MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ
HỌC CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Thực hiện mục tiêu giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu của
đất nước trong thời kỳ mới, thì việc lựa chọn và đổi mới phương pháp dạy học là
yếu tố hết sức quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối
với giáo dục. Bộ Giáo dục - Đào tạo đã chủ trương đổi mới chương trình tiểu học
theo các mục tiêu: Tiếp tục tăng cường thực hiện giáo dục toàn diện (đức - trí -
thể - mỹ - và các kỹ năng cơ bản) đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa các lĩnh vực
học tập và giáo dục ở nhà trường tiểu học. Bởi vậy, yêu cầu của giáo dục hiện
nay là phải đào tạo con người phát triển toàn diện. Trong đó tiếng mẹ đẻ (tiếng
phổ thông) là một trong những điều kiện đầu tiên quyết định, giúp học sinh nắm
bắt được tri thức một cách dễ dàng.
Chính tả là một phân môn của môn Tiếng Việt, là những chuẩn mực của ngôn
ngữ viết, được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của việc dạy chính
tả là trở thành phương tiện thuận lợi cho việc giao tiếp bằng chữ viết, bảo đảm
cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã viết. Chính tả
trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, một sự quy định có tính chất bắt
buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt
có tính chất sáng tạo cá nhân. Một ngôn ngữ văn hoá không thể không có chính
tả thống nhất. Chính tả thống nhất là một trong những biểu hiện của trình độ văn
hoá phát triển của một dân tộc.
Phân môn Chính tả trong nhà trường, rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói
quen viết chữ ghi Tiếng Việt đúng với chuẩn, cùng với tập viết, tập đọc, Chính tả
giúp cho người học chiếm lĩnh được Tiếng Việt văn hóa, công cụ để giao tiếp, tư
duy và học tập. Đối với người sử dụng Tiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ
nhìn thấy trực tiếp các bài viết của học sinh, tôi đã phát hiện ra không ít những
lỗi sai cơ bản về chính tả mà học sinh lớp tôi chủ nhiệm mắc phải. Tôi không
khỏi suy nghĩ và trăn trở: Vậy phải làm thế nào đây để học sinh của tôi viết
chính tả cho đúng, cho đẹp, vì điều đó là vô cùng quan trọng, nó là sự liên quan
chặt chẽ giữa phân môn Chính tả với tất cả các môn học khác. Nhìn thấy được
tầm quan trọng đó, tôi đã nhanh chóng bắt tay ngay vào việc tìm ra các giải pháp
trước mắt, xây dựng các biện pháp cụ thể để nhằm giúp học sinh lớp tôi nâng cao
chất lượng chữ viết, cũng chính là “ Nâng cao chất lượng giờ học chính tả”.
II. Thực trạng dạy học phân môn Chính tả trong nhà trường tiểu học
hiện nay
1. Thuận lợi:
- Năm học XXX tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B. Lớp gồm
28 em (12 nữ, 16 nam). Hầu hết các em đều ngoan ngoãn, biết nghe lời thầy cô
dạy bảo, chịu khó học tập.
- Được Ban Giám hiệu nhà trường cùng với phòng Giáo dục - Đào tạo quan tâm.
- Đồ dùng và thiết bị dạy học được trang bị khá đầy đủ.
- Với sự đổi mới chương trình học hiện nay, các em được học tập rất tốt, phù
hợp với khả năng của mình. Đây là điều kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy.
2. Khó khăn:
- Học sinh lớp tôi phụ trách đa phần là con gia đình nông nghiệp và ngư nghiệp,
cuộc sống khó khăn, bấp bênh, trình độ dân trí chưa cao nên việc chăm lo đến
việc học tập của một số bộ phận phụ huynh đối với con em còn rất hạn chế. Có
nhiều em đi học còn hay quên vở hay bút, sách
- Phân môn Chính tả theo phân phối chương trình chỉ có 1 tiết / 1 tuần, như vậy
là ít, nên việc rèn luyện chữ viết đúng, viết đẹp cho học sinh còn nhiều hạn chế.
