Mối tương quan giữa biểu tượng về uy quyền người cha và kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc đời thường ở trẻ sống vắng cha - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=================

NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA BIỂU TƯỢNG VỀ UY QUYỀN
NGƯỜI CHA VÀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
TRONG CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG
Ở TRẺ SỐNG VẮNG CHA

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA BIỂU TƯỢNG VỀ UY QUYỀN
NGƯỜI CHA VÀ KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
TRONG CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG
Ở TRẺ SỐNG VẮNG CHA

CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC TÂM LÝ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VĂN THỊ KIM CÚC
HÀ NỘI- 2007
LỜI CẢM ƠN




 X
N - 














 .  , 




 -  
- 



  











 ,
. 

Học viên: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

VIẾT ĐẦY ĐỦ
VIẾT TẮT
Biểu tượng
BT
Biểu tượng xã hội
BTXH
Mối tương quan
MTQ
Tâm lý học
TLH

8
2.1.3 Khái niệm uy quyền và biểu tƣợng về uy quyền ngƣời cha
8
2.1.4 Trẻ em
9
2.1.5 Kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời thƣờng
9
2.1.6 Khái niệm mối tƣơng quan
9
CHƢƠNG 2 : TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU
10
2.1 Tổ chức thực hiện
10
2.1 Hệ phƣơng pháp nghiên cứu
10
2.3 Giới thiệu khách thể nghiên cứu
10
CHƢƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
11
3.1 Biểu tƣợng về uy quyền ngƣời cha
11
3.1.1. Khái niệm uy quyền ngƣời cha trong suy nghĩ của trẻ
11
3.1.2. Các yếu tố tạo nên uy quyền của ngƣời cha nói chung trong biểu
tƣợng của từng nhóm trẻ. Mức độ quan trọng của các yếu tố.

11
3.1.3 So sánh điểm trung bình năm yếu tố quan trọng nhất để ngƣời
cha "nói chung" có uy quyền với con cái và điểm trung bình các yếu tố



1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài
Nói về sự phát triển của trẻ em, ngƣời ta thƣờng đề cập nhiều đến vai
trò của ngƣời mẹ. Tuy nhiên, ngƣời cha cũng đóng một vai trò vô cùng to
lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Tác giả D. Burlingham và A.
Freud, trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: “Bắt đầu từ
năm thứ hai, tình cảm mà đứa con dành cho cha sát nhập vào đời sống tình
cảm của nó và trở thành một thành phần cần thiết của những lực phức tạp
góp phần tạo nên tính tình và nhân cách đứa con." [29;114]. Nghiên cứu
về vai trò của ngƣời cha, các nhà học giả nhấn mạnh nhiều tới vấn đề uy
quyền: "Uy quyền là chức năng hàng đầu của người cha, cũng như tình yêu
thương là chức năng hàng đầu của người mẹ ", "Nếu thiếu uy quyền thì
bọn trẻ thiếu những cái phanh hãm cần thiết cho ba dạng phản ứng: sự đối
lập, sự bắt chước và sự bù trù" và "Hậu quả xa xôi của việc thiếu uy quyền
làm cho người ta chú ý còn đáng sợ hơn những hậu quả tức thời. Trong
nhân cách, người ta không tìm thấy bộ khung vững chắc, tính cách thiếu
kiên quyết, thiếu đề kháng và cách ứng xử thể hiện do dự, lưỡng lự, không
nhiệt tình trước thích thú hoặc những say mê thất thường, ý thức đạo đức
nghèo nàn, không năng động. Những quan hệ của cá nhân đó với bên
ngoài bị nhiễu loạn bởi sự không vững chắc của nhân cách: mạo hiểm, liều
lĩnh, thoái thác, chông chênh, thất thường, nhiều khi chứng tỏ một sự bất

Các lý do trên đây thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Mối tƣơng quan giữa biểu tƣợng về uy quyền của ngƣời cha và
kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời thƣờng ở trẻ sống
vắng cha".

