Chuyờn thc tp tt nghip GVHD: TS. Ngụ Th Tuyt Mai
Nguyn Bớch Ngc
TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QuốC DÂN
KHOA THƯƠNG MạI Và KINH Tế QuốC Tế
Chuyên đề thực tập CuốI KHOá
TI:
GII PHP P NG C CC QUY NH V TIấU
CHUN MễI TRNG CA EU THC Y XUT
KHU HNG NễNG SN CA VIT NAM
SV: Nguyn Thanh Nga Lp: Kinh t quc t 49B
Giáo viên huớng dẫn
: Ts. Ngô thị tuyết mai
Nguyễn bích ngọc
Sinh viên thực hiện
: NGUYN THANH NGA
MSV
: CQ491887
Lớp
: Kinh tế quốc tế 49b
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
Hµ NéI, 05/2011
LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề tốt nghiệp đề tài: “Giải pháp đáp ứng được các quy định và tiêu
chuẩn môi trường của EU để thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam”
do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Thị Tuyết Mai và cô Nguyễn Bích
Ngọc cùng sự giúp đỡ của các là cán bộ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT
TẮT
TIẾNG ANH
TIẾNG VIỆT
WTO World Trade Organization Tổ Chức Thương Mại Thế giới.
EU European Union Chuỗi cung ứng Dệt may ASEAN
GATT
General Agreement on Tariffs and
Trade
Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại
GATS
General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về thương mại và dịch
vụ
TRIPs
Trade-related aspects of intellectual
property rights
Hiệp định về sở hữu trí tuệ
MEAs Multilateral Environmental Agreements Hiệp định môi trường đa phương
ISO Intenational standard organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
HACCP
Hazard Analysis Critical Control Point Hệ thống phân tích rủi ro bằng điểm
kiểm soát tới hạn
EMAS Ecological Management and Audit Hệ thống Kiểm tra và Quản lý Sinh thái
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
4
Xuất phát từ các vấn đề trên, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp đáp ứng
được các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU để thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của Việt Nam” để đưa ra cái nhìn sâu và toàn diện hơn về các tiêu chuẩn
môi trường của EU đối với hàng nông sản, nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt
Nam sang EU, góp phần nâng cao vị thế cho nền kinh tế Việt Nam.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quy định, tiêu chuẩn về môi trường của EU đối với
hàng hóa nhập khẩu nói chung và hàng nông sản nói riêng của Việt Nam và mức độ
hàng nông sản Việt Nam đáp ứng được các quy định và tiêu chuẩn này.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các quy định và tiêu chuẩn môi trường của EU và ảnh hưởng của
nó đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Trong đó, có lựa chọn ba mặt hàng nông
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
sản xuất khẩu chủ yếu: cà phê, chè, rau quả. Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2002
đến 2010 và dự báo đến hết 2015.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
3. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã nêu ra trong đề tài, trong quá trình
nghiên cứu, đề tài sử dụng một số phương pháp truyền thống như: thống kê, so
sánh, phân tích và tổng hợp để rút ra những nhận xét, đánh giá có căn cứ cho vấn đề
nghiên cứu.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành ba chương:
Về hoạt động thương mại trong nông nghiệp, WTO cho phép các chương trình
môi trường được miễn trừ khỏi việc cắt giảm chính sách trợ giá của Chính phủ;
Về chính sách trợ giá và bù thuế, WTO cho phép trợ giá đến 20% giá thành cố
định khi áp dụng các luật môi trường mới;
Về chính sách sở hữu trí tuệ, WTO cho phép các chính phủ có thể từ chối cấp
bằng cho các phát minh đe dọa cuộc sống và sức khỏe của con người, động vật và
thực vật, hoặc gây rủi ro thiệt hại nghiêm trọng tới môi trường (Điều 27 của Hiệp
định về Sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại – TRIPs)
Như vậy, việc gắn kết các quy định về môi trường trong các công ước quốc tế về
môi trường hoặc các hiệp định môi trường đa phương (Multilateral Environmental
Agreements-MEAs) với các hoạt động thương mại quốc tế được thể hiện và thực
hiện thông qua các hiệp định thương mại đa phương của WTO.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
1.2. Các quy định và tiêu chuẩn về môi trường của EU
1.2.1. Quy định và tiêu chuẩn chung về môi trường của EU
Chính sách môi trường của EU dựa trên các Hiệp định quốc tế, đặc biệt dựa
trên Chương trình Nghị sự 21 của Hiệp định Rio de Janeiro (Hiệp định Rio), Hội
nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển được tổ chức năm 1992 tại
Braxin. Đây là Hiệp định tạo nền móng cho sự phát triển bền vững hơn trên phạm vi
toàn cầu bằng cách tạo ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi
trường. EU và các nước thành viên đã cam kết thực hiện các hành động trong khuôn
khổ Hiệp Định Rio.