3
Vì lẽ đó mà bài làm khảo sát chữ viết đầu năm lớp tôi có chất lượng như sau:
STT Chữ viết Số lượng(em) Tỉ lệ(%) Xếp loại
1 Chữ viết đúng, đẹp 0 em 0
2 Chữ viết đúng mẫu (chưa đẹp) 1 em 3,6% A
để học sinh được học theo khả năng, đây là điều cần thiết trong việc nâng cao
chất lượng giờ Chính tả. Nếu như không phân loại đối tượng học sinh sẽ khó cho
việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Vì vậy
sau khi ổn định tổ chức lớp trong vòng hai tuần đầu, tôi đã từng bước tiến hành
điều tra học sinh. Qua bài kiểm tra đầu năm của các em, qua thực tế 2 bài viết
trong 2 tuần đầu, ngoài ra tôi còn tham khảo thêm qua giáo viên dạy các em năm
trước. Sau đó tôi tiến hành phân loại học sinh theo tiêu chí chữ viết:
- Những em viết đúng mẫu nhưng chưa đẹp, hoặc viết đẹp nhưng chưa đúng
mẫu được xếp loại A (có 5 em) đó là các em: Hưng, Hoàng Dung, Nguyễn Anh,
Uy, Nhung.
- Những em viết đúng chính tả nhưng sai thế chữ, chữ viết còn cẩu thả được xếp
loại B (có 10 em) đó là: Tô Sơn, Thuỳ Trang, Vũ Trang, Phạm Phương, Trọng,
Phạm Anh, Chiến, Bình, Thuý, Khánh.
- Những em viết sai nhiều lỗi về âm, vần, dấu thanh xếp loại C (gồm 13 em) như
em Tình, Dân, Văn, Cương, Trường, Đới Phương, San, Nguyễn Sơn, Tuyết,
Thắm, Hằng, Thắng, Thương.
Qua điều tra tôi chia học sinh thành ba nhóm. Hàng ngày, hàng giờ trên lớp tôi
quan tâm gần gũi đặc biệt tới các em, tạo ra các nhóm thi đua học tập, phân công
những em chữ viết khá trong lớp kèm cặp, động viên, giúp nhau cùng rèn luyện.
Từ việc phân loại đúng đối tượng học sinh tôi tiến hành đi vào xây dựng nề nếp
lớp.
2. Xây dựng nề nếp tự quản, thi đua học tập, rèn tác phong khi ngồi viết
chính tả.
5
Ngay sau khi phân loại học sinh theo nhóm chữ viết, tôi bắt tay ngay vào việc
xây dựng nề nếp tự quản, tự học, nề nếp thi đua học tập vì tôi thiết nghĩ trong
dạy chính tả mọi hoạt động học tập đều phải là hoạt động có ý thức, học sinh
phải thấy rõ được tầm quan trọng của chính tả trong quá trình học để từ đó xây
dựng cho mình ý thức tự học, học theo bạn (tạo ra những nhóm tự học trong lớp
để học sinh có cơ hội giúp đỡ nhau), đánh giá nhận xét kịp thời để tạo không khí
nhanh chóng lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học trong từng dạng
bài chính tả.
3. Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học phù hợp.
Phân môn Chính tả lớp 4 có hai dạng bài cơ bản đó là: Dạng bài chính tả
đoạn - bài và dạng bài chính tả âm - vần.
* Dạng bài chính tả đoạn - bài có hai dạng bài cơ bản đó là: chính tả nghe - viết
và chính tả nhớ - viết.
* Dạng bài chính tả âm - vần là các dạng bài tập chính tả.
Việc lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp theo từng dạng bài hết sức
cần thiết. Phương pháp dạy phân môn chính tả không chỉ có một mà là có rất
nhiều phương pháp thích hợp để giáo viên có thể lựa chọn cho phù hợp với từng
dạng bài chính tả. Tôi đã lựa chọn các phương pháp sau đây để áp dụng vào từng
dạng bài chính tả trong quá trình giảng dạy cho học sinh:
- Phương pháp điều tra, phân loại.
- Phương pháp quan sát (trực quan)
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp gợi mở, vấn đáp.
- Phương pháp luyện nói.
- Phương pháp thực hành.
- Phương pháp trò chơi.
3.1. Dạng bài chính tả đoạn - bài
3.1.1. Dạng bài chính tả nghe - viết: Đặc điểm của loại chính tả này là học sinh
nghe từng câu, từng đoạn do giáo viên đọc (có bài được trích trong các bài tập
7
đọc đã học, có bài lấy từ bên ngoài), nhẩm lại để xác định hình thức viết của
từng từ, rồi viết. Việc nghe hiểu ở đây giữ vai trò quan trọng đặc biệt, có tác
dụng quyết định đối với việc viết đúng chính tả của học sinh.
* Yêu cầu đối với giáo viên khi dạy dạng bài chính tả này giọng đọc cần phải
thong thả, rõ ràng. Điều quan trọng nhất là giáo viên cần phải phát âm chính
xác. Khi đọc từng câu giáo viên chỉ đọc mỗi câu 2 lần, trường hợp đọc câu dài,
dấu hai chấm, mở ngoặc kép.
