Đề tài: Hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
(Chương 2+3+4)
Họ và tên học viên: Bùi Thị Hường
Lớp: Quản trị Kinh doanh Tổng hợp
Khóa: 18
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Trần Việt Lâm
1
CHƯƠNG 2:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Rủi ro của ngân hàng thương mại
2.1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1.1.1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản
• Khái niệm về ngân hàng thương mại
Có rất nhiều quan niệm, khái niệm về NHTM, việc hiểu NHTM có thể được hiểu
qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Song xét
trên giác độ những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp, chúng ta có thể hiểu
NHTM được hiểu như sau: “NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất, thuận tiện nhất về các hoạt động tài chính, như hoạt động tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
• Những hoạt động cơ bản của NHTM
Hoạt động chủ yếu của NHTM là chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Các cá nhân và tổ
chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập
và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn. Trái lại, các cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá,
dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Ngân hàng trở thành trung gian tài chính, huy
động nơi có vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay, đầu tư. Với xu thế phát triển của nền kinh
tế, các Ngân hàng từ chỗ chỉ cung cấp dịch vụ về nhận tiền gửi, tới nay các Ngân hàng đã
tăng cường cung cấp thêm nhiều mảng hoạt động có giá trị gia tăng như huy động vốn, tín
dụng, trung gian thanh toán và một số hoạt động khác, cụ thể như sau:
hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay, các ngân
hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố…
- Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn
tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. Các
đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá
khác.
3
- Cho thuê tài chính: Là loại tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho
thuê tài chính dùng vốn cùa mình hoặc vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị
theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người
đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp
đồng thuê, người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại
thiết bị cho bên thuê.
- Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân
hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng; khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng đã nhận nợ và hoàn
trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.
- Đầu tư: là việc ngân hàng dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác
để đầu tư dưới các hình thức như:
+ Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, hùn vốn mua cổ phần chỉ được
phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng.
+ Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…
Tất cả các hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập,
mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán,
mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp.
• Các hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho
nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho
ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí…có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát
triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Các hoạt động ngày gồm:
tài sản Nợ và tài sản Có. Nếu ngân hàng dùng tài sản Nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản
Có dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên, trong khi lãi suất đầu tư vẫn giữ nguyên,
ngân hàng sẽ gặp rủi ro. Ngược lại, nếu ngân hàng dùng tài sản Nợ dài hạn để đầu tư vào
tài sản Có ngắn hạn thì khi lãi suất đầu tư giảm ngân hàng cũng có nguy cơ bị rủi ro.
Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như: Do bất lợi
trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động và hạ lãi suất cho vay để thu
hút khách hàng, do đó đã làm tăng chi phí và giảm thu nhập của ngân hàng; Do cung tiền
tệ nhỏ hơn cầu tiền tệ, nên ngân hàng phải tăng lãi suất để huy động vốn; Do chính sách
ưu đãi trong cho vay của nhà nước nên ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay.
• Rủi ro tín dụng
5
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và
lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín dụng
phát sinh từ việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở hợp đồng tín dụng, theo
đó, người vay tiền cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng.
Chính vì vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng và cấp tín dụng, ngân hàng phải chắc chắn
được khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng với một xác suất cao.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt
động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: Hoạt động bảo lãnh, tài trợ thương
mại, cho thuê tài chính.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng. Nguyên nhân gây nên rủi ro
tín dụng thường do:
- Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có đủ khả năng
thanh toán nợ cho ngân hàng
- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho những khách hàng kinh
doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thu nợ gặp khó khăn, đến hạn khách hàng không
trả được nợ cho ngân hàng.
- Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ hoặc vi phạm đạo đức trong kinh doanh dẫn
đến cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự án đầu tư, phương án
kinh doanh không chính xác
là vừa hay cao.
+ Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: Những Ngân hàng hoạt động phạm vi toàn
cầu có sự phân chia theo lãnh thổ quốc gia, nếu trong phạm vi một quốc gia phân chia
RRTD tập trung theo khu vực địa lý, ví dụ như mức độ rủi ro khu vực.