Chương trình môi trường của EU hiện nay nhấn mạnh việc xử lý nguyên
nhân gốc rễ của vấn đề về môi trường chứ không phải là đối phó với các rắc rối khi
chúng đã xảy ra. Danh sách sản phẩm chịu tác động của các quy định bắt nguồn từ
chính sách về môi trường và ý thức của người tiêu dùng bao gồm rất nhiều sản
phẩm như: dệt may, thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến, dược phẩm, đồ da,
khẩu phải thực hiện tốt các quy định về môi trường, nghĩa là bao bì (bao bì vận
chuyển, bao bì thương mại…) phải được giới hạn và có thể tái chế.
1.2.1.2. Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng và quản lý môi trường
* Tiêu chuẩn quản lý chất lượng
Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng gồm quản lý chất lượng sêri ISO 9000
như ISO 9000, ISO 9001, ISO 9002. Các nhà sản xuất phải coi chứng nhận ISO
9001 và ISO 9002 như là một tài sản quan trọng và là điểm bắt đầu để cạnh tranh
trong thị trường EU.
Cuối năm 2000, Ủy ban kỹ thuật (TC 176) của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO)
cho ra đời phiên bản mới nhất là ISO 9000 – 2000. Hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000 –
2000 bao gồm sự kết hợp ISO 9001, 9002, 9003 vào làm một. ISO 9000 – 2000 đề
cập đến các lĩnh vực chủ yêu trong quản lý chất lượng như chính sách chất lượng,
thiết kế triển khai sản phẩm và quá trình cung ứng, kiểm soát quá trình, bao gói,
phân phối, dịch vụ sau bán hàng, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào
tạo… ISO 9000 là tập hợp kinh nghiệm quản lý tốt nhất đã được thực thi trong
nhiều quốc gia và khu vực, được chấp nhận là tiêu chuẩn quốc gia của nhiều nước.
Mục tiêu lớn nhất của bộ tiêu chuẩn ISO là đảm bảo chất lượng đối với người tiêu
dùng.
Bộ tiêu chuẩn ISO được xây dựng dựa trên 4 triết lý: thứ nhất, tạo ra những sản
phẩm và dịch vụ có chất lượng để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; thứ hai, các
tiêu chuẩn của hệ thống chất lượng sẽ bổ sung thêm vào các đặc trưng kỹ thuật của
sản phẩm nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng; thứ ba, nêu ra những
hướng dẫn đối với hệ thống chất lượng cho việc phát triển có hiệu quả chứ không
áp đặt một hệ thống chất lượng chuẩn đối với từng doanh nghiệp; thứ tư, dựa trên
mô hình quản trị theo quá trình (MBP – Management by Process) lấy phòng ngừa
làm phương châm chủ yếu trong suốt vòng đời sản phẩm (thiết kế - sản xuất – tiêu
dùng).
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 – 2000 gồm 24 tiêu chuẩn được chia thành 5 nhóm:
(1) ISO 9001: Hệ thống chất lượng – Mô hình đảm bảo chất lượng trong quá
trình thiết kế, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ.