3
2. Mục đích nghiên cứu
 Chỉ ra thực trạng các biểu tƣợng của trẻ em về uy quyền của
ngƣời cha.
 Chỉ ra cách thức giải quyết các xung đột trong cuộc sống đời
thƣờng của trẻ em sống vắng cha.
 Làm rõ mối quan hệ giữa biểu tƣợng về uy quyền của ngƣời cha
và kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời thƣờng của
trẻ sống vắng cha.
 Đề xuất giải pháp cụ thể đối nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho sự phát triển nhân cách toàn diện ở trẻ.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lý luận
3.1.1 Nghiên cứu tổng quan vấn đề nhằm nắm bắt thực trạng quan
tâm của giới khoa học trên thế giới và trong nƣớc về lĩnh vực này, những
thành tựu đã đạt đƣợc, những vấn đề còn bỏ ngỏ.
3.1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài:
 KN biểu tƣợng
 KN uy quyền
 KN biểu tƣợng về uy quyền
 KN ngƣời cha

5. Khách thể nghiên cứu:
158 trẻ em độ tuổi từ 12- 15 gồm những em đang sống vắng cha trên địa
bàn Hà Nội và trẻ trong các gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ cùng độ tuổi.

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và điều kiện có hạn nên nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập
trung vào những phần sau:
- Về nội dung: Nghiên cứu mối tƣơng quan biểu tƣợng về uy quyền của
ngƣời cha và các kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời thƣờng
của trẻ sống vắng cha.

5
- Về khách thể: Lựa chọn những trẻ vắng cha thuộc 02 nhóm: trẻ sống
vắng cha do cha mẹ ly hôn và trẻ vắng cha do mồ côi đang đƣợc nuôi
dƣỡng và chăm sóc tại làng trẻ SOS - Hà Nội.
- Về độ tuổi khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu trẻ vắng cha ở độ tuổi
THCS (12 đến 15 tuổi)
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu tại nội thành Hà Nội
- Về thời gian: Đề tài tiến hành trong 2 năm kể từ khi xây dựng đề cƣơng
của đề tài.

7. Giả thiết nghiên cứu:
1. Biểu tƣợng về uy quyền ngƣời cha ở trẻ vắng cha thấp hơn so
với trẻ sống cùng cha mẹ.
2. Trẻ vắng cha lựa chọn loại kỹ năng giải quyết xung đột khác
so với trẻ sống cùng cha mẹ.
3. Mức độ cao hay thấp trong biểu tƣợng về uy quyền ngƣời cha
"có thực" mà trẻ vắng cha xây dựng nên có mối tƣơng quan với một số loại
kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời thƣờng của trẻ.

7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Nghiên cứu về biểu tượng
Biểu tƣợng là một khái niệm đang đƣợc đẩy mạnh nghiên cứu trên
thế giới bởi đến nay khái niệm biểu tƣợng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng
nhiều bí ẩn.
Ở nước ngoài, các nƣớc có nền TLH phát triển nhƣ Mỹ, Anh, Pháp,
Đức…, các nghiên cứu về BTXH đƣợc đẩy mạnh không ngừng. Chẳng hạn
nhƣ trong TLH Pháp có bốn dòng lớn nghiên cứu BTXH: Một dòng chuyên
khảo miêu tả nhằm ghi lại các biểu tƣợng của nhóm về một đối tƣợng nào
đó (Moscovisi và các học trò của ông). Dòng thứ hai nghiên cứu ảnh hƣởng
của các BTXH lên ứng xử (Codol, Arbic). Dòng thứ ba chuyên nghiên cứu
các kỹ thuật đo lƣờng các BTXH nhằm nắm bắt các cấu trúc của chúng, và
dòng cuối cùng chuyên tìm hiểu những biến đổi của các BTXH (Jodelet, Di
Giacomo, Flament, Arbic), cũng nhƣ tìm các cơ chế ngầm ẩn của các sự
biến đổi này [3].
Ở Việt Nam, những năm gần đây cũng đã bắt đầu xuất hiện một số
nghiên cứu về biểu tƣợng nhƣ: Đề tài "Tạo biểu tƣợng lịch sử cho học
sinh tiểu học" - tác giả Trần Viết Lƣu (1999), đề tài "Biểu tƣợng của cha
mẹ về trí thông minh của trẻ em" - tác giả Văn Thị Kim Cúc (2000);

