Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG
VŨ THỊ THU NGÀ ĐỀ TÀI
VẤN ĐỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT QUA SỰ PHÁN ÁNH CỦA
BÁO CHÍ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ



HÀ NỘI-2008 BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ADA
Bộ Luật về người khuyết tật Hoa Kỳ
ASVHO
Hội bảo trợ Người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam
BLDTBXH
Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội
BTC
Bộ Tài Chính
BYT
Bộ Y Tế
EU
Hội đồng Châu Âu
ICF
phân loại quốc tế về sức khoẻ, chức năng và khuyết tật
ILO

13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
13
5. Phương pháp nghiên cứu
13
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
14
7. Kết cấu
15
PHẦN NỘI DUNG
16
Chương 1: Lý luận chung về vấn đề người khuyết tật và báo chí
16
1.1 Tổng quan về vấn đề người khuyết tật
16
1.1.1 Người tàn tật hay khuyết tật
16
1.1.2 Các khái niệm liên quan tới người khuyết tật
19
1.1.3 Người khuyết tật trên thế giới
22
1.1.4 Người khuyết tật ở Việt Nam
24
1.1.5 Các chính sách xã hội liên quan tới vấn đề người khuyết tật
27
1.2 Báo chí và vấn đề người khuyết tật
30
1.2.1 Các căn cứ pháp luật về việc phản ánh vấn đề người khuyết tật
30
1.2.2 Nhiệm vụ của báo chí trong việc phản ánh về vấn đề người

47
2.2.2.1 Báo chí phát hiện, phản ánh đời sống khó khăn của người
khuyết tật và những hoàn cảnh cần giúp đỡ
47
2.2.2.2 Đăng tải chủ trương, chính sách của Nhà nước và giám sát việc
thực hiện trong đời sống, xã hội
54
2.2.2.3 Tích cực cổ vũ, khích lệ những tấm gương vượt lên số phận,
những cá nhân và tập thể hết lòng vì người khuyết tật
70
2.2.3 Kết quả khảo sát trên 04 tờ báo và tạp chí
90
2.2.3.1 Số lượng tác phẩn viết về người khuyết tật
91
2.2.3.2 Các mảng đề tài phản ánh
91
2.2.3.3 Các thể loại báo chí thường dùng
92
2.2.3.4 Vị trí tác phẩm liên quan tới vấn đề người khuyết tật trên mặt
báo
93
2.2.4 Dư luận xã hội với việc phản ánh về vấn đề người khuyết tật trên
báo chí
94
2.2.5 Bài học kinh nghiệm
98
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng phản ánh về người
khuyết tật trên báo chí
101
3.1 Nâng cao chất lượng phản ánh của báo chí về vấn đề người
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Trong suốt một thời gian dài, ở nước ta, nhắc đến những người bị
khiếm khuyết về mặt thể chất hay tinh thần người ta thường nghĩ ngay tới
những đối tượng của công tác từ thiện hoặc là những người bị ốm đau cần
sự giúp đỡ, can thiệp về mặt y tế. Thậm chí từ sự khuyết tật nào đó, họ đã bị
coi là người tàn phế.
Bản thân người khuyết tật, do những hạn chế của mình cũng trở nên
tự ti, sống khép kín và chưa thực sự vươn lên khẳng định mình để hoà nhập
với cộng đồng xã hội.
Tháng 10 năm 2006, Công ước quốc tế bảo vệ quyền của người
khuyết tật đã được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua. Văn bản này đã
trở thành Công ước nhân quyền mới, đầu tiên của thế kỷ XXI, đánh dấu sự
chuyển biến quan trọng về nhận thức và thái độ đối xử của xã hội với 650
triệu người khuyết tật trên toàn thế giới. Công ước này cũng đã xoá hẳn cách
nhìn cũ về người khuyết tật. Người khuyết tật không còn là gánh nặng cho
gia đình và xã hội, họ cũng không còn là đối tượng cần được cưu mang và
giúp đỡ suốt cả đời mà là những công dân. Họ có quyền được hỗ trợ để bù
đắp những thiếu hụt, mất mát để tiến tới sự bình đẳng thực sự. Họ có quyền
được đóng góp công sức của mình cho xã hội và giá trị của sự đóng góp ấy
hết sức quý giá.
Trong bối cảnh ấy, việc thay đổi nhận thức của toàn xã hội về người
khuyết tật cũng như thay đổi nhận thức của chính bản thân người khuyết tật
về vấn đề này là một việc làm cần thiết, thể hiện sự quan tâm, ủng hộ của
Nhà nước ta với công ước đồng thời cũng thể hiện được chính sách nhân
đạo, “tương thân tương ái” vốn là truyền thống và là một nội dung chỉ đạo
không thể thiếu của của Đảng, Nhà nước ta.
Với ý nghĩa ấy, trong những năm qua, nước ta đã xây dựng được một