- Theo phạm vi ảnh hưởng:
7
+ Rủi ro giao dịch đơn lẻ: Được hiểu là rủi ro gắn với một giao dịch đơn lẻ nào đó,
cụ thể như rủi ro của một khoản vay đối với một khách hàng. Loại rủi ro này gắn liền và
xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của khoản vay hoặc khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro hệ thống: Được hiểu là RRTD gắn liền với nhóm khách hàng, một ngành
hàng, thậm chí với cả một nền kinh tế. Rủi ro hệ thống mang tính chất vĩ mô và liên quan
nhiều đến việc quản lý danh mục cho vay.
- Phân theo giai đoạn phát sinh:
+ Rủi ro trong thẩm định: Là rủi ro mà TCTD đánh giá sai khách hàng
+ Rủi ro khi cho vay: Là rủi ro mà khi vốn vay sử dụng sai mục đích, làm cho
khoản vay không phát huy hiệu quả.
+ Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ: Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu hồi
nợ không theo dõi được dòng tiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng
vào việc khác không thu được nợ đúng kỳ hạn, hoặc không thu được nợ.
- Phân theo sản phẩm tín dụng:
+ Rủi ro sản phẩm tín dụng nội bảng: Là RRTD phát sinh từ những khoản cho
vay, chiết khấu, thấu chi được hạch toán trong nội bảng.
+ Rủi ro các sản phẩm phái sinh: Là RRTD phát sinh từ những sản phẩm ngoại
bảng trong tài trợ thương mại, như mở L/C, bảo lãnh.
• Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối do sự biến
động về tỷ giá giữa các đồng tiền. Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì
nhà kinh doanh có lãi, ngược lại thì bị lỗ.
Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi của tỷ giá hối đoái,
bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn đối với một đồng tiền nhất định, đều có thể
hàng phát hành) bên tài sản nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Tuy nhiên, các
hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội
bảng, bởi vì các cam kết ngoại bảng đến hạn có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ
bổ sung, làm thay đổi bảng cân đối nội bảng.
Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong
khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh, nên đã khuyến khích các hoạt động ngoại
bảng này ngày càng phát triển. Tuy nhiên những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Chẳng hạn như trong trường hợp công ty phát hành trái phiếu phá sản thì ngân hàng phải
đứng ra thanh toán toàn bộ gốc và lãi chứng khoán cho công ty phát hành. Điều này dẫn
9
đến hệ quả là bảo lãnh thư đã trở thành một bộ phận trong bảng cân đối tài sản nội bảng,
nghĩa là ngân hàng phải sử dụng vốn kinh doanh của mình để trang trải những gì đã cam
kết trong thư bảo lãnh. Trong thực tế, những trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong hoạt
động ngoại bảng có thể trở thành nguyên nhân khiến cho ngân hàng có thể đi đến phá sản.
• Rủi ro công nghệ và hoạt động
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệ không
tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng quy mô hoạt động.
Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của ngân hàng giảm
xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự phá sản ngân hàng trong tương lai. Ngược
lại, lợi ích từ việc đầu tư công nghệ là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong
cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng phát triển các
sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững.
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát sinh bất
cứ khi nào nệu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ bên trong
ngừng hoạt động. Hệ thống hỗ trợ bên trong bao gồm các chuyên viên cộng với công
nghệ thực hiện khâu thanh toán, xử lý các sự vụ và cung cấp các dịch vụ khác làm hậu
thuẫn cho các giao dịch thuộc nội bảng và ngoại bảng.
• Rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Rủi ro quốc gia: Khi tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ không cân xứng về số
lượng và kỳ hạn thì ngân hàng có thể chịu rủi ro về ngoại hối và rủi ro lãi suất ngoại tệ.
2.2.2. Vai trò của quản trị rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại
-Do quá trình tự do hoá, nới lỏng qui định trong hoạt động Ngân hàng trên phạm vi
toàn thế giới. Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng.