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
Hình 1.1: ISO 14000
Nguồn: Bộ thương mại (2002), Nghiên cứu tác động của quy định và tiêu chuẩn
về môi trường liên quan đến thương mại và khả năng thích ứng của một số mặt
hàng xuất khẩu Việt Nam, tr 59-60.
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 đề cập đến 6 lĩnh vực sau:
(1) Hệ thống quản lý môi trường (Environmental Management Systems – EMS);
(2) Kiểm tra đánh giá môi trường (Environmental Auditing – EA);
(3) Đánh giá kết quả hoạt động môi trường (Environmental Performance
Evaluation – EPE);
(4) Ghi nhãn môi trường (Environmental Labelling – EL);
(5) Đánh giá vòng đời sản phẩm (Life Cycle Assesment – LCA);
(6) Các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn của sản phẩm (Environmental
Aspects in Product Standards – EAPS).
ISO 14001 là tài liệu quy định các yêu cầu đối với Hệ thống Quản lý của Bộ
tiêu chuẩn ISO 14000. Nó bao gồm các yếu tố mà tổ chức cơ sở muốn đăng ký hoặc
chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn phải thỏa mãn. Các chức năng cơ bản của
ISO 14000 tương tự như ISO 9001, ISO 9002 trong Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được
gọi là các tài liệu về yêu cầu đối với hệ thống quản lý
1
.
1
Bộ Thương mại (2002), Nghiên cứu tác động của quy định và tiêu chuẩn về môi trường liên quan đến
thương mại và khả năng thích ứng của một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam, tr 59-60
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
13
ISO 14000 – Bộ tiêu chuẩn về Quản lý
Môi trường
hiệu quả kinh tế nhất cho đảm bảo an toàn thực phẩm.
Đối với tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm
phải tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh chặt chẽ bằng việc áp dụng HACCP. Tất cả các
nhà chế biến thực phẩm muốn xuất khẩu hàng hóa sang EU đều chịu sự bắt buộc,
mang tính pháp lý, phải áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn HACCP ngay từ
đầu hoặc phải triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn này. Hệ thống HACCP được
áp dụng đối với các công ty tham gia chế biến, xử lý, đóng gói, vận chuyển, phân
phối hoặc kinh doanh thực phẩm. Các công ty này buộc phải hiểu và hành động để
tránh được những rủi ro có thể xảy ra đối với thực phẩm trong tất cả các công đoạn
sản xuất thực phẩm, từ nuôi trồng, chế biến, sản xuất, phân phối, cho tới khâu tiêu
thụ. Công việc này bao gồm và phải tính đến những vấn đề như sâu bọ, vi sinh (vi
rút, vi khuẩn, nấm mốc), chất độc (nhiễm thuốc trừ sâu) hoặc rủi ro có thể nhìn thấy
bằng mắt thường mang tính vật chất (lẫn gỗ, sắt, thủy tinh, nhựa hoặc sợi).
Chỉ thị 93/43/EC – Hướng dẫn vệ sinh thực phẩm, có hiệu lực từ tháng 1 năm
1996, quy định: “Các công ty chế biến thực phẩm phải tìm ra khía cạnh đảm bảo
các thủ tục an toàn thực phẩm trong mỗi hoạt động của mình và đảm bảo các thủ tục
an toàn thích hợp được thiết lập, áp dụng, duy trì và xem xét lại trên cơ sở hệ thống
HACCP”.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
HACCP được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Xác định mọi rủi ro có thể xảy ra trong suốt vòng đời của sản phẩm. Hướng
dẫn phân tích những mối nguy;
(2) Xác định các điểm kiểm soát tới hạn, các giai đoạn có thể kiểm soát được
trong vòng đời của sản phẩm (Control Critical Pionts – CCPs);
(3) Xác định độ chênh lệch tối đa cho phép đối với tiêu chuẩn của từng điểm
kiểm soát tới hạn. Thiết lập ranh giới tới hạn;
(4) Xây dựng, triển khai hệ thống kiểm soát gồm việc thử nghiệm và quan sát
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
HACCP dẫn đến việc ngăn ngừa có hiệu quả hơn bệnh tật từ sản phẩm. Theo Cơ
quan Quản lý thực phẩm và dược mỹ phẩm, áp dụng HACCP cho máy chế biến cá
được đánh gia ngăn chặn khoảng chừng 20 đến 60% bệnh do hải sản gây ra.
