BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
*************************
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI VIỆT AN
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Lê Phong Châu
Sinh viên : Nguyễn Ngọc Thúy
Lớp : TCDN – LTK10
Khóa : 2009 - 2011
HÀ NỘI - 2010
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
LỜI GIỚI THIỆU
Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong đó có các doanh nghiệp ngành sợi. Thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng
lớn, khả năng tiếp cận các nguồn cung cấp tài chính, nhân lực, vật tư, nguyên liệu,
khoa học kỹ thuật, công nghệ, tìm kiếm đối tác, liên kết kinh doanh là những cơ hội
vô cùng to lớn cho doanh nghiệp mà hội nhập có thể tạo ra. Với tốc độ tăng trưởng
của ngành sợi trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp hàng đầu thế giới từ Nhật
Bản, Đài Loan tới đầu tư. Việc nhiều doanh nghiệp trong nước mua sắm thiết bị
hiện đại, thuê chuyên gia nước ngoài, bán sản phẩm ra nhiều nước là những minh
chứng cho các lợi ích của hội nhập. Trước các xu thế và những dự đoán về sự phát
triển của ngành sợi thế giới và trong nước trong vài năm tới chắc chắn cơ hội sẽ vẫn
tiếp tục gia tăng cả về số lượng lẫn quy mô và luôn sẵn sàng đến với bất cứ ai có
khả năng tiếp cận và nắm bắt nó.
Tuy nhiên, thách thức thì quá nhiều và dường như cứ lớn dần lên. Các doanh
nghiệp đã phải cạnh tranh khốc liệt để giành giật từng khách hàng trên từng thị
trường. Cạnh tranh trên nhiều phương diện từ chất lượng sản phẩm, số lượng, mẫu
mã, bao bì, nhãn mác, giá cả, đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời
Chương I: Tổng quan về vốn lưu động và quản lý vốn lưu động trong doanh
nghiệp
Chương II: Thực trạng vốn lưu động và công tác quản lý vốn lưu động tại
Công ty Cổ phần sợi Việt An
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản
lý vốn lưu động tại Công ty Cổ phần sợi Việt An
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Chương I: TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG
VÀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vốn lưu động
1.1.1.1 Khái niệm vốn lưu động
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố
định còn phải có các tài sản lưu động tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu
của tài sản lưu động khác nhau. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản xuất tài sản lưu
động được cấu thành bởi hai bộ phận là tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu
thông.
- Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất
như nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và tài sản ở khâu sản
xuất như bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ
- Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được
tiêu thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên,
liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do vậy,
để hình thành nên tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào
loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động.
Như vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên
tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được
- Các tài sản lưu động khác: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết
chuyển…
1.1.2.2 Phân loại vốn lưu động
1.1.2.2.1 Phân loại theo vai trò vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh
Theo cách phân loại này, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3
loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm các khoản:
+ Vốn nguyên liệu, vật liệu chính
+ Vốn phụ tùng thay thế
+ Vốn công cụ, dụng cụ
+ Vốn nhiên liệu
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
+ Vốn vật liệu phụ
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất, bao gồm các khoản:
+ Vốn là sản phẩm dở dang
+ Vốn về chi phí trả trước
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông. bao gồm các khoản:
+ Vốn thành phẩm
+ Vốn bằng tiền
+ Vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác
+ Vốn trong thanh toán: những khoản phải thu và tạm ứng.
Cách phân loại này cho thấy vai trò của sự phân bố vốn lưu động trong từng
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn
lưu động hợp lý sao cho hiệu quả sử dụng cao nhất.
1.1.2.2.2 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này, vốn lưu động có thể chia thành 2 loại:
- Vốn lưu động là vật tư hàng hóa: Bao gồm 3 loại gọi chung là hàng tồn kho
lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn lưu động
còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do
đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa
bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một
phần lợi nhuận. Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả
hàng hóa bán ra.