dân, trong thời gian qua, báo chí đã vào cuộc với những bài viết, tin, ảnh
phong phú, hấp dẫn và cập nhật về mọi mặt đời sống của người khuyết tật.
Bên cạnh đó, báo chí cũng đã tổ chức nhiều chương trình hoạt động góp
phần giúp đỡ, cải thiện và nâng cao đáng kể đời sống vật chất và tinh thần
cho người khuyết tật. Thực tế cho thấy, báo chí có vai trò hết sức to lớn
trong việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội về người khuyết tật.
Tuy nhiên, đề tài về người khuyết tật trên báo chí nước ta vẫn còn là
khá mới mẻ, bởi vậy vẫn còn nhiều điểm hạn chế. Một mặt, thông tin còn rời
rạc, sơ sài, cách thể hiện lại khiên cưỡng như là việc tôn sùng quá mức, mặt
khác, lại chưa có cái nhìn thẳng thắn chấp nhận hình ảnh người khuyết tật
bình đẳng trong cộng đồng xã hội như mọi công dân. Chính vì vậy, để xã hội
thực sự có nhận thức và hành động đúng đối với người khuyết tật, báo chí
cần có những hướng đi tích cực hơn nữa.
Qua khảo sát các tờ báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, báo Lao động và
Xã hội, Tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến tháng 7/2008, luận văn
góp phần làm rõ vai trò của báo chí nói chung trong việc phản ánh các vấn
đề về người khuyết tật, đồng thời rút ra những gợi ý cho việc thông tin lĩnh
vực này tốt hơn trên báo chí.
Với tầm quan trọng và ý nghĩa cấp thiết như vậy, tôi lựa chọn “Vấn đề
người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay ” làm đề tài luận văn
thạc sĩ báo chí của mình.
2. ịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua khảo sát, có thể thấy rằng việc nghiên cứu về báo chí đối với việc
phản ánh người khuyết tật là khá mới mẻ ở nước ta. Trong những năm gần
đây, mặc dù đã có nhiều cuộc nghiên cứu, khảo sát nhằm nâng cải thiện và
nâng cao đời sống kinh tế cho người khuyết tật, song những nghiên cứu
nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về người khuyết tật còn chưa
nhiều, trong đó có vấn đề phản ánh của báo chí – một kênh thông tin, tuyên
truyền quan trọng, chưa được tập trung đi sâu để tìm ra hướng và cách thức
phù hợp.

chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần nâng cao nhận thức,
thay đổi hành vi của xã hội đối với người khuyết tật;
- Phản ánh thực trạng tuyên truyền về người khuyết tật trên báo chí hiện
nay trên cơ sở khảo sát các báo: Thanh Niên, Hà Nội Mới, báo Nhân đạo và
Đời sống và tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến 7/2008.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
tuyên truyền về người khuyết tật trên báo chí.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm:
+ Các tác phẩm báo chí viết về người khuyết tật.
+ Khảo sát 04 tờ báo, tạp chí: Báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, Lao
động và Xã hội, Tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến tháng 7/2008.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên phương pháp lý luận của chủ nghĩa
Mác- Lê-Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật.
Cơ sở nghiên cứu thực tiễn của luận văn là thực tiễn phản ánh các vấn
đề liên quan tới người khuyết tật trên báo chí những năm gần đây.
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phân loại, so sánh,
lấy ý kiến chuyên gia để lý giải vấn đề. Đề tài kế thừa một cách có chọn lọc
những nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài cũng mở ra một hướng nghiên cứu, tiếp cận đối với lý luận và
thực hành báo chí - truyền thông hiện đại nói chung, góp phần nâng cao hiệu
quả tuyên truyền của báo chí.
Đây là đề tài tương đối mới trong lý luận báo chí học, mở ra một
hướng nghiên cứu về lĩnh vực đang rất được xã hội quan tâm và cũng là chủ
trương lớn của Đảng, Nhà nước, đó là nhận thức đúng về vị trí cũng như vai
trò của người khuyết tật trong xã hội.
Qua việc nghiên cứu lý luận về người khuyết tật, khảo sát việc phản