- Tổ chức cho HS tập viết vào giấy nháp những từ, tiếng khó dễ sai.
VD: dụ, loan tin, quắp đuôi
- Giúp học sinh phân tích cấu tạo chữ ghi các từ (tiếng) để học sinh phân biệt
chính tả, tránh viết sai lỗi.
VD: d + u + thanh nặng = dụ khác với giụ, rụ
l + oan + thanh ngang = loan khác với loang, noan, noang
qu + ăp + thanh sắc = quắp khác với quắc, quắt
- GV đọc bài viết từng câu hay cụm từ 2 lần - HS viết bài (hoặc HS chép bài
theo trí nhớ)
- GV đọc lại bài viết - HS soát bài (HS đổi chéo bài tự soát lỗi)
c. Chấm và chữa bài chính tả:
- Mỗi giờ Chính tả, tôi chọn chấm 1/3 bài của HS. Đối tượng được chọn chấm
bài ở mỗi giờ là :
+ Những HS đến lượt được chấm bài.
+ Những học sinh viết hay mắc lỗi, cần được rèn luyện.
Qua những bài chấm đó tôi rút ra nhận xét và nêu hướng khắc phục lỗi chính
tả cho cả lớp. Tôi giúp cả lớp tự kiểm tra lại bài và chữa lỗi chính tả như: GV
viết sẵn bài viết lên bảng phụ; học sinh tự đổi chéo vở và tự kiểm tra vở cho
nhau; có khi tôi đọc lại từng câu chỉ dẫn cách viết từng chữ dễ sai chính tả sau đó
học sinh tự rà soát lại bài viết của mình.
9
* Với cách dạy một bài chính tả đoạn bài như trên tôi nghĩ rằng chất lượng
không chỉ chữ viết mà khả năng tư duy của học sinh lớp tôi sẽ dần dần được
nâng lên.
3. 2. Dạng bài chính tả âm - vần.
Chính tả âm - vần chính là các dạng bài tập của phân môn Chính tả. Thông qua
các bài tập chính tả rèn luyện cho học sinh cách phát âm, củng cố nghĩa từ, trau
dồi về ngữ pháp tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy cơ bản
như so sánh, liên tưởng, ghi nhớ Ngoài ra thông qua nội dung các bài tập chính
* Kiểu bài tìm tiếng có nghĩa trong bảng kết hợp phụ âm đầu - vần.
* Kiểu bài đặt câu để phân biệt các từ có hình thức chính tả dễ lẫn.
* Kiểu bài giải câu đó để phân biệt các từ có hình thức chính tả dễ lẫn.
* Kiểu bài tìm từ láy phù hợp với mô hình cấu tạo đã cho.
Mỗi một kiểu bài tập cần có mỗi cách tổ chức khác nhau để tạo sự hào hứng,
thích thú cho học sinh trong học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học chính tả
âm - vần.
3.2.3. Luyện viết đúng phụ âm đầu.
Trong bài chính tả nghe - viết học sinh phải qua ba hoạt động: tai nghe - mồm
đọc thầm - tay viết. Lời đọc của thầy phải một lần thông qua lời đọc của trò mới
thể hiện thành chữ viết trong bài chính tả. Nếu thầy đọc đúng nhưng trò nhận sai
thì vẫn cứ viết sai. Từ những điều vừa nói trên ta có thể đi tới kết luận: Kết hợp
với rèn phát âm khi dạy chính tả cực kỳ quan trọng.
Để giúp học sinh viết đúng một số phụ âm đầu dễ lẫn lộn như ch/tr; x/s; gi/d /r;
ng/ngh/gh, l/n, trong mỗi giờ chính tả tôi kết hợp nhiều phương pháp dạy học
một cách linh hoạt, trong từng bài cụ thể đối với từng cặp phụ âm mà học sinh
hay sai để cho bài dạy sinh động, giúp các em dễ phân biệt được cách viết đúng,
sai. Chẳng hạn, với phương pháp trực tiếp, tôi cho học sinh nghe, đọc, nhận xét
các chữ viết đúng bằng mắt, tập viết vài lần chữ khó vào vở nháp cho quen tay.
Bước đầu tôi đọc toàn bài, sau đọc từng câu, từng cụm từ, chú ý nhấn mạnh
những tiếng khó để luyện tập cách nghe cho học sinh. Tiếp theo tôi đặt câu hỏi
11
bằng phương pháp gợi mở vấn đáp để giúp các em nhận ra những tiếng, từ các
em hay viết sai. Sau đó tôi cho một số em nhắc lại một số quy tắc chính tả, các
em đã được học.
