiền biên (1969), (bản dịch) Quốc sử quán triều Nguyễn,
NXB KHXH.
- Đại Nam thực lục chính biên (1969), (bản dịch) Quốc sử quán triều
Nguyễn, NXB KHXH.
* Sách, tạp chí của các nhà nghiên cứu trong nước
Luận án sử dụng các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước xuất
bản từ năm 1960 đến nay.
- Các sách về lịch sử Việt Nam nói chung của Đào Duy Anh, Phan Huy Lê…
- Sách nghiên cứu về bối cảnh xã hội, kinh tế của Đàng Trong qua các thời

tế ở Trung Quốc, Huế, Thanh Hà, Bao Vinh, Phố Hiến và đặc biệt là Hội An trong
nhiều năm qua. Luận án cũng sử dụng các tư liệu bản vẽ của các đồng nghiệp.
Luận án kế thừa những tư liệu từ luận văn thạc sĩ đã bảo vệ tháng 5/2000 và
cập nhận những thành tựu nghiên cứu mới, kể cả những thông tin mới qua website.
6. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài thuộc lĩnh vực lịch sử Việt Nam cổ trung đại mà đối tượng nghiên cứu
của luận án là mảng lịch sử kiến trúc. Vì thế, phương pháp tiến hành của luận án đòi
hỏi sự kết hợp giữa lôgíc sử học và phân tích, đánh giá, miêu tả về bố cục, kết cấu
công trình và các thuật ngữ kiến trúc chuyên ngành.
Trong quá trình làm luận án, chúng tôi đã hệ thống hoá tư liệu theo phương
thức tổng hợp liên ngành để có những phân tích cho các vấn đề nêu trong luận án.
Phương pháp so sánh đồng đại cũng giúp cho chúng tôi có những kết luận chính xác
và khách quan hơn. Sử dụng các phương pháp sử học, điều tra XHH cũng như vẽ ghi
đạc hoạ, mô tả kiến trúc để từ đó có những lập luận lý giải.
15

Thừa hưởng những nguồn tư liệu đã có, kết hợp cùng tư liệu thực địa chúng
tôi mong muốn khớp nối, tổng hợp, đánh giá, phân tích để hình dung một đô thị Hội
An như đã từng là một đô thị nổi tiếng trong lịch sử. Một cách nhìn mới là tiếp cận
tiến trình lịch sử đô thị qua di sản kiến trúc. Vì chính những di sản này đã tạo nên
một “phong cách Hội An”. Đặt vấn đề hình thành và phát triển của Hội An từ góc
độ các di sản kiến trúc trong lòng đô thị.
7. Đóng góp của luận án
Luận án tiếp cận nghiên cứu đô thị dưới góc độ lịch sử kiến trúc đô thị thuộc
chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ trung đại. Luận án đã loại hình hoá các di tích
kiến trúc ở Hội An và so sánh có tính chất tương đồng với các đô thị trong nước và
nước ngoài.
Luận án cũng làm rõ sự tương tác giữa những vấn đề về điều kiện tự nhiên
và lịch sử - xã hội đương đại tác động tới hình thái đô thị. Dựa trên những cứ liệu
xác đáng đã được kiểm định, với lôgíc sử học tác giả luận án cũng cố gắng dẫn dắt

XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII.
Được kế thừa và hội tụ của các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chămpa, vùng QN -
ĐN đã trở thành một trung tâm văn hoá lớn tạo tiền đề cho Hội An hình thành và
phát triển. Tuy nhiên, để có được một cảng thị Hội An phải kể tới quá trình hình
thành và phát triển của nó trong suốt thời kỳ các chúa Nguyễn. Nhờ vào những
chính sách khai thông và cởi mở, Hội An là vùng đất mời chào nhiều thương nhân
từ khắp nơi đến buôn bán, giao thương và sinh sống dài lâu. Để có được khối cộng
đồng dân cư Việt chung sống với các cư dân từ các nước khác tới, chúa Nguyễn đã
phải có những chính sách điều phối linh hoạt vừa có thể hài lòng được khách
thương mà vẫn an lòng được người dân bản xứ.
Cũng dưới thời các chúa Nguyễn, thiết chế xã hội và dân cư ở Hội An được
định hình. Hiện tượng “cộng sinh” “hỗn dung văn hoá” xuất hiện, cư dân Việt gốc
17