Các nhà quản lý học nhƣ: F.Gafanaxep, P.V.Zimin, M.I.KodaKop
có trình bày một số ý kiến dƣới góc độ Quản lý học.
Trong nước:
Các công trình nghiên cứu và chuyên khảo về uy quyền, đặc biệt là
uy quyền ngƣời cha trong giáo dục gia đình lại càng vô cùng hiếm. Các nhà
giáo dục học, tâm lý học trong nƣớc nhƣ Nguyễn Khắc Viện, Đỗ Long,
có một vài tác phẩm trong đó có nói đến vấn đề uy quyền hoặc uy quyền
của cha mẹ trong giáo dục con trẻ. Tác giả Lê Tiến Hùng (1993) có một
công trình nghiên cứu (luận án Phó tiến sỹ) về "Quyền uy và việc sử dụng

9
quyền uy của cha mẹ trong giáo dục gia đình". Tuy nhiên, đề tài tiếp cận
vấn đề chủ yếu từ góc độ giáo dục học.
Do vậy, tính đến nay có thể thấy, những nghiên cứu về vấn đề vai trò
ngƣời cha và uy quyền của ngƣời cha trong gia đình từ góc độ tâm lý học
chƣa nhiều.

1.3 Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết xung đột trong cuộc sống đời
thường
Có rất nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về vấn đề xung
đột tâm lý xảy ra ở lứa tuổi vị thành niên.
Trên thế giới, từ đầu thế kỷ XX – thập niên 1980 là quá trình hình
thành các lý luận có tính định hƣớng cho nghiên cứu về xung đột tâm lý,
với các lý thuyết tiêu biểu nhƣ: Phân tâm học (S.Freud) (1856-1939);
Thuyết động thái tâm lý của E.Erikson (1902-1994), Tâm lý học nhận thức-
J.Piaget (1896-1980), cách tiếp cận Tâm lý học hoạt động- LX. Vƣgotxky
(1896-1934). Từ thập niên 1980 đến nay, giới nghiên cứu đã có những thay
đổi trong định hƣớng nghiên cứu về vấn đề XĐTL, đi sâu nghiên cứu từ
bản chất đến nguyên nhân, giải pháp và kết quả của XĐTL, với các đại
biểu phải kể đến nhƣ: C.A.Flanagan (1990) [39], N.L.Galambos &

2.1.1 Khái niệm biểu tƣợng
Khái niệm chung về biểu tượng
Trên thực tế, khái niệm biểu tƣợng là đối tƣợng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau. Trong khuôn khổ của đề tài này,
chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm biểu tƣợng trên bình diện của ngành
Tâm lý học.

Định nghĩa
Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng) [7;21] , "Biểu tƣợng là hình ảnh
các vật thể, cảnh tƣợng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tƣởng
tƣợng. Khác với tri giác, biểu tƣợng có thể mang tính khái quát. Nếu tri

11
giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tƣợng liên quan đến quá khứ và
tƣơng lai‟‟.
Nhƣ vậy, biểu tƣợng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tƣợng
của thế giới xung quanh, đƣợc hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri
giác đã xảy ra trƣớc đó, đƣợc giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh
mới đƣợc hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trƣớc. Biểu tƣợng
không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi
đã đƣợc tri giác. Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là
kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể.
Biểu tượng chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện
tượng khách quan đã được tri giác từ trước.

Cấu trúc của biểu tượng:
Theo luận điểm của I.M Xêtrênốp (1952): “Các biểu tƣợng là kết quả
trung gian từ các tri giác phân chia thành từng thành phần riêng lẻ của sự
trừu tƣợng hoá một tổng số nhất định các vật thể cùng loài và thành phần
của sự trừu tƣợng hoá này bao gồm: ngoài các dấu hiệu bề ngoài còn có các

BT của tƣởng tƣợng khác về chất so với biểu tƣợng của trí nhớ. Biểu
tƣợng của tƣởng tƣợng là hình ảnh mới, đƣợc chế biến lại từ những biểu
tƣợng của trí nhớ, là: "Biểu tƣợng của biểu tƣợng", thƣờng đƣợc chủ thể
sáng tạo dựa trên các cách thay đổi số lƣợng, kích thƣớc, chắp ghép, liên
hợp, nhấn mạnh, điển hình hoá.
Do đó, sự phản ánh của biểu tƣợng tƣởng tƣợng mang tính chất gián
tiếp và khái quát cao hơn so với BT trí nhớ.