- Những âm đi với “K” chỉ có thể là: e, ê, i, y ( VD: kể; kẻ, kỉ, kỹ…)
- Những âm còn lại đi với “C”: o, ơ, a, u…. ( VD: có, cô, ca, cụ…)
- Những âm đi với “gh, ngh” chỉ có thể là: e, ê, i (VD: ghế; ghé; ghi, nghỉ;
nghé….)
Sau khi các em nhắc lại được một số quy tắc chính tả, thì cho các em được
r ra lệnh, ra vào,
ra mắt, rà soát, rã
rời,
Rong chơi, đi
rong, rong biển,
bán hàng rong,
rộng rãi, rỗng,
rồng, nhà rông,
rửa sạch, thối
rữa, dao rựa,
d da thịt, da trời,
giả da,
dòng nước, dõng
dạc, dong dỏng,
dỏng tai,
cơn giông quả dưa, quả
dừa, dứa gai,
gi gia đình, tham
gia, giá cả, giá
đỗ, giã gạo, giả
dối, già nua,
giong buồm,
gióng hàng,
giọng nói, giong
trống mở cờ,
giống nhau,
giống nòi,
giữa chừng, ở
giữa,
Gợi ý cho học sinh điền từ bằng cách dùng câu hỏi gợi ý. Em hãy ghép các từ
giặc”.
+ Những em thắng cuộc được tôi khen ngợi và cả lớp thưởng một tràng vỗ tay
khuyến khích.
Để phân biệt được s/x tôi đưa ra cho các em nhiều dạng bài tập như dạng câu
đố giúp học sinh học tập sôi nổi hơn. Từ đó các em làm quen và biết cách dùng
đúng khi viết chính tả.
c. Hoặc dạng bài tập: Tìm các từ láy chứa tiếng bắt đầu bằng s hay x :
14
VD: - suôn sẻ, sạch sẽ, sẵn sàng, sung sức, sung sướng, sù sì, sùng sục,….
- xôn xao, xanh xao, xu xu, xụt xịt, xụt xùi, xinh xinh,…
Với những dạng bài tập trên tôi đều tổ chức cho các em trao đổi theo nhóm. Sau
đó đại diện nhóm lên thực hiện hay trình bày, các nhóm khác nhận xét bổ sung,
giáo viên chốt lại lời giải đúng, để tuyên dương những nhóm làm đúng. Để giúp
học sinh lớp tôi viết đúng chính tả, cũng như biết phân biệt được các phụ âm
đầu, tôi thường linh hoạt khi dạy chính tả như (dạy tiết 5 tuần 5). Các bài tập
trong sách giáo khoa được đưa ra phân biệt l/n hoặc en/eng, cho các em được
luyện đọc, viết nhiều và từ việc hiểu nghĩa của từ các em dễ nhớ và viết đúng
chính tả.
Với việc dạy phân biệt ?/∼ hay tr/ch các em hay nói sai và dẫn đến viết sai, nên
tôi luôn luyện cho các em như các hình thức luyện tập s/x nói trên. Khi dạy chính
tả, trước khi viết bài tôi luôn coi trọng việc tìm luyện viết chữ khó (chữ các em
hay viết sai) trong bài. Đối với bước luyện viết từ khó này, ở tiết nào tôi cũng
thực hiện và trước hết cho các em tìm trong đoạn bài viết những từ nào em thấy
khó viết, học sinh nêu ra trước lớp sau đó giáo viên cho các em được luyện viết
trên giấy nháp và gọi vài em lần lượt lên bảng viết, học sinh và giáo viên nhận
xét đúng - sai.
Song song với việc phân biệt phụ âm đầu, tôi luyện cho các em viết đúng các
vần khó trong các tiếng, từ.
3.2.4. Luyện viết đúng tiếng có vần khó.
Trong quá trình viết các em thường gặp phải những tiếng, từ có vần khó: uyu/
trường hợp. Nên góp phần cũng cố, khắc sâu hơn cho học sinh những khả năng
chính tả.
- Trường hợp, những em học sinh yếu, chuyên viết sai lỗi chính tả thì không tự
phát hiện được lỗi của bạn. Đối với những em này, giáo viên đi đến từng em để
hướng dẫn cách sửa lỗi. Từ đó giúp các em có thể nắm bắt được luật chính tả
một cách thuận tiện.
16
- Thông qua việc tự chữa lỗi của các em, tôi đã giáo dục các em tính cẩn thận,
chính xác, không để sai sót đồng thời cũng kết hợp giáo dục lòng trung thành
cho các em, sai lỗi nào bảo bạn sửa lỗi ấy.
