1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ LAN HƯƠNG ĐỀ TÀI: ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VỀ GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC CỦA
SINH VIÊN ĐÃ TỐT NGHIỆP RA TRƯỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội – 2010
4
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 9
1. Lý do chọn đề tài 9
2. Mục đích nghiên cứu 10
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 11
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6. Giả thuyết khoa học 11
7. Phương pháp nghiên cứu 11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VÀ GIA
ĐÌNH 12
1. 1. Một số nghiên cứu về định hướng giá trị 12
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước 13
1.2. Một số nghiên cứu về gia đình. 16
1.2.1. Nghiên cứu ở nước ngoài 16
1.2.2. Nghiên cứu ở trong nước 19
1.3. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 21
1.3.1. Giá trị 21
1.3.2. Định hướng giá trị 27
1.3.3. Định hướng giá trị về gia đình hạnh phúc 32
1.3.4. Định hướng giá trị về gia đình hạnh phúc của sinh viên đã tốt nghiệp ra
6
Bảng các cụm từ viết tắt
ĐHGT
Định hướng giá trị
GĐHP
Gia đình hạnh phúc
GT
Giá trị
GĐ
Gia đình
SV ĐTNRT
Sinh viên đã tốt nghiệp ra trường
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 3.3: Các yếu tố cần thiết trong mối quan hệ vợ chồng 74
Bảng 3.4.1. Phẩm chất người chồng đảm bảo gia đình hạnh phúc 75
Bảng 3.4.1.1: So sánh giữa nam và nữ về phẩm chất cần có của người chồng đảm
bảo gia đình hạnh phúc 77
Bảng 3.4.2. Phẩm chất người vợ đảm bảo gia đình hạnh phúc 79
Bảng 3.4.2.2. So sánh giữa nam và nữ về phẩm chất người vợ đảm bảo gia đình
hạnh phúc 80
8 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.2. Mức độ ưu tiên các yếu tố tạo nên gia đình hạnh phúc 54
Biểu đồ 3.2.2: Tỷ lệ lựa chọn yếu tố kinh tế 62
Biểu đồ 3.4.1. Phẩm chất người chồng đảm bảo gia đình hạnh phúc 77
Biểu đồ 3.4.2. Phẩm chất người vợ đảm bảo gia đình hạnh phúc 80
Biểu đồ 3.5: Mô hình gia đình được ưa thích 83
Biểu đồ 3.5.1: So sánh ĐHGT của nam và nữ về mô hình gia đình hạnh phúc 87
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất, tinh thần, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
đến sự phát triển gia đình. SVĐTNRT (sinh viên đã tốt nghiệp ra trường) lực lượng
lao động lớn của xã hội, là chuyên gia của nhiều lĩnh vực hoạt động trong xã hội,
họ còn là chủ nhân của những gia đình trẻ trong tương lai. Họ có vai trò rất quan
trọng trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng nên một xã
hội văn minh, thịnh vượng. Việc tìm hiểu ĐHGT của SVĐTNRT về gia đình hạnh
10
phúc có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn. Định hướng về gia đình hạnh
phúc có tác động sâu sắc đến nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân, có ảnh hưởng rất
lớn đến việc quyết định sẽ lập gia đình và duy trì đời sống gia đình đó như thế nào
và có những quyết định đến việc sinh đẻ, chăm sóc con cái và phụng dưỡng cha mẹ.
Chúng tôi thực sự muốn tìm hiểu SVĐTNRT có định hướng như thế nào về gia
đình hạnh phúc. SVĐTNRT có ĐHGT về GĐHP một cách đúng đắn sẽ tạo điều
kiện tốt cho sự phát triển không những của các thành viên trong gia đình mà còn
quyết định sự tiến bộ đi lên của xã hội, điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu
SVĐTNRT mà không có ĐHGT về GĐHP đúng đắn thì sẽ ảnh hưởng rất lớn sự
nghiệp, sức khỏe, tương lai, con cái… và cũng kéo theo sự thụt lùi sự phát triển của
xã hội.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Định
hướng giá trị về gia đình hạnh phúc của sinh viên đã tốt nghiệp ra trường”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng định hướng giá trị của sinh viên đã tốt nghiệp ra trường
về gia đình hạnh phúc
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- ĐHGT của SVĐTNRT về các yếu tố tạo nên GĐHP
- ĐHGT của SVĐTNRT về phẩm chất người chồng tạo nên GĐHP
- ĐHGT của SVĐTNRT về phẩm chất người vợ tạo nên GĐHP
7.2.3. Phương pháp quan sát
7.2.4. Phương pháp hoàn thiện câu
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính
12
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VÀ GIA ĐÌNH
1. 1. Một số nghiên cứu về định hướng giá trị
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Định hướng và định hướng giá trị luôn là vấn đề mà không chỉ những nhà
nghiên cứu ở nước ta mà ở các nghiên cứu trên thế giới cũng đề cập đến rất nhiều.