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Lý luận chung về người khuyết tật và báo chí
1. Tổng quan về người khuyết tật
1.1 Người tàn tật hay người khuyết tật
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm khoa học và tinh thần
lạc quan đã động viên anh em thương binh hãy luôn là những người “tàn
nhưng không phế”. Kể từ đó từ “tàn tật” đã trở thành một trong những từ
dùng để tình trạng thương tật, mất mát một phần cơ thể của những người
thương binh. Cùng với thời gian, từ “tàn tật” cũng đã được dùng để chỉ
những người không may mắn do nhiều nguyên nhân như bị tai nạn, bẩm sinh
dẫn đến các dị tật, khiếm khuyết về trí óc, cơ thể.
Khi nền kinh tế đất nước phát triển, vấn đề cải thiện, nâng cao đời sống
cho nhiều đối tượng yếu thế trong xã hội được đặt ra để từng bước giải
quyết. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chia sẻ, giúp đỡ của toàn xã
hội, trong những năm vừa qua, những người khiếm khuyết về thể chất hay
tinh thần cũng ngày được chăm lo, trợ giúp nhiều hơn. Đời sống của họ
được cải thiện, nâng cao rõ rệt. Người tàn tật có nhiều cơ hội để khẳng định
mình và hoà nhập với cộng đồng xã hội.
Bên cạnh đó, các chủ trương, Nghị quyết của Đảng cùng sự ra đời của
hệ thống các văn bản Pháp luật như: Pháp lệnh về người tàn tật, các Nghị
định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
của các bộ cùng hoạt động của các tổ chức như Hội bảo trợ Người tàn tật và
trẻ mồ côi Việt Nam(ASVHO), Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ
Người tàn tật Việt Nam (NCCD), Hiệp Hội sản xuất kinh doanh của Người

bản pháp luật hiện hành) đối với các công trình công cộng còn hạn chế, hệ
thống pháp luật chưa hoàn thiện, việc thực thi pháp luật đã có đối với người
tàn tật cũng không đầy đủ, có những quy định chưa đi vào cuộc sống và đặc
biệt nhận thức của xã hội đối với vấn đề tàn tật và người tàn tật còn khá
thấp, thì các nhà xã hội học khuyên dùng khái niệm “người khuyết tật” để
chỉ chung cho khái niệm “tàn tật” và “khuyết tật”.
Từ ngữ “khuyết tật” hay “người khuyết tật” có nghĩa khiếm khuyết khả
năng (thể chất hoặc tinh thần) của con người. Cũng có nghĩa, người khuyết
tật hoàn toàn vẫn còn một khả năng tham gia hoạt động xã hội.
Từ “khuyết tật” cũng có nghĩa tích cực hơn từ “tàn tật”; bản thân người
được gọi là khuyết tật cũng thấy vơi bớt sự mặc cảm, vươn lên một cách tích
cực hơn; gọi là người khuyết tật thì xã hội nhìn nhận họ cũng thêm gần gũi,
gắn bó hơn.
Chính vì vậy, việc dùng khái niệm “khuyết tật” còn tạo niềm tin cho
những người không may mắn, phá bỏ những rào cản trong xây dựng, giao
thông, đồng thời phá bỏ những rào cản trong nhận thức của xã hội về người
khuyết tật.
Ngoài ra, theo Tổ chức Y tế thế giới, về bản chất, cụm từ “tàn tật” lại
mang hàm ý chỉ hậu quả của xã hội, môi trường gây ra cho người khuyết tật.
Mặt khác, khái niệm tàn tật tồn tại trong khái niệm khuyết tật. Chính vì vậy
tháng 7 năm 2006, Hội thảo Khái niệm và từ ngữ về người tàn tật do Văn
phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) tổ
chức, đã thống nhất cách gọi những người khiếm khiết về thể chất hay tinh
thần là người khuyết tật.
Điều này cho thấy, dùng từ khuyết tật hay người khuyết tật cũng là phù
hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới trong
việc đi tìm một khái niệm, từ ngữ để nói về những người bị khiếm khuyết, dị
tật trong xã hội.
Vì những lý do nói trên, xin được chọn từ “khuyết tật” hay “người
khuyết tật” làm tên gọi thống nhất cho đối tượng được nói đến trong luận