ngày càng nhường chỗ cho cư dân và thương nhân các nước sinh sống. Đặc trưng
này tạo nên nền văn hoá có dáng vẻ quốc tế đa dân tộc.
Chương 2: Di tích kiến trúc Hội An từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII (45 trang)
Ở chương này, chúng tôi phân tích các yếu tố cơ bản từ khi Hội An chỉ là
vùng đất mới cho đến khi nó đã định hình là đô thị. Đó là thời kỳ tiền Hội An (trước
thế kỷ XVI) và thời kỳ Hội An (thế kỷ XVI - XVIII) để thấy rõ qua những bước
thăng trầm trong lịch sử đô thị vẫn có sự góp mặt của các loại hình kiến trúc mang
phong cách, đặc trưng bố cục và niên đại hình thành cùng với những biến động của
lịch sử Hội An.
Chúng tôi cũng mạnh dạn đưa ra những phỏng đoán về loại hình kiến trúc
thương điếm dựa trên những cứ liệu ghi chép lịch sử, bản vẽ… để có hình dung một
cách tương đối hình ảnh của loại hình kiến trúc này cũng như những khu phố riêng
biệt của các thương nhân khi trú chân ở Hội An
Thông qua các loại hình di tích kiến trúc, luận án cũng đưa ra những luận
điểm về quy mô và diện mạo của Hội An thời kỳ hình thành và phát triển.


những đặc trưng cơ bản của kiến trúc đô thị Hội An. Đặc trưng này thể hiện bản sắc
riêng của khu phố và quỹ kiến trúc đô thị Hội An là độc đáo và có phong cách
riêng.
Chương 4 phân tích 2 đặc trưng cơ bản: Đặc trưng về không gian kiến trúc
đô thị và nghệ thuật trang trí kiến trúc công trình. Từ những đặc trưng đó, chúng tôi
có những so sánh với những đô thị trong và ngoài nước để tìm ra đặc trưng chung
của các đô thị trung cổ Việt Nam, cũng như của các đô thị ở phương Đông.
Có thể thấy, nằm trong hệ thống đô thị cổ của châu Á, đô thị Hội An có
những đặc điểm riêng biệt, có phần nổi trội hơn so với các đô thị trong nước và
ngoài nước. Vì thế, vẫn có thể nhận thấy hình thái đô thị phương Đông đặc trưng và
19

hình thái đô thị miền Trung trong hệ thống đô thị cổ Việt Nam. Chúng tôi đặc biệt
chú trọng đến việc so sánh trên cơ sở các loại hình kiến trúc, sự ảnh hưởng và nét
tương đồng trong kết cấu kiến trúc giữa Hội An với đô thị trong nước và 2 đô thị
điển hình của châu Á là Nhật Bản và Trung Quốc.
C. KẾT LUẬN (4 trang)
D. DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN (2 trang)
E. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 272 tài liệu (22 trang)
D. PHỤ LỤC:
Phụ lục viết: 11phụ lục (59 trang) và 65 ảnh minh hoạ
Phụ lục minh hoạ: 19 bảng ảnh, 4 bảng biểu, 8 sơ đồ, 22 bản đồ, 45 bản vẽ. 19

CHƢƠNG 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI
VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CẢNG THỊ HỘI AN