Phải kể đến một số công trình sau:
Năm 1977 - 1978 Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của Bungari
đã đề cập đến vấn đề ĐHGT đạo đức cho thanh niên. Trong đó đi sâu nghiên cứu sự
khác biệt thang GT so với thế hệ cha ông.
Năm 1985 Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chỉ đạo nghiên cứu
thanh niên ở độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi của 11 nước, đó là: Nhật, Mỹ, CHLB Đức,
Pháp, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Nam Tư, Philippin, Nam Triều Tiên, Brazin. Viện khảo
sát Xã hội học của Châu Âu đã tiến hành điều tra thanh niên ở lứa tuổi từ 15 - 24
tuổi ở 10 nước Châu Âu: Pháp, Hà Lan, CHLB Đức, ý, Bỉ, Lucxămbua, Đan Mạch,
Ailen, Anh và Hi Lạp. Cả hai cuộc điều tra trên người ta đề cập chủ yếu đến vấn đề
GT và ĐHGT của thanh niên nhằm chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc sống.
Năm 1986 - 1987 UNESCO đã đề nghị The Clup of Rome (1972) tiến hành cuộc
điều tra quốc tế về GT đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI trong
tình hình có những biến đổi thường xuyên và nhanh chóng về bạo lực đang ảnh
hưởng đến xã hội. Mục đích của cuộc nghiên cứu là hướng dẫn người làm công tác
giáo dục các vấn đề về GT đạo đức, đề nghị họ mở rộng điều tra hơn nữa và sử
dụng điều tra đó vào hệ thống giáo dục của các nước, ở tất cả những nơi mà lớp trẻ
nhiều nhất, còn trẻ em thuộc tầng lớp gia đình có địa vị cao trong xã hội lại kể về
hạnh phúc ít nhất. Ông đã nhắc đến một trong những nhiệm vụ của các nhà tâm lý
học xã hội là phải dạy cho lớp trẻ tìm thấy niềm vui trong những sự việc đúng đắn.
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
Nền kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây có nhiều biến đổi lớn như vận hành
theo cơ chế thị trường, điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách con người Việt
14
Nam. Bên cạnh sự xuất hiện những giá trị mới đúng đắn trong đời sống, đã xuất
hiện những lệch lạc về ĐHGT. Chính vì thế, vấn đề GT và ĐHGT đã thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều người. Có thể kể đến một vài công trình sau:
Đào Hiền Phương cho rằng: “ĐHGT là sự phản ánh chủ quan, có tính phân
biệt các GT trong ý thức và tâm lý con người, ĐHGT của mỗi người mang những
nét đặc trưng riêng biệt của người đó. Con người sống trong môi trường nào, thuộc
thành phần xã hội nào, đều mang những nét nhất định của nó về ĐHGT. ĐHGT
không phải là bất biến, nhất là các GT vật chất nó có sự thay đổi theo môi trường
sống và hoạt động thực tiễn. ĐHGT chi phối điều chỉnh hình vi, hoạt động của con
người, hướng tới những mục đích cơ bản trong cuộc sống” [18, tr.23]
Theo Lê Đức Phúc: “ĐHGT là thái độ, là sự lựa chọn các GT vật chất và GT
vật chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích, được biểu hiện
trong hành vi của con người” [17, tr.18].
Theo Thái Duy Tuyên: “ĐHGT là thái độ, là sự lựa chọn các GT vật chất và
tinh thần là hệ thống tâm thế, niềm tin, sở thích, của con người đối với một GT nào
đó” [20, tr.147,154]
Năm 1989, Viện xã hội học đã thực hiện đề tài “Chuyển đổi về cơ cấu xã hội và
ĐHGT ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ”. Đề tài tiếp cận đến ĐHGT của các nhóm
xã hội có độ tuổi khác nhau ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ.