1.2 Quản lý vốn lưu động
1.2.1 Khái niệm quản lý vốn lưu động
Quản lý vốn lưu động là việc lập kế hoạch vốn lưu động và việc xác định
nhu cầu vốn lưu động trong kỳ kế hoạch cần thiết cho việc kinh doanh để sử dụng
nguồn vốn lưu động đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong quá trình kinh doanh có thể nhu cầu của vốn lưu động tăng lên hay
giảm xuống dẫn tới việc thiếu hay thừa nguồn vốn lưu động. Vì vậy doanh nghiệp
phải có kế hoạch tìm thêm nguồn vốn lưu động (nếu thiếu) và sử dụng (nếu thừa)
vốn lưu động.
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Sự thay đổi vốn lưu động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền của doanh
nghiệp, tăng vốn lưu động trong dự trữ đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải trả
nhiều hơn cho hàng dự trữ trong kho làm giảm lượng tiền mặt của doanh nghiệp.
Tuy nhiên vốn lưu động giảm sẽ làm giảm khả năng thanh toán các nghĩa vụ ngắn
hạn và tác động gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2 Các vấn đề về quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Quản lý tồn kho dự trữ
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh
doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết
+ Chi phí hoạt động: như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng
hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản
+ Chi phí tài chính: bao gồn\m chi phí vốn như chi phí trả lãi vay, chi phí về
thuế, chi phí về khấu hao
Nếu gọi số lượng mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì dự trữ trung bình sẽ là
Q/2.
Q
Q/2
Lượng hàng cung ứng
Dự trữ trung bình
Thời gian
Gọi C
1
là chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa thì tổng chi phí lưu kho của doanh
nghiệp sẽ là: C
1
= Q/2
Tổng chi phí lưu kho sẽ tăng nếu số lượng hàng cung ứng mỗi lần tăng
- Chi phí đặt hàng: bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng
hoá. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không phụ thuộc vào số
lượng hàng hoá được mua.
Nếu gọi D là toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian
(năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q.
Gọi C
2
là chi phí mỗi lần đạt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là: C
2
= D/Q
mỗi ngày nhân với độ dài của thời gian giao hàng.
- Lượng dự trữ an toàn: là lượng dự trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm
đặt hàng. Cơ cấu tài sản trong doanh nghiệp bao gồm: tài sản cố định, tài sản lưu
động thường xuyên và tài sản lưu động tạm thời. Do vậy nguyên liệu sử dụng mỗi
ngày không phải là cố định mà biến đổi không ngừng, đặc biệt là những doanh
nghiệp sản xuất mang tính thời vụ hoặc sản xuất những hàng hoá mang tính nhạy
cảm với thị trường. Vì thế, để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp
cần phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn. Lượng dự trữ an toàn tuỳ
thuộc vào tình hình của từng doanh nghiệp.
*Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0
Theo phương pháp này các doanh nghiệp trong một số ngành nghề có liên
quan chặt chẽ tới nhau hình thành lên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng
nào đó họ sẽ tiến hành “hút” những hàng hoá và sản phẩm dở dang của các đơn vị
khác mà họ không cần phải dự trữ. Tuy nhiên, đây chỉ là một phương pháp được áp
dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp với các
phương pháp quản lý khác.
1.2.2.2 Quản lý vốn bằng tiền
* Tiền mặt (Cash): được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán
của doanh nghiệp ở ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên liệu,
mua tài sản cố định, ttrả tiền thuế, trả nợ
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền
mặt, thì việc tối thiểu hoá luợng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Tuy
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
nhiên, việc giữ tiền mặt trong kinh doanh cũng là vấn đề cần thiết, điều đó xuất phát
từ những lý do sau:
+ Đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày: những giao dịch này thường là
thanh toán cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng, từ đó tạo nên số dư giao dịch.
+ Bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh
Từ sơ đồ trên và mô hình quản lý dự trữ EOQ cho chúng ta một cái nhìn tổng
quát trong quản lý tiền mặt bởi vì cũng như các loại tài sản khác, tiền mặt cũng là
một loại hàng hoá (là tài sản) nhưng đây là hàng hoá đặc biệt - một tài sản có tính
lỏng nhất.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền mặt và phải dùng nó để
trả cho các hoá đơn một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt này hết, doanh nghiệp
phải bán các chứng khoán có tính thanh khoản cao để lại có lượng tiền như ban đầu.