Các nhà xuất khẩu bắt buộc phải tuân theo Hướng dẫn 91/493/EEC mới
được xuất khẩu sang thị trường EU. Những hướng dẫn này cũng đều khuyên các
nhà cung cấp áp dụng HACCP. Một đoàn thanh tra của Ủy ban châu ÂU sẽ thanh
tra quá trình sản xuất của các công ty. Chỉ khi công ty nào vượt qua được đợt thanh
tra này mới được công nhận thuộc danh sách các công ty được xuất khẩu sang EU.
Hệ thống Kiểm tra và Quản lý Sinh thái (Ecological Management and
Audit Scheme – EMAS)
Một tiêu chuẩn khác về quản lý môi trường cũng được áp dụng tại EU là Hệ
thống Kiểm tra và Quản lý sinh thái EMAS. Hệ thống này được CEN đưa ra năm
1993. Tuy nhiên, thường chỉ có các doanh nghiệp của EU đăng ký áp dụng EMAS.
Cho đến nay đã có hơn 8000 doanh nghiệp trên toàn thế giới nhận được chứng chỉ
ISO 14001, nhưng chỉ có khoảng 2000 doanh nghiệp áp dụng EMAS
2
.
Mục tiêu của EMAS là đẩy mạnh sự cải thiện, tiếp tục việc thực hiện tiêu
chuẩn môi trường của các tổ chức châu Âu, cùng với việc cung cấp thông tin cho
cộng đồng và các đối tác quan tâm. EMAS là công cụ quản lý đối với các doanh
nghiệp, các tổ chức để đánh giá, báo cáo và cải thiện việc thực hiện bảo vệ môi
trường của họ. EMAS có giá trị hiệu lực thi hành từ năm 1995 (Quy định của hội
đồng EEC số 186/93 ngày 29/07/1993), ban đầu chỉ áp dụng đối với các doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp.
Từ năm 2001, EMAS được mở rộng đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, bao
gồm cả dịch vụ công cộng và tư nhân (Quy định 761/2001/EEC của Quốc hội và
Hội đồng ngày 19/3/2001). Thêm vào đó, EMAS đã được củng cố bằng việc cân
nhắc tới hiệu quả gián tiếp cũng như các liên quan khác đến dịch vụ tài chính hoặc
Bản đánh giá đã được phê chuẩn cần được gửi tới một cơ quan EMAS của EU có
uy tín để đăng ký và công bố công khai trên phương tiện truyền thông đại chúng
trước khi doanh nghiệp sử dụng biểu tượng EMAS.
Các quy định về môi trường đối với hàng nhập khẩu của EU nói trên là yêu cầu
bắt buộc mà các nước xuất khẩu phải tuân thủ. Còn tiêu chuẩn môi trường, EU
không có tiêu chuẩn môi trường riêng đối với hàng nhập khẩu mà chỉ có tiêu chuẩn
môi trường chung áp dụng đối với hàng sản xuất trong khối. Nhưng nếu hàng nhập
khẩu đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường của EU thì sẽ rất thuận lợi cho việc thâm
nhập vào thị trường này.
1.2.1.3. Nhãn hiệu sinh thái (Eco – label)
EU đang thực hiện chương trình Nhãn sinh thái (Ecolabel). Mục đích của
chương trình này nhằm phát triển các sản phẩm thân thiện môi trường. Hiện nay có
14 nhóm sản phẩm nằm trong phạm vi Chương trình Nhãn sinh thái của EU. Ủy ban
châu Âu đang xây dựng Tiêu chuẩn đối với 7 nhóm sản phẩm khác. Các nhà sản
xuất và nhập khẩu sản phẩm sử dụng nhãn này trên cơ sở tự nguyện.