Năm 1990, Viện nghiên cứu thanh niên với đề tài “Tình hình Sinh viên” thuộc
chương trình “Chính sách thế hệ trẻ” do Ban khoa giáo trung ương chủ trì đã tiếp
Năm 1998, Lê Quang Sơn trong luận án Tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng
tâm lý trong ĐHGT của thanh niên Việt Nam hiện đại” đã xem ĐHGT như là những
thái độ của nhân cách với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Năm 2001, Luận án tiến sĩ của Đỗ Ngọc Hà: “ĐHGT của thanh niên, sinh viên
hiện nay” đã khảo sát 1803 sinh viên của cả 3 miền Bắc – Trung - Nam về ĐHGT
của họ, những biểu hiện đặc trưng và xu hướng biến đổi ĐHGT của thanh niên, sinh
viên hiện nay
Tác giả Lê Thị Thanh Huyền trong luận văn thạc sĩ đã đưa ra các vấn đề:
+ ĐHGT nhân cách của sinh viên về các mặt của cuộc sống xã hội
+ ĐHGT nhân cách người giáo viên và các thang giá trị
16
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHGT nhân cách của sinh viên [11, tr.5]
- Trong cuốn “ĐHGT của thanh niên, sinh viên trong giai đoạn hiện nay” (2008)
của tác giả của Cao Xuân Thạo thì lại đề cập đến vấn đề:
+ Những giá trị quan trọng đối với cuộc sống của thanh niên, sinh viên trong
giai đoạn hiện nay
+ ĐHGT trong học tập, khoa học
+ ĐHGT trong các mối quan hệ giao tiếp
- Năm 1995, Nguyễn Đăng Động luận văn Thạc sĩ Tâm lý học “Bước đầu tìm
hiểu một số biểu hiện về ĐHGT nghề dạy học của sinh viên sư phạm trong điều
kiện kinh tế thị trường” đã đi sâu tìm hiểu về những giá trị về nghề sư phạm và
những phẩm chất căn bản của nhà giáo, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
Như trên tôi đã đưa ra những công trình nghiên cứu về GT, ĐHGT ở cả những
nghiên cứu của thế giới và Việt Nam tuy nhiên những nghiên cứu “ĐHGT về
HPGĐ” thì còn ít.
Nhìn chung, vấn đề ĐHGT đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các đối tượng
thanh niên, sinh viên của một số trường Cao đẳng, Đại học. Trên cơ sở tiếp thu
những thành tựa của những tác giả đi trước đồng thời bằng lý luận và thực tiễn quá
thế nào? cần xây dựng hạnh phúc gia đình ra sao?
Cuốn “Tình yêu - Gia đình - Hạnh phúc” của Bangdelade nói về vấn đề đạo đức
giữa vợ và chồng và các mặt khác.
Tác giả Xã hội học Nga T. A. Phanaxeva đã tổng kết có 3 quan niệm khác nhau
về gia đình:
+ Quan điểm thứ nhất: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên kết với nhau bằng
một chỗ ở, bằng một ngân sách chung và một mối quan hệ ruột thịt.
+ Quan điểm thứ hai: Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội liên hệ với nhau trong
một nhà, bằng một nguồn ngân sách chung và mối quan hệ giúp đỡ lẫn nhau bằng
tình cảm và trách nhiệm.
+ Quan điểm thứ 3: Gia đình hiện đại là một nhóm nhỏ xã hội bao gồm bố mẹ và
con cái của một vài thế hệ, các thành viên trong gia đình có mối quan hệ ràng buộc
18
về chất, tinh thần theo những nguyên tắc mục đích sống như nhau về các vấn đề
trong sinh hoạt [25, tr.4]
Từ những năm 500 tr. CN, các nhà kinh điển của Nho giáo đã coi nhà là mắt
xích quan trọng nhất nối kết con người với đất nước và thế giới. Các tác phẩm của
cả hai thời kỳ Nho giáo nguyên thủy và Hậu Nho với các đại biểu nổi tiếng như
Khổng Tử, Mạnh Tử (Nho giáo nguyên thủy) và Chu Hi, Trình Y Xuyên (Hậu Nho)
đã đặt các nghiên cứu về gia đình ở Trung Quốc và được truyền bá sang các nước
như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… Các tác phẩm cũng đã chỉ rõ vị trí, vai trò
của gia đình trong xã hội. Đồng thời cũng nêu cụ thể vị trí, vai trò của từng thành
viên trong gia đình và xác lập một trật tự xã hội từ trong nhà ra toàn xã hội một cách
chặt chẽ. Nho giáo đã coi mối quan hệ giữa thân – nhà – nước – thiên hạ là nền
tảng của cấu trúc xã hội. Mạnh Tử cho rằng: thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà,
nhà gốc ở thân mình (thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, gia chi bản tại
thân) [13, tr.79]. Hay một lẽ sống và cũng là một chuẩn mực đạo đức cho mỗi con
người trong xã hội là tu thân, tề gia, trị quốc
tr.131].
