Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở Tỉnh Thanh Hóa - Pdf 25


1

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HƢƠNG
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
Ở TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội


Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ MỞ ĐẦU
1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ
7
1.1.
Vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương
thức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
7

29 5
1.2.1.
Khái niệm hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
29
1.2.2.
Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân
cấp xã
31
1.2.2.1.
Đảm bảo dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân cấp xã
32
1.2.2.2.
Tạo ra sự chuyển biến tích cực về tình hình kinh tế - xã hội ở
địa phương
32
1.2.2.3.
Kết quả hoạt động mang lại so với chi phí bỏ ra
33
1.2.3.
Điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân
dân cấp xã
34
1.2.3.1.
Đảm bảo sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động
của Hội đồng nhân dân cấp xã
34

Hóa nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016
44 6
2.2.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa
từ năm 2004 đến nay
48
2.2.1.
Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã ở tỉnh
Thanh Hóa từ năm 2004 đến nay
48
2.2.1.1.
Kỳ họp của Hội đồng nhân dân cấp xã
48
2.2.1.2.
Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã
54
2.2.1.3.
Hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
58
2.2.2.
Đánh giá về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu
điểm, hạn chế
62
2.2.2.1.
Ưu điểm
62
2.2.2.2.

về nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan dân cử nói
chung và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng
72 7
3.2.2.
Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và chức năng của Hội
đồng nhân dân cấp xã
74
3.2.3
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
phải được tiến hành có kế hoạch, thường xuyên và liên tục
75
3.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng
nhân dân cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay
77
3.3.1.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng đối
với Hội đồng nhân dân cấp xã
77
3.3.2.
Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã
78
3.3.3.
Nâng cao năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
80
3.3.4.

: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa 9
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Cơ cấu, số lượng đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2004 -
2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016
44
2.2
Trình độ văn hóa và chuyên môn của đại biểu HĐND cấp
xã tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ
2011 - 2016
45
2.3
Trình độ lý luận chính trị và quản lý nhà nước của đại
biểu HĐND cấp xã tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2004 -
2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016
45
2.4
Độ tuổi đại biểu HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa nhiệm
kỳ 2004 - 2011 và nhiệm kỳ 2011 - 2016
45

hiện quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước là một trong những yêu cầu quan trọng
để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Mục đích là làm cho các cơ quan nhà nước ở trung
ương cũng như ở địa phương thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ
của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Trong bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân (HĐND) vừa là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, xây dựng HĐND các cấp có
thực quyền để đảm đương đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình là một yêu
cầu cấp thiết hiện nay.
Trong hệ thống HĐND các cấp, HĐND cấp xã (cấp xã gồm: xã, phường,
thị trấn) có vị trí, vai trò quan trọng, là nơi gần dân nhất, trực tiếp thực thi
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương và là
nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng
và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh.
HĐND cấp xã là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã. 11
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:
"Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,
bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương
trong phạm vi được phân cấp. Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân
dân" [14, tr. 127].
Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X

khẳng định được vai trò là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, là nơi
đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của HĐND
cấp xã hiện nay do nhiều nguyên nhân vẫn còn những hạn chế nhất định, thực
chất chưa tương xứng với vị trí, vai trò của nó trong hệ thống cơ quan quyền
lực nhà nước cũng như với nhiệm vụ mà nhân dân giao phó. Nhiều nơi hoạt
động của HĐND cấp xã chỉ mang tính hình thức, tính đại diện và khả năng
thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương thấp, dẫn
đến việc vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, cản trở quá trình dân chủ hóa
đời sống xã hội. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã
hiện nay là yêu cầu bức thiết.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy nâng cao hiệu quả hoạt động
của Hội đồng nhân dân cấp xã là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp thiết.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài "Hiệu quả hoạt động của Hội
đồng nhân dân cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung, HĐND cấp
xã nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu một số công trình sau:
- Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương, của PGS.TS Nguyễn
Đăng Dung, NXB Đồng Nai, năm 1997.
- Đổi mới hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp
xã, của Trần Nho Thìn, Luận án tiến sĩ, năm 2000. 13
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân các cấp, của Lê Minh Thông, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/1999.
- Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong giai đoạn
hiện nay, của ThS. Nguyễn Hoàng Anh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 5/2003.