Chi phí cho việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh
nghiệp bị mất đi. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán chứng khoán. Khi
đó áp dụng mô hình EOQ, ta có lượng tiền mặt tối ưu là M
*
:
i
xCxM
M
bn
2
*
=
Trong đó:
M
n
Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm.
C
b
:Chi phí cho mỗi lần bán chứng khoán thanh khoản.
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
12
Các chứng khoán thanh
khoản cao
định lượng tiền mặt cao.
- Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán: khi chi phí này lớn người
ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn.
- Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao
động tiền mặt sẽ giảm xuống
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
3/1
4
3
3
=
i
xVC
xxd
bb
Trong đó:
d: khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ
C
b
: chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán
V
b
: phương sai của thu chi ngân quỹ
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
cũng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều đó được thể hiện trên những nét cơ bản sau:
- Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng. Do đó việc được trả
tiền chậm hơn sẽ có nhiều người mua hàng hoá của doanh nghiệp hơn, từ đó làm
cho doanh thu tăng. Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng thì tất nhiên
doanh nghiệp bị chậm trễ trong việc trả tiền và vì tiền có giá trị theo thời gian nên
doanh nghiệp sẽ quy định giá cao hơn.
- Tín dụng thương mại làm giảm được chi phí tồn kho của hàng hóa .
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
- Tín dụng thương mại làm cho tài sản của cố định được sử dụng có hiệu quả
hơn và hạn chế được phần nào về hao mòn vô hình.
- Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng chi phí cho
hoạt động của doanh nghiệp.
- Tín dụng thương mại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ
để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ. Thời hạn cấp tín dụng càng dài thì chi phí ròng
càng lớn. Xác suất không trả tiền của người mua làm cho lợi nhuận bị giảm, nếu
thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn.
Với những tác động nêu trên, buộc các nhà quản lý phải so sánh giữa thu
nhập và chi phí tăng thêm, từ đó giải quyết việc có nên cấp tín dụng thương mại hay
không và các điều khoản trong đó như thế nào cho phù hợp? Thực tiễn cho thấy
doanh thu có khuynh hướng tăng lên khi các tiêu chuẩn tín dụng được nới lỏng
* Chính sách tín dụng thương mại được thực hiện thông qua việc kiểm soát
các yếu tố sau:
- Tiêu chuẩn tín dụng: là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính tối
thiểu và có thể chấp nhận được của khách hàng mua chịu.
- Chính sách chiết khấu: là việc xác định phần tiền chiết khấu đối với khách
hàng mua khối lượng lớn hoặc thanh toán sớm.
- Thời hạn tín dụng: là độ dài thời gian mà các khoản tín dụng được phép kéo
thế phát triển về ngành nghề kinh doanh của họ
1.2.3 Vai trò của công tác quản lý vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Quản lý và sử dụng đúng đắn vốn lưu động là một nội dung quan trọng của
quản lý tài chính doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạch định được một kế hoạch
về việc xây dựng và sử dụng vốn lưu động đạt hiệu quả cao thì sẽ:
- Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
bình thường và liên tục.
- Không gây lên sự căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Là căn cứ quan trọng cho việc xác định các nguồn tài trợ nhu cầu về vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp xây dựng nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ không khuyến
khích doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cải tiến
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động; gây lên
tình trạng ứ đọng vật tư hàng hóa; vốn chậm luân chuyển và phát sinh các chi phí
không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp xây dựng nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây
nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp thiếu vốn sẽ không đảm bảo sản xuất liên tục, gây lên những thiệt hại do
ngừng sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết
với khách hàng.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt vốn lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thực
hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý vốn lưu động không những đảm bảo sử
quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn lưu động trong doanh
nghiệp. Doanh nghiệp quản lý vốn lưu động có hiệu quả cao hay không phụ thuộc
nhiều vào chính sách sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp như: các chính sách
về tiền mặt, chính sách về dự trữ, chính sách về tín dụng thương mại…
- Vấn đề con người luôn là then chốt quyết định các vấn đề khác. Con người
là chủ thể của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, họ là người ra các quyết định
quản lý, là người vận hành máy móc tạo ra sản phẩm, lại là người tiêu dùng sản
phẩm. Chính vì thế yếu tố tác động của con người là không thể tránh khỏi trong mọi
trường hợp.