1.2.2. Nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề gia đình và hạnh phúc gia đình được rất nhiều nhà nghiên cứu và đã đưa
ra những quan niệm khác nhau. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu của Việt Nam
cũng đã kế thừa và đưa ra một số công tình nghiên cứu. Đầu tiên phải kể đến cuốn
Tâm lý học gia đình của Ngô Công Hoàn với các quan niệm cơ bản về gia đình và
khả năng giữ gìn và bảo toàn, phát huy hạnh phúc trong gia đình. Trong tác phẩm
này, tác giả đã đề cập đến những đặc điểm, những quy luật tâm lý diễn ra trong cuộc
sống hàng ngày của mỗi gia đình. Theo ông quan điểm về gia đình là:
+ Gia đình là một nhóm xã hội, nhất thiết phải có 2 người trở nên;
+ Trong gia đình phải có giới tính khác nhau thông quan quan hệ hôn nhân;
+ Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt, huyết
thống, nghĩa là có quan hệ tái sản xuất ra con người. Nếu không có quan hệ này thì
không thể gọi là gia đình theo đúng nghĩa;
+ Quan hệ kinh tế: Các thành viên trong gia đình sống và hoạt động trong
một ngân sách chung do các thành viên đem lại khi lao động;
20
Trong cuốn Tâm lý học Tình yêu, Gia đình của Nguyễn Đình Xuân đã đề cập
đầy đủ về các yếu tố xoay quanh các chủ đề :
+ Mối quan hệ giữa tâm lý và sự phát triển gia đình
+ Các yếu tố tâm lý trong việc xây dựng tâm lý gia đình
+ Tâm lý của các thành viên trong gia đình
+ Xung đột và cách giải quyết xung đột
Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: Gia đình gồm bố mẹ và con cái và có hay
không một số người khác ở chung một nhà.
Trong báo cáo tại Hội nghị “Người mẹ Việt Nam và vấn đề nuôi dạy con”, trên
cơ sở đưa ra một số dẫn chứng đáng lo ngại xung quanh vấn đề hôn nhân giữa nam
và nữ trong và ngoài nước đã chỉ ra sự cần thiết phải có kế hoạch, chương trình, cụ
ra những quan điểm cơ bản những vấn đề chung về gia đình.
1.3. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.3.1. Giá trị
Khái niệm về giá trị
GT và giá trị học được nghiên cứu từ lâu và được tiếp cận bởi nhiều khoa
học khác nhau. Thời cổ đại và trung đại những tri thức về GT học gắn liền với Triết
học. Cuối thế kỉ XIX, GT học mới tách ra thành một khoa học độc lập và thuật ngữ
GT được dùng như một khái niệm khoa học.
Lúc đầu khái niệm GT được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế. GT gắn liền
hàng hoá, GT không đồng nhất với giá thành, giá cả. “Khi gạt bỏ thuộc tính GT sử
dụng của hàng hoá thì hàng hoá là sự kết tinh sự hao phí sức lao động của người sản
xuất hàng hoá lao động mới biểu hiện dưới hình thức GT. Vì thế GT phản ánh quan
hệ sản xuất của mọi người”
GT kinh tế là thuật ngữ chỉ sức mạnh của vật chất này khống chế những vật
khác khi trao đổi. Để bộc lộ GT, vật phẩm phải có giá trị ích lợi tức là có khả năng
thoả mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do đó, trong phân tích kinh tế,
GT là vị trí tương đối của hàng hoá trong trật tự ưa tiên, vị trí của nó càng cao thì
GT của nó càng lớn. GT kinh tế lệ thuộc vào tình hình thị trường vào tình trạng
khan hiếm của hàng hoá.
22
Triết học nghiên cứu GT với nội dung rộng, nghiên cứu chung nhất các mối
quan hệ qua lại giữa chủ thế và đối tượng. Tuy nhiên, trong Triết học vẫn biết tồn
tại những quan niệm khác nhau về GT. Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu :
Từ thời cổ đại đến thời F. Hegels và B.Kroch: GT bị đồng nhất với tồn tại.
Sau khi khái niệm tồn tại được tách ra thành hai yếu tố: hiện thực và GT thì khái
niệm GT mới có nội dung phong phú hơn.
