SKKN BIỆN PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU KỸ NĂNG LÀM TOÁN DẠNG TÌM SỐ BỊ TRỪ VÀ TÌM SỐ TRỪ - TOÁN LỚP 2 - Pdf 25

SKKN: BIỆN PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU KỸ NĂNG LÀM TOÁN
DẠNG TÌM SỐ BỊ TRỪ VÀ TÌM SỐ TRỪ - TOÁN LỚP 2
PHẦN 1 – ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu môn Toán lớp 2 ở Tiểu học là truyền thụ cho học sinh biết
được những kiến thức cơ bản như: nhận biết, đọc, viết, so sánh các số tự
nhiên trong phạm vi đến 1000 . Rèn cho học sinh các kĩ năng thực hiện các
phép tính đơn giản, cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên trong bảng đến bảng
nhân 5, các kiến thức về hình học đơn giản, yếu tố thống kê … giải toán có
lời văn đơn giản.
Ta biết rằng, quá trình dạy học gồm việc dạy của người dạy và việc
học của người học. Mỗi quá trình dạy học được xác định bởi ba thành tố cơ
bản:
-Mục tiêu dạy học
-Nội dung dạy học
-Phương pháp dạy học.
Nội dung dạy học được xác định bởi mục tiêu dạy học.
Phương pháp dạy học, cách thức làm việc của giáo viên và học sinh
thì bị chi phối bởi nội dung dạy học, đối tượng dạy học và nhiều yếu tố
khác.
Hiện nay xu thế trên thế giới mục đích giáo dục thường được nêu lên
trong bốn câu:
-Học để biết
-Học để làm
-Học để hợp tác
-Học để sống làm người.

1
Trong thời gian qua, nền giáo dục Việt Nam đã thực hiện những thay
đổi trong toàn bộ quá trình dạy học. Mục đích của giáo dục Tiểu học đã
được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu sự phát

mà giáo viên cần phải nắm để truyền đạt trong khi dạy, để học sinh lĩnh hội
được đầy đủ kiến thức, kĩ năng một cách chính xác. Học sinh tự phát hiện
và tự giải quyết nhiệm vụ của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới và kiến thức
cũ. Với đặc điểm tâm lý của trẻ từ 6 đế 11 tuổi nói chung và có sự thay đổi
khác nhau, mà nhìn chung các em giàu trí tưởng tượng, ưa hoạt động và
ham hiểu biết. Nhưng bên cạnh đó còn có một số em chưa hoạt bát trong
việc học tập, còn thụ động, chậm chạp, chưa linh hoạt, thâm chí trong việc
sinh hoạt vui chơi hàng ngày cũng còn kém thua bạn bè.
Chính vì vậy đối với những em này việc học còn rất nhiều hạn chế.
Với địa bàn dân cư ở còn xa trường, đời sống kinh tế còn gặp phải hoàn
cảnh khó khăn. Đa phần phụ huynh hàng ngày phải lao động vất vả nên

3
việc quan tâm chăm sóc con cái còn rất nhiều hạn chế. Từ đó ảnh hưởng
đến việc giáo dục và học tập của các em.
Hơn nữa, giũa chương trình Toán lớp Một và lớp Hai có sự khác biệt
mới hơn, so với lớp Một là tìm các thành phần chưa biết của phép tính.
Với tình hình thực tế như vậy. Giáo viên tổ Hai nói chung và bản
thân tôi nói riêng cũng gặp không ít khó khăn trong việc dạy học theo
phương pháp đổi mới chương trình thay sách lớp hai hiện nay. Bản thân tôi
năm nay là năm thứ nhất trực tiếp giảng dạy chương trình thay sách ở lớp
Hai.
Qua lần khảo sát chất lượng đầu năm học 20 -20 của môn Toán
năm nay tôi nhận thấy:
Chất lượng khảo sát đầu năm học môn Toán:
TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
29 … … … … … … … …
Bên cạnh những em kém phát triển về trí não dẫn đến việc tiếp thu
bài chậm không phải là ít, ngoài ra có em khuyết tật hoà nhập nên không