năng và khuyết tật (ICF), trong đó xem xét các yếu tố cá nhân và môi trường
cũng như chức năng ở các mức độ khác nhau: cơ thể, cá nhân và xã hội.
Phân loại quốc tế về khuyết tật
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã được Quốc tế
công nhận năm 1980, thì người khuyết tật được phân theo 3 thể dạng sau:
Tổn thương: Các cơ quan hoặc các chức năng của con người ở đây có
thể xuất hiện trong sinh học - cơ thể, có dạng chi, chúng ta dễ dàng nhận biết
và chuẩn đoán được về nguyên nhân gây ra và hậu quả của tàn tật để lại.
Nhưng có dạng tổn thương trong cảm xúc - tư duy làm ta khó khăn hơn
trong nhận biết, phân loại.
Hạn chế: Các khả năng của con người bị hạn chế, xét theo nguyên tắc
là do tổn thương gây nên được so sánh giữa người cùng tuổi bị tổn thương
và người không bị tổn thương.
Sự bất lợi: Sự khuyết tật của con người là quá trình tổng thể về
“nguyên nhân và hậu quả”, nó tác động trực tiếp lên từng cá nhân và những
hậu quả xã hội.
Theo tài liệu của tổ chức CaRitas - Cộng hoà Liên bang Đức, dưới
góc độ khoa học và xã hội học: “Những người khuyết tật là những người
trong một chừng mực nhất định bị ảnh hưởng do hậu quả của một tổn
thương chức năng về cơ thể, trí tuệ hoặc tâm lý gây ra, làm cho các chức
năng sinh hoạt của bản thân họ hoặc một phần đời sống xã hội của họ gặp
phải khó khăn, rắc rối ”.
Trong Pháp lệnh về người tàn tật (chữ dùng trong văn bản pháp luận
hiện hành) của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã đưa ra những quy định về người khuyết tật, đó là: “Người bị
khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới
những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao
động, học tập gặp nhiều khó khăn”.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt
Nam, NXB VHTT, năm 1998, thì Khuyết có nghĩa là thiếu và không đầy đủ;

gia và tỷ lệ này sẽ tăng do điều kiện chăm sóc sức khoẻ và nguồn dinh
dưỡng kém, tỷ lệ dân số già đi ngày càng tăng và ở một số các nước khác là
nội chiến.
Người khuyết tật nói chung đang phải đối mặt với nạn thất nghiệp khá
trầm trọng. Họ thường xuyên bị loại trừ ra khỏi các hoạt động xã hội, giáo
dục và dạy nghề - những hoạt động mà có thể giúp họ thoát nghèo khi số
người này chiếm tới 20% trong tổng số người nghèo trên thế giới.
Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã bắt đầu ước tính chi phí khổng lồ
mất đi do loại trừ người khuyết tật ra khỏi dòng chảy kinh tế - xã hội.
Những chi phí này bao gồm tiền trợ cấp, tiền phúc lợi xã hội, thuế và các
nguồn thu khác của người khuyết tật có thể làm việc.
Theo Ngân hàng thế giới, GDP toàn cầu mất đi do loại trừ người
khuyết tật mỗi năm là khoảng từ 1,37 đến 1,94 nghìn tỉ USD . Đây là thiệt
hại kinh tế đối với xã hội của tất cả các ngành, các lĩnh vực trong đó bao
gồm cả lĩnh vực doanh nghiệp.
Chính vì vậy, Tổ chức Lao động thế giới (ILO) nhận định: không một
quốc gia nào có thể phát triển toàn diện khi có tỷ lệ dân số là người khuyết
tật chiếm khoảng 5 - 15% bị loại trừ khỏi dòng chảy phát triển kinh tế và xã
hội của quốc gia đó.
Nhận thức được vấn đề cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
người khuyết tật cũng chính là cải thiện sự phát triển toàn diện của xã hội, ở
châu Âu và nhiều nước phát triển trên thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động
nhằm khơi dậy tiềm năng của người khuyết tật từ những năm đầu thập niên
80 của thế kỷ XX. Cho đến nay, những hoạt động này tiếp tục được triển
khai và nhân rộng sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương và châu Phi.
Bên cạnh đó, ILO và Liên hiệp quốc cũng đã đưa ra những quy định
và chính sách nhằm đề cao quyền của người khuyết tật. Trong đó tập trung
vào việc nhấn mạnh, người khuyết tật có quyền được làm việc phù hợp và
tham gia đầy đủ vào các hoạt động của xã hội.
Nhóm hành động Vì việc làm và Chống đói nghèo trực thuộc Nhóm