Trong lĩnh vực Ngân hàng, cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm
xuống. Tác động này làm cho các Ngân hàng ngày càng có xu hướng mở rộng qui mô
kinh doanh để bù đắp sự sụt giảm lợi nhuận, trong đó mở rộng qui mô tín dụng đồng
nghĩa với việc RRTD cũng có nguy cơ gia tăng. Bên cạnh đó, qui luật đào thải của cạnh
tranh sẽ làm tăng mức độ phá sản của các khách hàng của Ngân hàng kéo theo sự thiệt hại
cho Ngân hàng, nên nếu quản trị được rủi ro tín dụng sẽ làm cho tín dụng ít bị đổ vỡ, làm
tăng tính cạnh tranh của ngân hàng và làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
- Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng phức
tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt
vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới. Trong lĩnh vực tín dụng các sản phẩm
11
tín dụng có bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa so với sản phẩm tín dụng truyền thống. Các
sản phẩm tín dụng dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ tín dụng, cho vay cá
thể…luôn chứa dựng rủi ro mới. Nhưng dưới áp lực của cạnh tranh thì việc mở rộng và đa
dạng hoá sản phẩm cũng như phạm vi của hoạt động tín dụng trở nên cấp thiết hơn, mang
ý nghĩa sống còn với các Ngân hàng. Khi quản trị được rủi ro tín dụng, sẽ làm giảm tính
phức tạp của sản phẩm tín dụng làm cho cho các ngân hàng quản lý càng tốt hơn.
- Đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển
đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây
dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động Ngân hàng càng trở nên rủi ro
hơn. Vì vậy, công tác quản trị RRTD sẽ làm cho các ngân hàng có cách phòng chống từ
xa và hiệu quả hơn.
- Quản trị rủi ro tốt là một lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị của
NHTM.
2.2.3. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
2.2.3.1. Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng
• Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng ngân hàng mang lại nhiều ưu điểm trong quá trình thực hiện cho
vay. Trước hết, đối với cán bộ tín dụng, họ biết được cần phải làm các bước như thế nào
khi tiến hành một khoản cho vay và biết được trách nhiệm của mình đến đâu; đối với
ngân hàng, thông qua chính sách tín dụng, ngân hàng có thể đạt được một danh mục tín
dụng đa mụch đích, như làm tăng khả năng sinh lời, kiểm soát được tiềm ẩn rủi ro và đáp
ứng được các đòi hỏi từ phía nhà quản lý. Bất kỳ một sự ngoại lệ nào trong chính sách tín
dụng cũng phải được quy định đầy đủ, các lý do tại sao lại có sự ngoại lệ cũng phải liệt
kê.
• Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu
vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định cho vay, giải ngân và thanh lý
hợp đồng tín dụng. Một quy trình tín dụng được xây dựng luôn nhắm tới 3 mục tiêu, đó là:
- Lợi nhuận của ngân hàng (lợi tức)
- An toàn ít rủi ro
- Sự lành mạnh của các khoản tín dụng
13
Một quy trình tín dụng hiệu quả luôn giúp các nhân viên ngân hàng trả lời các câu hỏi:
Quy mô của các khoản cho vay là bao nhiêu? Thời hạn cho vay bao nhiêu là thích hợp?
Sử dụng các hình thức cho vay nào?
Về mặt thời gian, quy trình tín dụng được chia ra làm 3 giai đoạn: trước khi cấp tín
dụng, trong khi cấp tín dụng và sau khi cấp tín dụng. Tuy nhiên, về mặt tác nghiệp, quy
trình tín dụng được chia ra thành các bước cụ thể như sau:
(1) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng;
(2) Phân tích tín dụng
(3) Quyết định tín dụng
(4) Giải ngân
(5) Giám sát và thanh lý tín dụng
Việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động
quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi. Quy trình tín dụng được xây dựng
hợp lý sẽ có tác dụng:
dụng, tuy nhiên, những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng
bao gồm:
Nguyên lý 1: Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định, ví
dụ đối với khoản tín dụng nhỏ và vừa thì định kỳ kiểm tra có thể là 30, 60 hay 90 ngày;
đối với những khoản tín dụng lớn thì phải kiểm tra thường xuyên hơn.