Vai trò của biểu tượng trong hoạt động tâm lý
Biểu tƣợng là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh
chủ quan về thế giới khách quan. Không có biểu tƣợng thì không thể có ý
thức. Do gắn với các yếu tố tổng hợp nên biểu tƣợng là bậc thang chuyển
hoá từ hình ảnh cụ thể đến khái niệm trừu tƣợng, từ cảm giác và tri giác

13
đến tƣ duy. Ngoài ra, do biểu tƣợng mang tính chất biến đổi rộng rãi, rõ
nét- cho phép xây dựng hình ảnh mới, nên chúng đóng vai trò quan trọng
và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con ngƣời.

2.1.2 Khái niệm ngƣời cha - vai trò của ngƣời cha trong gia đình và
ảnh hƣởng của việc vắng cha tới sự phát triển của trẻ em
2.1.2.1 Khái niệm người cha và vai trò của người cha trong gia đình
Nói tới "gia đình", chúng ta thƣờng hình dung một mái nhà ít nhất có
sống cùng cha mẹ và con cái. Vai trò của ngƣời mẹ đối với sự phát triển
của đứa trẻ là không thể bàn cãi. Tuy nhiên, ngƣời cha cũng đóng một vai
trò không kém phần quan trọng đối với sự phát triển của đứa con. Ông cha
ta từ xƣa vẫn khẳng định:
"Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".
Trong truyền thống văn hoá Việt Nam, vai trò không thể thiếu của

(3-5tuổi), S. Freud cho rằng ngƣời cha có vai trò là bức "rào chắn" ngăn
cản sự cuốn hút mạnh mẽ của con trai về phía ngƣời mẹ. Những can thiệp
trực tiếp hay gián tiếp của ngƣời cha đều hƣớng cho con trai một hình
tƣợng đồng nhất hoá đủ giá trị để nó vƣợt qua mối xung đột nhất thời thù
địch – cảm xúc tiến tới từ bỏ tình yêu vào bà mẹ để đồng nhất với ngƣời bố
của mình. Khi đó, trẻ hoàn toàn chấp nhận nam tính tƣợng trƣng của ngƣời
cha và sẽ phát triển nhân cách lành mạnh, cụ thể hơn là phát triển "sức
mạnh của tính cách" nam giới.
Nhiều nhà nghiên cứu sau này cũng đề cập đến vai trò của ngƣời cha
nhƣ một nhân vật có đủ sức mạnh đề trẻ khuất phục, bắt chƣớc và noi theo
một cách vô thức. Trong gia đình, đôi khi diễn ra những cuộc tranh cãi về
mặt tình cảm. Thủa ban đầu, trẻ rất ích kỷ - luôn muốn mình là trung tâm
của mọi sự chú ý - dễ nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ với anh chị
em. Lúc này, ngƣời cha phải đứng ra điều hoà các mối quan hệ bằng cách
hạn chế những yêu cầu và đòi hỏi của trẻ. Sibutani phân tích những hậu quả
do nuông chiều con cái: đứa trẻ vì luôn đƣợc nuông chiều và đƣợc đáp ứng

15
lập tức các đòi hỏi sẽ không vƣợt qua giai đoạn "tự kỷ trung tâm"
(egocentrisme). Đứa trẻ lớn lên có xu hƣớng thích chỉ huy, độc đoán, chỉ
tham gia vào các nhóm mà ở đó mình là trung tâm.
Đối với đứa con gái, ngƣời cha là đối tƣợng của sự gắn bó, với đứa
con trai, là đối tƣợng của sự tự đồng hoá. Ngƣời cha phải có đủ uy tín từ
những gì thực sự mà ông ta có mới có thể hƣớng cho con trai mình vƣợt
qua những khủng hoảng nhất thời (thù địch, ghen tức), tiến tới chấp nhận
nam tính ở ngƣời cha. Nếu ngƣời cha không mang các giá trị về nhân cách,
sự thành đạt về nghề nghiệp, sức mạnh uy quyền… thì đứa trẻ buộc phải đi
tìm nhân vật lý tƣởng để đồng nhất với nhân vật đó (S. Freud).
Trong tâm lý học hiện đại, ngƣời cha có ảnh hƣởng tới nhiều lĩnh
vực phát triển của đứa con nhƣ cảm xúc, tình cảm, ngôn ngữ, nhận thức