1.4 Người khuyết tật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,
đất nước ta đã mất đi hàng triệu sinh mạng, còn hàng triệu người khác phải
mang thương tật suốt đời và thế hệ con cháu họ đến nay vẫn đang phải chịu
hậu quả của chất độc hoá học.
Bên cạnh hậu quả chiến tranh, trong hoà bình vẫn xảy ra rất nhiều
trường hợp bị khuyết tât do rủi ro trong lao động, tai nạn giao thông, do
bệnh tật, thiếu dinh dưỡng, các vấn đề về môi trường, thiên tai hoặc tật
nguyền bẩm sinh.
Theo số liệu điều tra của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
năm 2002, cả nước có khoảng trên 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,34%
dân số. Người khuyết tật ở rải rác trên 8 vùng lãnh thổ. Trong đó, ở vùng
nông thôn chiếm 87,2% và ở đô thị chiếm 12,8%.
Cũng theo cơ quan này, nguyên nhân gây ra tình trạng khuyết tật được
thể hiện như sau:
Nguyên nhân
Tỷ lệ (%)
Bẩm sinh
35,87
Ốm đau
32,34
Chiến tranh
25,56
Tai nạn nghề nghiệp
3,49
Tai nạn giao thông
1,16
Các nguyên nhân khác
1,57
Tổng

tật từ 6 tuổi trở lên không biết chữ và có trình độ từ tốt nghiệp phổ thông cơ
sở trở lên chỉ chiếm 19,5%. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật thì 93,4% số
người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn kỹ thuật.
Có khoảng 58% người khuyết tật tham gia làm việc, 30% chưa có việc
làm và mong muốn có việc làm ổn định. Thu nhập của người khuyết tật rất
thấp, thấp hơn có mức tiền lương tối thiểu.
Người khuyết tật ở nước ta hàng ngày phải đối mặt với rất nhiều rào
cản - từ những rào cản về mặt vật chất trong các toà nhà, trong giao thông và
nơi công cộng cho đến các rào cản về mặt sinh học trong vấn đề việc làm và
các chương trình công dân. Tuy nhiên, rào khó vượt qua nhất vẫn là rào cản
về mặt thái độ, nói cách khác là về mặt nhận thức của xã hội và của bản thân
người khuyết tật.
Rào cản này xuất phát từ sự không hiểu biết, sự sợ hãi, việc hiểu sai
lệch hoặc căm ghét của xã hội và bản thân người khuyết tật về chính vấn đề
khuyết tật
Trong suốt thời kỳ dài người khuyết tật bị chính cộng đồng phân biệt
và kỳ thị. Ngay trong gia đình của họ cũng có những suy nghĩ lệch lạc cho
rằng vấn đề khuyết tật là một điềm xấu và liên quan tới việc ăn ở của những
của gia đình, dòng tộc. Chính vì vậy họ có thái độ xấu hổ tránh né hoặc quan
tâm quá mức tới vấn đề này.
Những thái độ này khiến người ta không đánh giá đúng hoặc có sự trải
nghiệm đầy đủ với những tiềm năng mà người khuyết tật có thể có. Bởi vậy,
người ta thường chú ý vào sự khuyết tật của một ai đó hơn là chú ý vào khả
năng của họ.
Bản thân người khuyết tật cũng chưa có được suy nghĩ đúng đắn về
bản thân để tự tin khắc phục hạn chế, vươn lên hoà nhập với cộng đồng.
Thái độ thiếu tự tin, bi quan, an phận và ỷ lại thường khiến họ lâm vào trạng
thái bế tắc trong cuộc sống.
Trong những năm qua, một mặt Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
chính sách xã hội nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người khuyết tật,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status