- Hình thành ý thức giữ gìn đồ dùng của bạn cũng như của mình (giữ vở sạch,
viết chữ đẹp), không được làm rách, bẩn vở của bạn trong quá trình chữa soát
lỗi.
- Hình thành ở các em ý thức nhiệm vụ được giao (tính tự giác).
Để thực hiện mục tiêu này, tôi tiến hành thường xuyên đối với tất cả các tiết
Chính tả. Tạo cho các em thói quen và giữ trật tự khi trao đổi bài. Tôi luôn tuyên
dương và khuyến khích những em viết đúng, viết đẹp. Với những biện pháp trên,
học sinh rất thích viết đúng và đẹp để cho bạn không tìm ra lỗi sai của mình và
được cô khen trước lớp. Chính vì thế chỉ một thời gian không lâu tôi đã thu được
kết quả đáng khả quan.
3.4. Luyện viết chữ đúng, đẹp.
Để nâng cao chất lượng giờ Chính tả, thì việc luyện chữ viết cho các em là rất
cần thiết. Viết đẹp nó còn thể hiện được tính cách của con người “Nét chữ - nết
người”. Trong lớp tôi dạy có rất nhiều em viết chữ chưa đẹp vì nhiều lý do. Đó là
các em viết chưa đúng kích cỡ: độ cao, rộng của các con chữ, khoảng cách giữa
các chữ hay các con chữ chưa đều, các nét chữ chưa liền mạch….Khắc phục
những tình trạng trên tôi đã lập kế hoạch sử dụng các biện pháp khác nhau áp
dụng để từng đối tượng. Tôi hướng dẫn các em cách nhớ độ cao con chữ bằng
cách chia độ cao các chữ cái thành 4 nhóm (đối với chữ viết thường).
- Nhóm 1: Nhóm chữ cao 1 đơn vị như: a, ă, â, c, e, ê, i, n, m, o, r, s, u, v, x…
học tôi đều giao bài luyện viết về nhà, bài viết chỉ là một hoặc hai khổ thơ, một
đoạn văn ngắn nhưng yêu cầu viết phải đúng mẫu chữ hiện hành, viết đẹp, trình
bày bài phải khoa học, phải viết lại nhiều lần nếu chưa đúng, chưa đẹp. Đầu buổi
học hôm sau tôi thu chấm và nhận xét, đánh giá, tuyên dương khen ngợi những
học sinh có tiến bộ. Và cứ như vậy, sau một thời gian lớp tôi có nhiều em viết
chữ đẹp và đúng mẫu như: em Hưng, em Dung, em Nhung… và nhiều em từ loại
18
C lên B như: em Trường, em Tình, em Thắng, em Thương… và từ loại B lên loại
A như: em Phạm Anh, em Tô Sơn, em Phạm Phương ….
Đây là một thành công lớn của tôi và sự tiến bộ của các em là nguồn động
viên, khuyến khích tôi càng hăng say thực hiện mong muốn của mình.
5. Kiểm tra, đánh giá học sinh theo tuần học, tháng học và kì học.
Kiểm tra đánh giá là việc làm không thể thiếu của người giáo viên đứng lớp
nắm bắt kết quả rèn luyện chữ viết của học sinh một cách kịp thời để đưa ra các
biện pháp thích hợp nhất trong quá trình dạy học. Vì vậy, tôi luôn giành thời gian
thường xuyên kiểm tra kết quả rèn luyện của các em bài ở lớp cũng như ở nhà.
Mặt khác, từng tuần, từng tháng, từng kì học tôi tổ chức thi vở sạch, chữ đẹp,
giám khảo là những tổ trưởng, giáo viên giám sát học sinh chấm và nhận xét vở
sạch, chữ đẹp của tổ khác và nếu tổ nào có nhiều (A*) thì tổ đó thắng và được
ghi thành tích vào thi đua của tổ, bình bầu những cá nhân có bài viết xuất sắc để
khen thưởng, quà tặng là những bông hoa điểm 10, những tràng vỗ tay nhiệt tình
của các bạn trong lớp chính là những nguồn động lực thúc đẩy các em phấn
đấu, thi đua với nhau, tạo không khí hào hứng học tập, sự ganh đua lành mạnh
trong tổ, trong lớp học. Chính vì vậy chất lượng chữ viết lớp tôi phụ trách luôn
đứng đầu trong trường.
PHẦN III
KẾT LUẬN
I. Kết quả thực hiện.
Từ những giải pháp và biện pháp tôi đã vận dụng thực hiện trong quá trình dạy
học đã đem lại kết quả khả quan, cụ thể như sau:
Tôi xin chân thành cảm ơn./
20