Nguyên lý 2: Xây dựng kế hoạch, chương trình nội dung quá trình kiểm tra một cách
thận trọng và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản tín
dụng phải được kiểm tra bao gồm:
- Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhằm dảm bảo rằng khách hàng không chậm trễ
trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch.
- Chất lượng và điều kiện của tài sản đảm bảo tín dụng
- Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo rằng ngân hàng có đầy đủ
thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản đảm bảo tín dụng đối với người vay
trước tòa án nếu cần thiết.
- Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay xem đã thay đổi, trên
cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi như thế nào.
- Đánh giá xem khoản tín dụng có còn tuân thủ chính sách cho vay của ngân hàng
và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra.
15
Nguyên lý 3: Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các “đại gia”
bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân hàng.
Nguyên lý 4: Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng
cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những điều kiện không lành mạnh liên quan đến
khoản tín dụng ngân hàng.
Nguyên lý 5: Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi
xuống, hoặc những nghành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiện
những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển( ví dụ như xuất hiện các đối thủ cạnh tranh
mới, hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương pháp
phân phối mới)
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, và rất cần thiết để hình thành
+ Nợ quá hạn của các hộ sản xuất cá thể
- Căn cứ theo khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi 100%
+ Nợ quá hạn có khả năng thu hồi một phần
+ Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
- Căn cứ theo loại nguyên tệ
+ Nợ quá hạn bằng VNĐ
+ Nợ quá hạn bằng ngoại tệ
- Căn cứ theo thời hạn của khoản vay
+Nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn
+ Nợ quá hạn của các khoản vay trung và dài hạn
- Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh
+ Nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan
+ Nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan
Các khoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại thành 5 nhóm
theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005:
Nếu khách hàng không thực hiện những cam kết theo thỏa thuận trong hợp đồng
tín dụng và theo cam kết trên các giấy nhận nợ, có thể xử lý như sau:
- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ:
Cơ cấu lại thời hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ
vay đối với các khoản nợ vay của khách hàng. Các tổ chức tín dụng tự quyết định việc
17
cơ cấu lại thời hạn trả nợ, trên cơ sở khả năng tài chính của mình và kết quả đanh giá
khả năng trả nợ của khách hàng vay
- Miễn, giảm lãi tiền vay:
Khách hàng bị tổn thất về tài sản có liên quan đến vốn vay do nguyên nhân khách
quan, dẫn đến khó khăn tài chính có thể làm đơn đề nghị ngân hàng xem xét miễn,
giảm lãi tiền vay
- Chuyển nợ quá hạn
Nếu đến hạn trả nợ, khách hàng không trả được nợ và không được chấp thuận cho
nợ trong các trường hợp sau:
- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể phá sản theo quy định của
pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích.
- Các khoản nợ thuộc nhóm 05, riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý,
tổ chức tín dụng được sử dụng dự phòng (nếu có) để xử lý rủi ro.
Nguyên tắc sử dụng dự phòng cụ thể là xử lý rủi ro tín dụng một quý 1 lần theo
nguyên tắc:
- Phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, khẩn trương theo thỏa thuận với khách
hàng và theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.
- Sử dụng dự phòng cụ thể theo quy định.
- Trường hợp phát mại không bù đắp đủ cho rủi ro tín dụng của khoản nợ thì sử
dụng dự phòng chung để xử lý.
Việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng không phải là
xóa nợ cho khách hàng. Tổ chức tín dụng và cá nhân có liên quan không được phép thông
báo dưới mọi hình thức cho khách hàng biết về việc xử lý rủi ro tín dụng.