1.2.4.2 Nhân tố khách quan
Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp luôn gắn liền và chịu tác động
to lớn của môi trường xung quanh. Khả năng cải tạo môi trường theo hướng có lợi
cho doanh nghiệp là rất khó khăn, chính vì thế mà khả năng thích nghi với môi
trường để tồn tại và phát triển, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt
tiêu cực của môi trường là điều mà mỗi doanh nghiệp cần phải làm. Chúng ta xem
xét các nhân tố ảnh hưởng khách quan đến công tác quản lý vốn lưu động của
doanh nghiệp.
- Môi trường kinh tế: mỗi doanh nghiệp đều là một thành viên của một nền
kinh tế nhất định nên nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế mà trước hết là
các chính sách vĩ mô của Chính phủ như chính sách tài khoá, chính sách lãi suất,
chính sách hối đoái… tác động tới giá trị và số lượng các khoản mục trong tài sản
lưu động hết sức rõ rệt. Ngoài ra còn các tác động khác như cung cầu thị trường về
vốn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp, về nguyên vật liệu… Tình hình lạm phát
lãi suất hiện tại cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Nếu nền kinh tế có xu hướng ổn định tăng trưởng thì chính sách tín dụng thương
mại có thể được nới lỏng, việc giữ tiền có thể giảm đi, và ngược lại.
- Chiến lược sản xuất kinh doanh, các chính sách của các đối thủ cạnh tranh
Chương II: THỰC TRẠNG VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SỢI VIỆT AN
2.1 Khái quát công ty Cổ phần sợi Việt An
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty Cổ phần sợi Việt An
Tên công ty: Công ty Cổ phần Sợi Việt An
Tên giao dịch: Viet An Yarn Joint Stock Company.
Địa chỉ : Lô 45 + 46 + 47 Cụm Công nghiệp An Xá – TP Nam Định
Vốn điều lệ : 12.000.000.000 VNĐ.
Công ty CP Sợi Việt An khởi đầu là Công ty TNHH Việt An được thành lập
từ tháng 04/ 2000 có tiền thân là xưởng thu mua bông vải sợi phục vụ nhu cầu nội
địa. Sau đổi tên thành Công ty CP Sợi Việt An và di chuyển địa điểm ra Lô 45 + 46
+ 47 Cụm Công nghiệp An Xá – Nam Định, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sợi
các loại, kinh doanh bông, vải, sợi và phế liệu các loại. Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh số 0703000692 ngày 15/7/2005 do Sở Kế hoạch đầu tư Tỉnh Nam Định
cấp.
Xuất phát là một công ty thương mại nhỏ, cho nên để tồn tại và phát triển
được trong thị trường kinh doanh đầy biến động và cạnh tranh quyết liệt, Công ty đã
mạnh dạn đầu tư cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị. Từ mức đầu tư nhà xưởng máy
móc 300 triệu ban đầu, với đội ngũ công nhân còn ít, quy mô sản xuất nhỏ. Đến nay
mức đầu tư của Công ty đã lên 45 tỷ đồng, với đội ngũ lao động lành nghề, máy
móc thiết bị tiên tiến của Nhật và CHLB Đức. Mặc dù mới chỉ ra đời được 9 năm và
chính thức đi vào lĩnh vực sản xuất được 5 năm, xong Công ty đã có thị trường tiêu
thụ ổn định trong nước và đang mở rộng sang lĩnh vực xuất khẩu sang các nước
Hàn Quốc, Trung Quốc. Trong năm 2009, sản xuất kinh doanh đầy biến động do
sức cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, cơn bão tài chính khu vực ảnh hưởng trực
tiếp đến sản xuất kinh doanh của hầu hết các công ty. Xong với sự lãnh đạo nhiệt
tình, năng động, sáng tạo của ban giám đốc công ty, Công ty vẫn đảm bảo doanh
thu, lợi nhuận và thu nhập cho người lao động như kế hoạch đề ra và là một trong
những đơn vị tiêu biểu của tỉnh Nam Định hoàn thành xuất sắc kế hoạch sản xuất
kinh doanh năm 2009.