lý luận về vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức
hoạt động của HĐND cấp xã; khái niệm, tiêu chí đánh giá và điều kiện đảm
bảo hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã; phân tích thực trạng hoạt động của
HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa để tìm ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
của những ưu điểm, hạn chế; trên cơ sở đó đưa ra quan điểm, giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về hoạt
động của HĐND cấp xã và được giới hạn trong thực tiễn hoạt động của
HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2004 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và
pháp luật XHCN, về tổ chức và hoạt động của HĐND.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin kết hợp
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế…
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở cả ba chương để làm sáng
tỏ các vấn đề lý luận, cũng như đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa. 15
Phương pháp thống kê, so sánh, khảo sát thực tế được sử dụng chủ yếu ở
chương 2, nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng hoạt động của HĐND cấp xã ở
tỉnh Thanh Hóa.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Với việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hiệu quả hoạt
động của HĐND cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa, luận văn sẽ có những đóng góp

hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân…" [35]. Với khẳng định trên, ở nước ta nguồn gốc,
bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. "Nhân dân sử dụng quyền
lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân" [35].
Trong hệ thống HĐND các cấp, HĐND cấp xã (cấp xã gồm: xã, phường,
thị trấn) có vị trí, vai trò quan trọng, là nơi gần dân hơn, sát dân hơn, thường
xuyên tiếp xúc với dân, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương; là nơi để người dân
bày tỏ trực tiếp ý chí, nguyện vọng của mình, đóng góp ý kiến xây dựng chính
quyền của dân, do dân, vì dân và là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương,
biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng - an ninh.
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, HĐND cấp xã đã khẳng định
được vị trí, vai trò, trách nhiệm to lớn của mình. HĐND thực sự trở thành
diễn đàn để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội. Sự
hiện diện của HĐND dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện
được tính chất giai cấp sâu sắc, tính nhân dân thực sự của nhà nước, tạo nên
niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính quyền của dân, do dân, vì dân. 17
Điều 119 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 1
Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" [35].
Từ những quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001), Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, có thể khái quát vị trí, tính
chất của HĐND cấp xã như sau:
* Tính chất: HĐND cấp xã là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương

UBND cùng cấp (là cơ quan chấp hành của mình, là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương);
- Căn cứ vào quy định của Hiến pháp và pháp luật, HĐND cấp xã ban
hành các Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương;
- HĐND cấp xã giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương.
Tính chất đại diện và vị trí cơ quan quyền lực nhà nước của HĐND
cấp xã có quan hệ biện chứng với nhau. Tính đại diện là tiền đề đảm bảo để
HĐND cấp xã trở thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Và chỉ có
thể là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND cấp xã mới có đủ
quyền năng thực hiện tính chất đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân
quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương.
Với vị trí, tính chất được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2001), Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND cấp xã
vừa là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, vừa là chủ thể quyền lực, đại diện
cho nhân dân địa phương. Chính vị trí, tính chất này đã quyết định chức năng
của HĐND cấp xã.
1.1.2. Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã
Chức năng của HĐND cấp xã là những phương diện hoạt động chính,
chủ yếu của HĐND. 19
Căn cứ vào Điều 1, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, HĐND
cấp xã có 2 chức năng: Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và
giám sát.
1.1.2.1. Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương
Điều 1, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định:
Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp
quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát
triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh,

thực hiện đúng những điều quy định không" [39, tr. 374].
- Có ý kiến chỉ coi "giám sát là một nhóm hoặc là một tổ chức để theo
dõi người, việc nào đấy" [43, tr. 230].
- Với cách tiếp cận mang tính hệ thống, tính khoa học pháp lý, có ý
kiến lại cho rằng:
Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ
động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện
pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của các đối tượng chịu
sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được những mục
đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân
thủ nghiêm chỉnh [42, tr. 174].
Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ‎ý nghĩa của từ "giám sát" có khác
nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là
việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó trong một công việc,
lĩnh vực cụ thể đã thực hiện đúng hay chưa những điều đã quy định; từ đó có
biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với những hành vi sai lệch, nhằm đạt
được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, đảm bảo cho các quy định được
thực hiện đúng và đầy đủ. 21
Với quan niệm trên giám sát có những đặc trưng sau:
- Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định. Tức là phải trả lời
được câu hỏi cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền theo dõi, xem xét, đánh giá
một việc đã được thực hiện là đúng hay sai những điều đã quy định?
- Giám sát luôn luôn gắn với một đối tượng nhất định. Tức là phải trả
lời được câu hỏi giám sát ai và giám sát việc gì?
- Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào
hoạt động giám sát. Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và
nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát.