Sau khi đã sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, tổ chức tín dụng phải
chuyển các khoản nợ đã được xử lý rủi ro tín dụng từ hạch toán nội bảng sang hạch toán
ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và có các biện pháp thu hồi nợ triệt để.
Trường hợp số tiền dự phòng không đủ để xử lý toàn bộ rủi ro tín dụng của các
khoản nợ phải xử lý, tổ chức tín dụng hạch toán trực tiếp phần chênh lệch thiếu của số tiền
dự phòng vào chi phí hoạt động.
Trường hợp số tiền dự phòng đã trích còn lại lớn hơn số tiền dự phòng phải
trích, tổ chức tín dụng phải hoàn nhập phần chênh lệch thừa theo quy định của pháp luật
về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng.
Tổ chức tín dụng phải thành lập Hội đồng xử lý rủi ro do Chủ tịch Hội đồng quản
trị làm Chủ tịch và các thành viên gồm Trưởng ban kiểm soát, phụ trách bộ phận kế toán,
phụ trách bộ phận tín dụng, quản lý tín dụng và các thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng
quản trị quyết định.
2.2.4. Chỉ tiêu đánh giá kết quả công tác quản trị RRTD
19
mà Ngân hàng kỳ vọng đạt được khi gánh chịu các rủi ro này. Chiến lược rủi ro được xây
20
dựng bởi Hội đồng quản trị, do Ban điều hành thi hành, thực hiện bởi bộ phận quản lý rủi
ro và am hiểu bởi tất cả các cán bộ trong ngân hàng.
Nguyên tắc 2: Ban (tổng) giám đốc có trách nhiệm thực hiện chiến lược rủi ro tín
dụng được hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách và thủ tục nhằm phát
hiện, đo lường và theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng. Các chính sách và thủ tục này phải
nhằm vào rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động của Ngân hàng và ở mức từng khoản tín
dụng cũng như ở mức toàn bộ danh mục đầu tư.
Nguyên tắc 3: Ngân hàng cần phát hiện và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản
phẩm và hoạt động. Ngân hàng cần bảo đảm rằng các rủi ro của các sản phẩm và hoạt
động mới nằm trong phạm vi các thủ tục quản lý rủi ro và kiểm soát đầy đủ trước khi
được đưa vào sử dụng hay thực hiện, và được hội đồng quản trị hay uỷ ban thích hợp chấp
thuận trước.
2.3.1.2. Chính sách tín dụng và quy trình
- Chính sách tín dụng của ngân hàng là cơ sở quan trọng để đảm bảo cho hoạt động
tín dụng đi đúng quỹ đạo, góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại của một
ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ có tác dụng hạn chế rủi ro tín dụng, thu
hút thêm khách hàng, phân tán rủi ro, tuân thủ theo pháp luật, chấp hành tốt chính sách
của nhà nước, đảm bảo khả năng sinh lời cho ngân hàng cũng như tạo động lực cho nền
kinh tế và xã hội phát triển. Mỗi ngân hàng thương mại đều có những đặc điểm riêng, vì
vậy muốn quản trị được rủi ro tín dụng phải xây dựng chính sách, quy trình tín dụng phù
hợp với ngân hàng mình trong từng giai đoạn cụ thể. Một ngân hàng được coi là hoạt
động trong quy trình lành mạnh khi:
+ Thiết lập các tiêu chí cụ thể cho cấp tín dụng, từ việc cấp tín dụng lần đầu đến
việc việc gia hạn nợ, mở rộng nhằm đảm bảo mọi khoản tín dụng đều được giám sát, quản
lý chặt chẽ, đặc biệt là đối với khách hàng có quan hệ với ngân hàng.
+ Xây dựng các giới hạn rủi ro cho từng khách hàng, nhóm khách hàng liên quan,
cả đối với các giao dịch nội bảng cũng như ngoại bảng; giới hạn theo cấp thẩm quyền.