18 là số gì ? (hiệu)
Học sinh nhắc lại quy tắc tìm số bị trừ ta lấy hiệu cộng với số trừ.
x – 5 = 18
x = 18 + 5
x = 23
Ví dụ: 12 – x = 6
x là số gì ? (số trừ)
12 là số gì ? (số bị trừ)
6 là số gì ? (hiệu)
Học sinh nhắc lại quy tắc tìm số trừ (lấy số bị trừ trừ đi hiệu)
12 – x = 6

5
x = 12 – 6
x = 6
Nếu như hôm nay, giáo viên dạy bài toán: “Tìm số bị trừ”, hôm khác
dạy bài toán “Tìm số trừ”
Học sinh giải toán ít có sự nhầm lẫn. Nhưng trong một tiết học toán,
có hai dạng toán trên xuất hiện cùng một lúc thì nhiều học sinh có sự nhầm
lẫn giữa số bị trừ và số trừ.
Ví dụ: tìm số bị trừ:
x – 5 = 18 ⇒ x – 5 = 18
x = 18 – 5 x = 18 + 5
x = 13 (sai) x = 23 (đúng)
Tìm số trừ:
19 – x = 11 ⇒ 19 – x = 11
x = 19 + 11 x = 19 – 11
x = 30 (sai) x = 8 (đúng)
Điều này làm cho bản thân một giáo viên đứng lớp như tôi có nhiều
băn khoăn, trăn trở, liệu có phải một mình học sinh lớp tôi bị nhầm lẫn như

thêm điểm sau:
+Khi học đến dạng tìm số bị trừ là cho các em biết rằng trong phép
trừ thì bao giờ số bị trừ cũng lớn hơn số trừ.
Nên khi chuyển sang bên phải chữ “x” là dấu công “+”
Ví dụ: x – 6 = 15
x = 15 + 6
x = 21
+Khi dạy dạng tìm số trừ thì cho các em hiểu là số trừ cũng nhỏ hơn
số bị trừ

7
Nên khi làm tính chuyển sang bên phải chữ “x” là dấu “ - ”
Ví dụ: 15 – x = 6
x = 15 – 6
x = 9
Vì thế để tránh sự nhầm lẫn giữa dấu trừ “ - ” hay dấu cộng “+” khi
làm tính giáo viên nên nhấn mạnh lại những điều trên.
2. Sử dụng vào giờ làm bài:
Giáo viên lần lượt đưa ra nhiều ví dụ khác nhau từ dễ đến khó, từ
đơn giản thực hiện phép tính có 1 chữ số, dần dần tiến đến 2 chữ số, lúc
đầu thực hiện tính cộng, trừ không nhớ, đơn giản đến có nhớ.
Ví dụ: 9 – x = 5 x – 3 = 6
x = 9 – 5 x = 6 + 3
x = 4 x = 9
Vi dụ: 10 – x = 6 x – 7 = 14
x = 10 – 6 x = 14 + 7
x = 4 x = 21
Ví dụ: 40 – x = 27 x – 32 = 68
x = 40 – 27 x = 68 + 32
x = 13 x = 100


9
-Tìm số trừ
*Về mặt ưu điểm:
-Giúp học sinh yếu trước mắt giải được dạng toán này. Mặc dù ở
dạng toán này không phải là quá khó, nhưng do sức học của một số em còn
hạn chế. Nếu không có biện pháp kịp thời tôi nghĩ các em sẽ học ở mức
dưới chuẩn, nếu được áp dụng cho các em theo kịp chương trình mới như
hiện nay là đạt chuẩn.
-Với 2 dạng toán này không chỉ các em học ở lớp 2 mà nó xuyên
suốt trong quá trình học toán. Vì vậy với mẹo nhỏ trên giúp cho các em
học tốt hơn khi học tiếp ở các khối lớp 3, 4, 5 của chương trình Toán Tiểu
học.
II. Khuyến nghị

…………., ngày … tháng … năm 20…
Người viết

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status