ý phù hợp để khắc phục những hạn chế, phát huy mọi
tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, đảm bảo quốc
phòng an ninh; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Đặc điểm hoạt động giám sát của HĐND cấp xã
Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, quyền giám sát việc thực
hiện pháp luật thuộc về nhiều cơ quan, tổ chức: Quốc hội, Chủ tịch nước,
VKSND, TAND, HĐND, Đảng Cộng sản Việt Nam, MTTQ và các tổ chức
thành viên Trong đó, giám sát của HĐND cấp xã có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển của địa phương. Xuất phát từ vị trí, vai trò của
HĐND cấp xã và tính phong phú trong hoạt động giám sát, giám sát của
HĐND cấp xã có các đặc điểm sau:
- Đặc điểm về chủ thể giám sát
Theo Điều 57 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, giám sát của
HĐND cấp xã bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường
trực HĐND và giám sát của đại biểu HĐND.
- Đặc điểm về đối tượng giám sát
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, đối tượng giám sát
của HĐND cấp xã bao gồm:
+ Thường trực HĐND, UBND cùng cấp (Khoản 1, Điều 58). 23
+ Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND,
cán bộ chuyên môn của UBND cùng cấp (Khoản 2, Điều 58)
+ Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang nhân dân và công dân ở địa phương (Điều 1, Điều 42).
Như vậy, theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của HĐND cấp
xã rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị

thấy cần thiết.
Việc xem xét báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công
việc của mình là một hình thức giám sát quan trọng. Trên cơ sở đó HĐND
cấp xã có thể kiểm soát tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản
pháp luật cũng như nghị quyết của HĐND cấp xã trong thực tiễn đời sống xã
hội, tăng cường trách nhiệm cá nhân người đứng đầu UBND cùng cấp và các
ban ngành về công tác của họ trước HĐND.
Thứ hai: Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch
UBND, thành viên khác của UBND, cán bộ chuyên môn của UBND cùng cấp
Chất vấn là hoạt động giám sát đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền lực
của cơ quan dân cử ở địa phương. Tại kỳ họp, chất vấn là nội dung thu hút
được sự quan tâm của đông đảo nhân dân. Thông qua chất vấn, các đại biểu
thể hiện trách nhiệm của mình đối với cử tri. Đồng thời, qua việc trả lời chất
vấn, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng.
Theo quy định tại Điều 61 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003
thì tại kỳ họp việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện như sau:
+ Đại biểu HĐND ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào
phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực HĐND. Thường trực HĐND
chuyển chất vấn đến người bị chất vấn và tổng hợp các chất vấn của đại biểu
HĐND để báo cáo HĐND.
+ Thường trực HĐND dự kiến danh sách những người có trách nhiệm
trả lời chất vấn và báo cáo HĐND quyết định. 25
+ Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của HĐND được thực
hiện theo trình tự: Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung
mà đại biểu HĐND đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc
phục. Đại biểu HĐND có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn.
Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu HĐND không đồng ý với nội dung

trên; quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.
Có thể nói, hoạt động xem xét văn bản quy phạm pháp luật của
HĐND cấp xã có vai trò rất quan trọng. Qua hoạt động này, mới loại bỏ được
những văn bản pháp luật sai trái, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống
nhất của các văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ tư: Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, xét thấy cần
thiết phải xác minh, làm rõ một sự việc nào đó thì HĐND cấp xã có thể thành
lập Đoàn giám sát.
Điều 63, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: Khi thực
hiện nhiệm vụ giám sát do HĐND cấp xã giao, Đoàn giám sát có trách nhiệm:
+ Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu sự giám sát chậm nhất là bảy ngày trước ngày bắt đầu tiến hành
hoạt động giám sát.
+ Mời đại diện Ban thường trực Ủy ban MTTQ, các tổ chức thành viên
của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham
gia giám sát; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu này.
+ Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình
tự, thủ tục giám sát; không làm cản trở hoạt động bình thường đối tượng chịu
sự giám sát.
+ Trong trường hợp cần thiết, Đoàn giám sát yêu cầu các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi 27
phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu
cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.
Thứ năm: Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu
Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status