Kainozoi do hoạt động của các sông Cu Đê, sông Hàn, sông Thu Bồn và biển ven
bờ bồi tụ trên mặt bào mòn của các thành tạo đá Paleozoi - Mezozoi thuộc đới cấu
trúc kiến tạo Caledoni Quảng Nam - Đà Nẵng (QN - ĐN). Đới này kéo dài từ phía
Tây biên giới Việt - Lào, ôm lấy diềm Đông Bắc khối vỏ lục địa tiền Cambri Kon
Tum rồi chúc chìm dưới Biển Đông. [208]
Thời kỳ tạo vỏ lục địa Caledoni của đới QN - ĐN gắn liền với sự phá huỷ rìa
lục địa tiền Cambri KonTum.
20

Thời kỳ kiến tạo hồi sinh do tạo riftơ nội lục, hình thành trũng chồng Nông
Sơn chất đầy bởi trầm tích chứa than và lục nguyên tuổi Nori đến Jura giữa.
Thời kỳ Tân sinh đặc trưng bởi sự tái hoạt động của các đứt gãy Thành Mỹ -
Ngũ Hành Sơn, Đại Lộc - Hội An, Trà Kiệu, Hiệp Đức - Cửa Đại, sông Cu Đê - La
Vân hình thành địa hào Đại Lộc - Hội An, khởi đầu từ hệ tầng đá vụn thô hệ tầng Ái
Nghĩa tuổi Neogen đến trầm tích Pleistocen và Holocen có nguồn gốc sông, biển,
đầm lầy xen kẽ nhau theo hướng mở rộng và trải từ tây sang đông. Tại đây ghi nhận
sự ảnh hưởng của hoạt động Tân Sinh hình thành Biển Đông, mà đứt gẫy kinh
tuyến 110
0
cách bờ biển Đà Nẵng không xa.
Rõ ràng, vùng đô thị Đà Nẵng - Hội An là nơi tiếp xúc giữa đất liền và biển.
Sự hình thành và phát triển vùng của sông Thu Bồn lại chịu ảnh hưởng rất lớn các
điều kiện của biển lẫn lục địa. Những biến đổi về địa chất trong vùng còn chịu tác động
mạnh mẽ do chiều hướng phát triển và những hoạt động kinh tế của nhân dân.
1.1.2. Đặc điểm khí tƣợng thuỷ văn
1.1.2.1. Đặc điểm khí hậu
Chế độ gió: Vùng Hội An chịu tác động của hai mùa gió chủ yếu: Gió mùa
Đông (từ tháng 1 đến tháng 3 có gió mùa hướng đông bắc, bắc - tây bắc). Gió mùa
Hạ (tháng 4 đến tháng 10 hướng gió đông - đông nam), hay có bão và áp thấp nhiệt
đới (thường xảy ra vào cuối tháng 10).

0
C, có năm xuống đến 11
0
C. Mùa
Hạ nhiệt độ trong các tháng tương đối đồng đều nhau; từ 28 - 30
0
C, cao nhất 39 -
40
0
C, thấp tuyệt đối khoảng 21 - 23
0
C.
Độ ẩm không khí mùa đông từ 82 - 84%, mùa Hạ giảm còn 75 - 78% và hiệu
ứng gió “phơn” làm nhiệt độ tăng, độ ẩm giảm, có khi tới 30%. Cristoforo Borri đầu
thế kỷ XVII nhận xét: Nếu trong mùa hè bao gồm các tháng 6, 7, 8 xứ này nóng vì
ở vùng nhiệt đới và mặt trời ở vào đỉnh điểm của nó, thì trái lại vào tháng 9, 10, 11
là mùa thu, cái nóng hết đi, không khí trở nên điều hoà hơn, nhờ những cơn mưa
liên tục từ trên miền núi cao, các dòng nước tuôn trào, tràn ngập vương quốc, chảy
ra đến tận biển. Trong 3 tháng này các trận lụt xảy ra cứ 15 ngày một, mỗi lần kéo
dài 3 ngày 3 tháng mùa đông phân biệt được với các mùa khác trong năm. Cuối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status