- Quy trình tín dụng bao gồm những quy định cần thiết thực hiện trong quá trình
công của hoạt động quản trị. Trong quản trị rủi ro tín dụng, con người có trình độ, năng
lực, khả năng tư duy và có đạo đức nghề nghiệp là yếu tố tác động chủ yếu đến hiệu quả
của công tác quản trị rủi ro tín dụng. Cán bộ bộ phận quản lý rủi ro tín dụng hàng ngày
phải xử lý các nghiệp vụ có tính biến động, vì vậy đòi hỏi phải được tuyển chọn cẩn trọng,
được bố trí hợp lý, được đào tạo bài bản và phải đảm bảo một số tiêu chuẩn sau:
22
Phải có kiến thức kinh tế, khoa học kỹ thuật và xã hội, nắm vững chuyên môn và
các nghiệp vụ ngân hàng; Phải có đạo đức, lương tâm và trách nhiệm nghề nghiệp cao;
Phải có bản lĩnh, kinh nghiệm nghề nghiệp (đặc biệt là kinh nghiệm tín dụng).
2.3.1.4. Hệ thống kiểm soát, theo dõi đo lường rủi ro tín dụng
Đây chính là hệ thống hạ tầng kỹ thuật (phần cứng) trong hạ tầng quản lý rủi ro tín
dụng. Các công cụ chính sách, phương pháp, con người chính là hạ tầng mềm. Hạ tầng
mềm chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có sự hỗ trợ của hạ tầng kỹ thuật. Vì vậy, vai trò
của hệ thống kiểm soát, theo dõi đo lường rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớn đối với quá
trình quản trị rủi ro.
Hệ thống kiểm soát, theo dõi đo lường rủi ro tín dụng đảm bảo:
- Quản lý liên tục các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng.
- Theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự
phòng và dự trữ. Theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng.
- Có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thống nhất với bản chất, quy mô và mức
độ phức tạp của các hoạt động của Ngân hàng.
- Có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để cho phép lãnh đạo đo lường
được rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội bảng và ngoại bảng. Hệ thống thông tin quản
lý phải cung cấp đầy đủ thông tin về cơ cấu của danh mục đầu tư tín dụng, bao gồm xác
định sự tập trung rủi ro.
- Hệ thống cần tính đến những thay đổi tiềm năng trong tương lai về các điều kiện
kinh tế khi đánh giá từng khoản tín dụng và danh mục đầu tư và phải đánh giá các tài sản
có tiềm năng rủi ro tín dụng trong điều kiện căng thẳng.
2.3.1.5. Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng là vô cùng quan
nợ, sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.
- Năng lực tài chính, kinh doanh, uy tín của khách hàng là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hàng bởi nếu khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh,
hoạt động kinh doanh ổn định, có uy tín thì khi có biến cố xảy ra, khách hàng có khả năng
chống đỡ rủi ro bằng vốn chủ sở hữu và hạn chế ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nghĩa
vụ với ngân hàng.
2.3.2.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế có tác động rất lớn đến quá trình quản trị rủi ro tín dụng của
ngân hàng. Ngân hàng phải thường xuyên xem xét lại chiến lược quản trị rủi ro khi có sự
24
biến động của môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế,
các chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa, cụ thể:
- Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt
động tín dụng nói riêng. Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ
tăng trưởng và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng thì hoạt
động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro cao. Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển với tốc độ
thấp, biểu hiện tính suy thoái, sản xuất kinh doanh của các khách hàng bị thu hẹp, không
hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng bị thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân
hàng lúc này vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro, không thu
được nợ sẽ tăng lên.
- Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế, chính
sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởi các chính
sách này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các khách hàng của ngân hàng.
Khi Chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuất trong nước của
một ngành nào đó bằng cách đề ra hạn ngạch xuất khẩu, hoặc cấm nhập hay tăng thuế
nhập khẩu và ngược lại, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giá đồng nội tệ thì cũng gián
tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng. Một đất nước mà các chính sách kinh tế
thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của
các khách hàng và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng.
- Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới, vì thế sự biến