Nhãn sinh thái của EU và mỗi quốc gia trong EU dựa trên một sự đánh giá
đầy đủ vòng đời của sản phẩm, áp dụng cho hàng loạt các sản phẩm. Khác với nhãn
hiệu sản phẩm, nhãn sinh thái chứng nhận hàng hóa đạt được các yêu cầu về môi
trường sinh thái. Càng ngày, nhãn sinh thái càng đòi hỏi cả vấn đề chất lượng và
vấn đề xã hội.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
Mục đích của Chương trình Nhãn sinh thái mang lại cho khách hàng một sự
lựa chọn khi mua các sản phẩm được thiết kế, sản xuất, đóng gói bao bì để có thể
được hủy bỏ khi kết thúc vòng đời theo cách không làm ảnh hưởng đến môi trường.
Các chương trình Nhãn sinh thái tại EU bao gồm:
- Nhãn sinh thái EU
EU thực hiện Chương trình Nhãn sinh thái (Eco – Label) với mục đích phát triển
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết ủng hộ nông nghiệp
sinh thái và phát triển nông nghiệp bền vững lại càng làm cho các chính phủ, nhà
sản xuất, người tiêu dùng EU chú ý hơn đến nông nghiệp hữu cơ và nông sản hữu
cơ. Cho đến hiện nay, làn sóng bảo vệ môi trường ở EU đang dâng cao. Người tiêu
dùng EU ngày càng quan tâm đến vấn đề môi trường, chất lượng thực phẩm và sức
khỏe của bản thân nên nhu cầu về các sản phẩm hữu cơ không ngừng tăng lên.
EU là nơi đi tiên phong trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên thế giới, đồng
thời là thị trường tiêu thụ lớn nhất hiện nay trên thế giới về thực phẩm hữu cơ.
Trong đó, Đức có nhu cầu tiêu thụ chiếm 1/3 tổng nhu cầu thực phẩm hữu cơ EU và
đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Theo dự đoán, mức tiêu thụ sản phẩm hữu cơ
đến năm 2008 ở Đức sẽ chiếm 25% thị trường thực phẩm nước này. Sau Đức, các
thành viên còn lại như Pháp, Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Italia và Áo cũng
tiêu thụ sản phẩm hữu cơ tương đối nhiều.
Những sản phẩm thực phẩm được sản xuất theo phương pháp hữu cơ là
những sản phẩm đang và sẽ đưa ra những dấu hiệu về phương pháp sản xuất hữu
cơ: (1) Sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến, động vật và sản phẩm từ động vật
chưa qua chế biến; (2) Sản phẩm tiêu dùng có trên một thành tố có nguồn gốc động,
thực vật.
Nhãn cho thực phẩm được sản xuất theo phương pháp hữu cơ phải đáp ứng
các yêu cầu sau:
+ Những dấu yêu trên nhãn phải thể hiện một cách rõ ràng rằng, sản phẩm
được sản xuất theo phương pháp hữu cơ;
+ Sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu từ nước thứ ba theo quy định;
+ Sản phẩm được sản xuất hay nhập khẩu bởi người sản xuất, nhập khẩu từ
nước thứ ba;
+ Hướng dẫn sử dụng và hạn sử dụng.
1.2.2.1. Quy định về vệ sinh
Ngày 18/12/2006, bộ trưởng môi trường các nước thành viên Liên minh châu
Âu (EU) đã chính thức thông qua luật mới về quản lý và sử dụng hóa chất: luật
REACH. Luật REACH: (Registration Evaluation Autorissation Chemicals) quy
định sử dụng các loại hóa chất trong sản xuất. REACH là quy định khung mới của
EU liên quan đến 103.000 loại hóa chất khác nhau. REACH là tập hợp của:
Registration: đăng ký, Evaluation: đánh giá, Autorisation: cấp phép lưu hành,
Chemicals: hóa chất. Luật này quy định về việc đăng ký, đánh giá và cấp phép đối
với các hóa chất thông qua các tiêu chuẩn, chi tiết cụ thể quy định việc sử dụng hóa
chất trong sản xuất. Các quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, môi trường
và an toàn lao động, cũng như nâng cao tính cạnh tranh và khả năng đổi mới các
ngành hóa chất tại EU.