Tổ sản xuất số 3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban
Theo điều lệ của công ty cổ phần thì :
- Cơ quan quyết định cao nhất của công ty là Đại hội Cổ Đông.
- Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị để lãnh đạo công ty giữa nhiệm kỳ đại
hội, bầu ban kiểm soát hoạt động của công ty.
- Điều hành hoạt động của công ty là giám đốc do đại hội cổ đông đề ra.Chủ tịch
hội đồng quản trị chính là giám đốc công ty, giám đốc công ty chỉ đạo điều hành
chung mọi hoạt động theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật, ký kết các hợp
đồng sản xuất kinh doanh với các tổ chức kinh tế và tín dụng. Và là người chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Có hai phó giám
đốc giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc kỹ thuật và phó giám đốc kinh doanh.
Các phòng ban nghiệp vụ thực hiện công việc chuyên môn gồm :
* Phòng tổng hợp: gồm 4 người
+ 2 Cán bộ phụ trách nhân sự : Có trách nhiệm giúp giám đốc trong việc tuyển
dụng, nghiên cứu, bố trí lao động phù hợp với tính chất của công việc.
Bố trí, sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý, phân xưởng sản xuất.
Nghiên cứu biện pháp bảo hộ lao động, xây dựng an toàn nhà xưởng, chăm lo đời
sống sức khoẻ người lao động góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh của công ty.
Điều độ sản xuất, kiểm tra kiểm soát các định mức lao động, đơn giá sản phẩm, tiền
lương ở các đơn vị với kết quả hợp đồng đã ký kết. Chấn chỉnh điều phối, đảm bảo
công bằng về lao động, việc làm thu nhập ở các đơn vị.
+ 2 Cán bộ phụ trách kinh doanh :
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
22
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Chịu trách nhiệm nắm bắt nhu cầu thị trường để có kế hoạch cho sản xuất các mặt
hàng, xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư phục vụ cho sản xuất.
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh công ty Cổ phần Sợi Việt An trong những
năm gần đây
2.1.3.1 Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của công ty Cổ phần Sợi Việt An
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty CP Sợi Việt An thuộc 2 lĩnh
vực là sản xuất và thương mại.
* Về sản xuất : Sản xuất sợi nồi cọc chỉ số từ 20/1 đến 32/1 (100% cotton)
làm nguyên liệu cho sản xuất vải, khăn nội địa và xuất khẩu.
* Về thương mại: Buôn bán kinh doanh bông nguyên liệu, phế liệu bông, sợi
các loại phục vụ cho nhu cầu nội địa
Chức năng chủ yếu của Công ty là sản xuất sợi, thương mại là ngành nghề đi
kèm trong những lúc dư thừa nguồn nguyên liệu
2.1.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Sợi Việt An
(2007-2009)
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, bao gồm các
chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và các hoạt
động khác.
Doanh thu thuần về
BH và cung cấp DV
=
Doanh thu BH và cung
cấp DV
-
Các khoản giảm trừ doanh
thu
LN gộp về BH và
cung cấp DV
=
Doanh thu thuần về BH
- Thuế TNDN
Thuế TNDN =
Tổng lợi nhuận kế toán
trước thuế
x
Thuế suất thuế
TNDN
SV: Nguyễn Ngọc Thúy TCDN – LTK10
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Bảng 1: Bảng phân tích kết quả hoạt động kinh doanh (2007-2009)
ĐVT: VNĐ
STT Các chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Chênh lệch
Tuyệt đối
Tương đối
(%)
08/07 09/08 08/07 09/08
1 Doanh thu BH và cung cấp DV
37.458.500.321 42.356.800.235 42.903.500.200 4.898.299.914 546.699.965 13,08 1,29
2 Các khoản giảm trừ
0 0 0 0 0
3
Doanh thu thuần về BH và cung
cấp DV
37.458.500.321 42.356.800.235 42.903.500.200 4.898.299.914 546.699.965 13,08 1,29
4 Giá vốn hàng bán
34.963.422.562 39.359.206.562 39.720.300.263 4.395.784.000 361.093.701 12,57 0,92
5 LN gộp về BH và cung cấp DV
2.495.077.759 2.997.593.673 3.183.199.937 502.515.914 185.606.264 20,14 6,19