ngƣời cha, khó có thể hoàn thành tốt đẹp một nhiệm vụ không phải của
mình. Sau này lớn lên, cô gái tự đồng nhất với mẹ, nhìn nhận ngƣời mẹ
trong cả vai trò của cha.
Levyshif (1982) thí nghiệm ở trẻ 2 tuổi 6 tháng và 2 tuổi 10 tháng đã
đƣa ra kết luận: trẻ thiếu cha bộc lộ dấu hiệu lo hãi hơn, nhiều rối nhiễu
hơn trong ứng xử. Bé trai thiếu cha kém thích nghi hơn, gặp nhiều khó
khăn hơn trong quan hệ tƣơng tác với trẻ khác. Vắng cha sẽ ảnh hƣởng tiêu
cực mạnh đến bé trai hơn bé gái.
Pedersen và đồng nghiệp (1979) đã thí nghiệm và rút ra kết luận:
Sự vắng mặt của ngƣời cha ảnh hƣởng tiêu cực lên cả bé trai và bé gái (đặc
biệt ảnh hƣởng mạnh hơn với bé trai), lên sự phát triển trí tuệ, khả năng
khám phá môi trƣờng vật thể xung quanh, khả năng phản ứng với các kích
thích môi trƣờng đều giảm hơn so với bé gái. Và ngƣời cha có ảnh hƣởng
quan trọng tới sự phát triển của trẻ ngay những năm tháng đầu tiên của
cuộc đời đặc biệt là ở các bé trai.
Nhƣ vậy không thể nào phủ nhận sự nhập cuộc của ngƣời cha ngay
từ những năm đầu trong đời sống của trẻ.
17
2.1.3 Khái niệm uy quyền và biểu tƣợng về uy quyền ngƣời cha
2.1.3.1 Khái niệm uy quyền
Khi đề cập đến khái niệm này, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải nêu
lại một số định nghĩa của các khái niệm liên quan (trích dẫn theo từ điển
Tiếng Việt - Viện khoa học xã hội) nhƣ sau:
- Ƣu thế: thế mạnh do quyền lực tạo nên, làm cho ngƣời khác phải e
dè, kính nể.
- Quyền lực: quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính
trị và sức mạnh để đảm bảo việc thực hiện quyền ấy.

tiếng Việt, 1986) viết: "Quyền uy- tầm quan trọng, ảnh hƣởng đƣợc mọi
ngƣời công nhận của một nhân vật nào đó, hoặc là của một tổ chức, nhờ họ
có những phẩm chất, những công lao nhất định". Tuỳ theo phạm vi và
phƣơng thức của ảnh hƣởng, ngƣời ta phân biệt thành các loại quyền uy
nhƣ: Quyền uy chính trị; Quyền uy đạo đức; Quyền uy khoa học…

Tác giả Phan Tiến Ích (1987) thì lại cho rằng: "Quyền uy biểu hiện
nhƣ một hình thức riêng của mối liên quan giữa con ngƣời riêng rẽ với xã
hội, là sự tác động của một cá nhân đến những ngƣời khác và là sự phục
tùng tự nguyện của họ đối với tác động ấy [16;32].
Từ điển tâm lý do Nguyễn Khắc Viện chủ biên [36;203] có viết: "Uy
quyền là do thể chế giao cho ít nhiêu quyền lực để thực hiện mục tiêu…Khi
uy quyền đƣợc ngƣời khác chấp nhận thì hoà nhập với uy tín; nếu áp đặt thì
uy quyền đó có thể gây ra phản ứng hung hăng, rối loạn".

Qua các định nghĩa trên về uy quyền, chúng tôi nhận thấy có một đặc
trưng của uy quyền là: những sức mạnh quyền lực gắn với sự cưỡng bức và
phục tùng.
Từ góc độ nghiên cứu của đề tài, xuất phát từ việc tiếp cận khái niệm
uy quyền ở góc độ Tâm lý học, chúng tôi tán thành với định nghĩa về uy
quyền do tác giả Lê Tiến Hùng (1993) đƣa ra [15;32]
"Uy quyền là một hiện tƣợng xã hội, nó đƣợc tạo thành bởi những
sức mạnh của cá nhân, nhóm xã hội hay tổ chức xã hội hoặc đƣợc tạo thành

19
bởi các quyền hành có tính chất pháp quy do thể chế trao cho cá nhân,
nhóm hay tập thể ngƣời nhằm tạo ra những ảnh hƣởng buộc phía đối tác
phải phục tùng chủ thể".

2.1.3.2 Uy quyền của người cha


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status