REACH là quy định quan trọng mới nhằm củng cố các quy định về hóa chất
hiện hữu và tạo điều kiện chuẩn chung cho EU. Theo quy định này, mọi hóa chất
được dùng với khối lượng lớn hoặc được cho là có khả năng ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe con người và môi trường đều phải đăng ký với cơ quan quản lý hóa chất châu
Âu (ECHA). Được ban hành từ tháng 6/2007, REACH có hiệu lực theo giai đoạn,
bắt đầu bằng việc đăng ký từ ngày 1/6-1/12/2008. Giai đoạn này, các chủ thương
hiệu, các nhà sản xuất và nhập khẩu cần công bố các thông tin về hóa chất có trong
sản phẩm của mình được xuất khẩu sang EU. Sau đó, việc đáp ứng đầy đủ các yêu
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
cầu của REACH cần phải đạt được trong thời gian quy định là 10 năm để chứng
minh được rằng các loại hóa chất này không gây hại đến sức khỏe con người và môi
trường. Từ tháng 12/2008 trở đi, bất cứ sản phẩm nào có chứa hóa chất mà không
đăng ký trước sẽ phải trải qua một quá trình đăng ký chi tiết và kéo dài trước khi có
thể xuất khẩu hàng hóa sang EU.
Những sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh của REACH gồm:
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
1.2.2.2. Quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm
Quy định này có trong bộ tiêu chuẩn EUREPGAP
Khái niệm GAP (Thực hành canh tác tốt) đã phát triển vào những năm gần đây
trong bối cảnh những thay đổi và toàn cầu hóa nhanh chóng của ngành công
nghiệp thực phẩm và là kết quả của nhiều mối quan tâm, cam kết của những người
quản lý sản xuất thực phẩm, an ninh lương thực, chất lượng và an toàn thực phẩm,
sự bền vững môi trường của ngành nông nghiệp.
Theo nghĩa rộng: GAP áp dụng những kiến thức sẵn có hướng đến sự bền vững
về môi trường, kinh tế-xã hội đối với sản xuất nông nghiệp và các quá trình sau sản
xuất tạo ra các sản phẩm nông nghiệp phi thực phẩm và thực phẩm bổ dưỡng an
toàn; Nông dân tại các quốc gia phát triển và đang phát triển đã áp dụng GAP qua
các phương pháp nông nghiệp bền vững như: quản lý động vật gây hại, quản lý dinh
dưỡng và bảo tồn nông nghiệp. Những phương pháp này được áp dụng tùy theo các
hệ thống canh tác và qui mô của từng đơn vị sản xuất bao gồm sự hỗ trợ, đóng góp
của các chương trình và chính sách của nhà nước về an ninh lương thực, các cơ sở
vật chất…
Việc phát triển của cách tiếp cận chuỗi thực phẩm đến chất lượng và an toàn
thực phẩm có nhiều quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp và thực hành sau
sản xuất, và đề ra nhiều cơ hội sử dụng các nguồn lực bền vững. Ngày nay tiêu
chuẩn EUREGAP được công nhận chính thức trong khuôn khổ qui tắc quốc tế,
nhằm giảm thiểu các mối nguy liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu, đánh giá
sức khỏe nghề nghiệp và cộng đồng, cân nhắc đến môi trường và an ninh.