Chủ nghĩa duy tâm khách quan (thuyết Kant mới, M.Sheler, N.Gartman) coi
GT là những tồn tại của những tồn tại của những bản chất tiên nghiệm, những chuẩn
Một vật có GT khi nó được thừa nhận là có ích và cần có, chẳng hạn như thức ăn,
tiền bạc, nhà cửa đều có GT vì chúng được thừa nhận là có ích và việc mong muốn
có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người. Không
chỉ có hàng hoá vật chất mà những lý tưởng khái niệm đều có GT như sự thật,
lương thiện và công lý.
Quan niệm đạo đức học cho rằng: Quy tắc GT về lĩnh vực đạo đức. Theo I.
X. Côn GT là một trong những biểu hiện của quan hệ xã hội được biểu hiện như
sau: “ý nghĩa phẩm giá đạo đức của cá nhân, tập đoàn, những ứng xử của con người
hay những đặc điểm đạo đức của các quy chế, những quan niệm đánh giá có liên
quan đến ý thức xã hội, những lý tưởng, nguyên tắc, chuẩn mực”[30, 1987].
Theo Tâm lý học giải thích khái niệm GT chung từ quan điểm Triết học.
Các tác giả đưa ra khá nhiều định nghĩa về GT. ở Việt Nam có thể điểm tới một số
tác giả tiêu biểu như sau:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “GT là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng
quý, có ích của các đối tượng với chủ thể” [5, tr.22].
Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ: “GT là một hiện tượng xã hội điển hình biểu
thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực và các tư tưởng
chuẩn mực, mục đích, lý tưởng được loài người tạo ra nhưng đều phục vụ cho sự
tiến bộ của xã hội và sự phát triển của cá nhân con người” [19, tr.11]
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang cho rằng:
“Cần phải hiểu khái niệm GT trong mối quan hệ với các thuật ngữ liên quan nhu
cầu, sở thích, động cơ Song GT không đồng nhất với nhu cầu…các GT không phải
là những động cơ GT là những cái cần và có ích cho chủ thể” [24, tr.21].
24
Tác giả Lê Đức Phúc cho rằng: “Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập
thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể khách quan được đánh giá xuất phát
từ điều kiện lịch sử xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách.
Khi đã được nhận thức đánh giá lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động
học, Tâm lý học.
Kế thừa quan điểm của các tác giả nêu trên, chúng tôi lựa chọn khái niệm
của tác giả Lê Đức Phúc “Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể và cá nhân,
phản ánh mối quan hệ chủ thể khách quan được đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch
sử xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách. Khi đã được nhận
thức đánh giá lựa chọn, giá trị trở thành một trong những động lực thúc đẩy con
người theo xu hướng nhất định” [17, tr.19]
Quá trình hình thành giá trị
GT là một mối quan hệ trong mối quan hệ nhiều mặt của con người với con
người, với thế giới, và với đời sống xã hội. GT có liên quan với nhu cầu. Nói đến
nhu cầu phải nói đến đối tượng, nội dung và đặc biệt là phương thức thoả mãn nhu
cầu. Mối quan hệ GT được tái sinh trong quá trình phát triển của nền văn hoá xã hội
và của cá nhân riêng lẻ. Do vậy, việc nghiên cứu giá trị không chỉ việc là miêu tả
đơn giản những hiện tượng giá trị mà phải đặt trong mối quan hệ với nền văn hoá xã
hội trong đó chủ thể sống và hoạt động.
Bằng quá trình xã hội hoá, con người lĩnh hội các GT từ nền văn hoá xã hội - lịch
sử cùng với những tri thức, thái độ và tình cảm. Các tổ chức xã hội có vai trò quyết
định trong việc giữ gìn, phổ biến các GT là: gia đình, hệ thống giáo dục và tất cả
các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, cá nhân không chỉ tiếp nhận các GT xã hội một cách
giản đơn mà lĩnh hội một cách có chọn lọc thông qua lợi ích và quan hệ thực tiễn
của họ.
Trong sự chuyển biến của xã hội, việc nâng cao trình độ học vấn và phát triển xã
hội nói chung dẫn tới việc tạo ra những GT mới, các GT mới này hoặc thay thế GT
cũ hoặc tác động với chúng và làm thay đổi chúng. Khi các GT được hình thành
cũng sẽ thay đổi theo sự biến đổi của xã hội. Nếu các tổ chức xã hội đón nhận các
GT mới thì quá trình xã hội hoá sẽ xảy ra với mâu thuẫn GT ít hơn. Ngược lại, nếu
26
những GT được truyền đạt thông qua các tổ chức trong quá trình xã hội hoá có chức