EUREPGAP là một tiêu chuẩn về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt của Châu
Âu, được ban hành lần đầu tiên vào năm 1997. Tiêu chuẩn bày được xây dựng bởi
nhóm các nhà bán lẻ thực phẩm Châu Âu trong lĩnh vực kinh doanh bán lẻ các thực
phẩm nông nghiệp. EUREPGAP dựa trên các nguyên tắc phân tích và phòng ngừa
các mối nguy. Sử dụng các phương pháp trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), quản lý mùa
4. Lịch sử vùng đất
5. Quản lý nguồn đất
6. Sử dụng bân bón
7. Tưới tiêu
8. Các hoạt động bảo vệ mùa màng
9. Thu hoạch
10. Vận hành sản phẩm
11. Quản lý ô nhiễm và chất thải, tái sản xuất, tái sử dụng
12. Sức khỏe, an toàn và phúc lợi cho người lao động
13. Môi trường
14. Khiếu nại
Để được công nhận là thành viên của EUREPGAP, nước sở tại phải lập thủ
tục xác nhận các tiêu chuẩn phù hợp điểm chuẩn dựa trên cơ sở tiêu chuẩn
EUREPGAP do các hội đồng chứng nhận EUREPGAP tư vấn và chứng nhận.
Tại Trung Quốc, sau một năm đăng ký và xây dựng, ngày 11/04/2006 vừa qua
đã được Hội đồng EUREPGAP công nhận ChinaGAP và đã công bố áp dụng trên
14 tỉnh của Trung Quốc.
Tại Nhật Bản, hội nghị giúp Nhật Bản xây dựng JGAP vào ngày 27-28/04/2006
được đánh dấu mới bắt đầu xây dựng tiêu chuẩn.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Ngô Thị Tuyết Mai
Nguyễn Bích Ngọc
Tính đến năm 2005, tổ chức EUREPGAP đã chứng nhận cho 35.000 nhà sản
xuất và hơn 60 quốc gia, trong đó có Thái Lan với ThaiGap.
Tại khu vực ASEAN, Singapore công bố GAP-VF, Philippine công bố GAP-
FV, Indonesia công bố INDO GAP dựa trên cơ sở hệ thống QA phát triển thành.
Quy định về mức dư lượng tối đa (MRLs)
Quy định “Regulation (EC) No 396/2005” chính thức có hiệu lực từ ngày
1/9/2008, là kết quả của nỗ lực chung giữa Ủy ban châu Âu (EC), Cơ quan an toàn
Bảng 1.1: Danh mục một số thuốc trừ sâu và hàm lượng tối đa cho phép
trong sản phẩm nông nghiệp
1 CHLORPYRIFOS- 0,01 mg/kg (1982) 10 FENITOTHION – 0,005 mg/kg (1988)
2 DDT – 0,02mg/kg 11 ENDRIN – 0,0002mg/kg
3 2,4-D-0,01 mg/kg (1996) 12 ETHION – 0,002 mg/kg (1990)
4 CHINOMETHIONAT – 0,006 mg/kg
(1987)
13 ETHOXYQUIN – 0,005 mg/kg (1998)
5 DIAZINON – 0,002 mg/kg 14 FENCHLORHOS – 0,1 mg/kg (1968)
6 DICHLORVOS – 0,004 mg/kg 15 ENDOSULFAN – 0,006 mg/kg
7 DICOFOL – 0,002 mg/kg (1992) 16 FENSULFOTHION – 0,0003 mg/kg
8 DIMETHOATE – 0,002 mg/kg 17 ENDOSULFAN - 0,006 mg/kg
9 DIOXATHION – 0,0015 mg/kg (1968) 18 CHLORPYRIFOS – METHYL -
0,01mg/kg (1992)
Nguồn: Thị trường EU- Các quy định pháp lý liên quan đến chính sách sản
phẩm trong Marketing xuất khẩu (Sách chuyên khảo). TS Nguyễn Thanh Bình, NXB
Lao động xã hội, 2005, tr81.
EU là một trong những thị trường nhập khẩu nông sản lớn trên thế giới và có
nhu cầu khá lớn về các loại quả nhiệt đới. Trong khi đó, Việt Nam lại có tiềm năng
sản xuất loại quả này. Để tăng cường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nói
chung và quả nhiệt đới nói riêng sang EU, các nhà sản xuất Việt Nam nên tuân thủ
quy định hàm lượng thuốc trừ sâu tối đa có trong rau, quả. Việc tuân thủ quy định
này không những góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường EU,
mà còn đảm bảo sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường.
SV: Nguyễn Thanh Nga Lớp: Kinh tế quốc tế 49B
25